Bộ Y tế đã có công văn gửi UBND các tỉnh thành, bệnh viện và đơn vị sản xuất kinh doanh dược phẩm, đề nghị chủ động ứng phó, bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời thuốc với giá hợp lý; không để xảy ra tình trạng thiếu thuốc, gián đoạn nguồn cung, đầu cơ, găm hàng hoặc tăng giá bất hợp lý; chủ động đảm bảo nguồn cung thuốc phục vụ công tác khám chữa bệnh (KCB).
Theo đó, UBND các tỉnh, thành chỉ đạo sở y tế và các cơ quan liên quan theo dõi sát diễn biến thị trường, chủ động mua sắm, dự trữ thuốc và phương án điều tiết, đảm bảo cân đối cung – cầu thuốc trên địa bàn; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định về kinh doanh thuốc, quản lý giá thuốc; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; chỉ đạo các cơ sở sản xuất, xuất nhập khẩu, kinh doanh dược trên địa bàn đảm bảo cung ứng, không lợi dụng tình hình để đầu cơ, găm hàng, tăng giá thuốc và nguyên liệu làm thuốc trái quy định.
Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở KCB rà soát, đánh giá tình hình sử dụng, tồn kho và khả năng cung ứng thuốc theo từng nhóm, tập trung 4 nhóm thuốc: thuốc thiết yếu; thuốc cấp cứu, hồi sức tích cực; thuốc điều trị bệnh mạn tính, bệnh truyền nhiễm; thuốc phụ thuộc nguồn nhập khẩu… để có các phương án mua sắm, dự trữ thuốc phù hợp với quy mô hoạt động và mô hình bệnh tật.
Bộ Y tế lưu ý ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước đã được công bố đáp ứng yêu cầu điều trị, có nguồn cung ổn định để thay thế thuốc nhập khẩu có nguy cơ gián đoạn. Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế theo dõi, cảnh báo sớm nguy cơ thiếu thuốc; kịp thời báo cáo cơ quan quản lý khi có biến động.
Bộ Y tế đã chỉ đạo các cơ sở chủ động kế hoạch sản xuất, nhập khẩu, dự trữ; đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu và thuốc thành phẩm; hạn chế phụ thuộc vào một hoặc một số thị trường; tăng cường năng lực dự trữ, vận chuyển, phân phối; bảo đảm cung ứng liên tục, ổn định, nhất là đối với thuốc thiết yếu và thực hiện nghiêm quy định về quản lý giá thuốc: niêm yết giá và bán không cao hơn giá niêm yết; bán buôn thuốc kê đơn không cao hơn giá đã công bố hoặc công bố lại, theo quy định.
Đặc biệt, nghiêm cấm các hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá, tăng giá thuốc bất hợp lý. Trường hợp chi phí đầu vào tăng (nguyên liệu, thuốc nhập khẩu, vận chuyển, tỷ giá…), chủ động rà soát, tiết giảm chi phí không cần thiết để góp phần bình ổn giá thuốc. Ưu tiên bảo đảm cung ứng đầy đủ, đúng tiến độ theo hợp đồng đã ký với cơ sở KCB.
Bác sĩ chuyên khoa 1 Lê Cao Trí, Trung tâm Da - U máu, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, cho biết bức xạ tia cực tím (UV) là một trong những tác nhân gây hại phổ biến nhất cho da, đặc biệt vào mùa hè. Tiếp xúc kéo dài mà không bảo vệ đúng cách có thể gây cháy nắng, lão hóa sớm, tăng sắc tố như nám, tàn nhang, thậm chí làm tăng nguy cơ ung thư da. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới như Việt Nam, cường độ tia UV thường ở mức cao, vì vậy việc hiểu đúng cách chọn và sử dụng kem chống nắng là cần thiết với mọi lứa tuổi.
Theo khuyến cáo của Viện Hàn lâm Da liễu Mỹ (AAD), một sản phẩm chống nắng hiệu quả cần đáp ứng 3 tiêu chí: phổ rộng, SPF từ 30 trở lên và có khả năng chống nước. Trong đó, phổ rộng là yếu tố quan trọng nhất vì chỉ khi bảo vệ được cả tia UVA và UVB, sản phẩm mới giúp ngăn ngừa toàn diện cháy nắng, lão hóa và sạm da.
Kem chống nắng SPF 30 có thể chặn khoảng 97% tia UVB, nhưng không có sản phẩm nào bảo vệ tuyệt đối 100%. Khả năng chống nước đặc biệt cần thiết trong mùa nóng khi cơ thể dễ đổ mồ hôi hoặc tiếp xúc nước, với hiệu quả duy trì khoảng 40 - 80 phút tùy loại.
Việc lựa chọn sản phẩm cần phù hợp với từng loại da. Người da dầu hoặc da mụn nên ưu tiên sản phẩm “oil-free”, “non-comedogenic” để tránh bít tắc lỗ chân lông. Da khô nên chọn loại có thêm thành phần dưỡng ẩm. Với da nhạy cảm, kem chống nắng vật lý chứa zinc oxide hoặc titanium dioxide thường ít gây kích ứng hơn và nên tránh sản phẩm có hương liệu.
Hiện nay, kem chống nắng được chia thành 3 dạng: vật lý, hóa học và kết hợp (hybrid). Loại vật lý hoạt động bằng cách phản xạ tia UV, ít gây kích ứng; loại hóa học hấp thụ tia UV, kết cấu nhẹ, dễ tán; còn loại kết hợp mang đặc điểm của cả hai. Cả ba loại đều có thể bảo vệ hiệu quả nếu đáp ứng đủ các tiêu chí cơ bản. Tuy nhiên, không có sản phẩm nào thực sự không thấm nước hoàn toàn hoặc không thấm mồ hôi.
Để đạt hiệu quả tối ưu, kem chống nắng cần được bôi trước khi ra nắng ít nhất 15 phút. Về liều lượng, một người trưởng thành cần khoảng 30 ml để phủ toàn bộ vùng da không được che chắn. Riêng vùng mặt cần khoảng 1/4 muỗng cà phê, hoặc 1/2 muỗng nếu tính thêm cổ và tai.
Trong thực tế, nhiều người thường bỏ sót các vùng dễ tổn thương như tai, sau cổ, mu bàn chân, da đầu (đối với người tóc thưa) và môi. Những vị trí này cần được bôi đầy đủ để đảm bảo hiệu quả bảo vệ.
Ngoài ra, kem chống nắng cần được bôi lại sau mỗi 2 giờ khi ở ngoài trời, hoặc ngay sau khi bơi, đổ mồ hôi nhiều hay lau bằng khăn. Việc sử dụng hằng ngày cũng rất quan trọng, kể cả khi trời râm mát hoặc ở trong nhà gần cửa sổ, vì tia UVA vẫn có thể xuyên qua mây và kính.
Bác sĩ Lê Cao Trí nhấn mạnh, kem chống nắng là biện pháp quan trọng nhưng không nên sử dụng đơn lẻ. Để bảo vệ da hiệu quả trong mùa hè, cần kết hợp thêm các biện pháp che chắn như hạn chế ra nắng trong khung giờ cao điểm từ 10 - 14 giờ, đội mũ rộng vành, mặc quần áo chống nắng, đeo kính râm và sử dụng giày dép phù hợp.
Tuân thủ đúng nguyên tắc lựa chọn và sử dụng kem chống nắng không chỉ giúp phòng tránh cháy nắng trước mắt mà còn góp phần làm chậm lão hóa, giảm nguy cơ ung thư da và duy trì làn da khỏe mạnh lâu dài, đặc biệt trong bối cảnh tia UV ngày càng gia tăng.
Cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy, Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á TP.HCM, cho biết đứng đầu trong danh sách các loại vi khuẩn thường gây ngộ độc thực phẩm là Salmonella, một loại trực khuẩn gram âm có khả năng thích nghi cực cao. Chúng không chỉ tồn tại trong các thực phẩm tươi sống như gia cầm, trứng, sữa chưa tiệt trùng mà còn "ẩn mình" bền bỉ trong các môi trường khô hanh như sữa bột hay socola. Ngay cả khi thực phẩm được cấp đông, số lượng vi khuẩn có thể giảm đi nhưng chúng vẫn duy trì sức sống trong thời gian dài, chờ đợi cơ hội tấn công vật chủ. Người bị nhiễm khuẩn Salmonella có thời gian ủ bệnh kéo dài từ 6 giờ đến 48 giờ (thậm chí tới 4 ngày).
Bên cạnh đó, Escherichia coli (E. coli) là loại vi khuẩn thường lây qua thực phẩm nhiễm phân động vật hoặc do lây chéo từ tay người chế biến và dụng cụ bếp không sạch. Tùy chủng, E. coli có thể sinh độc tố hoặc xâm nhập trực tiếp vào ruột, gây xuất huyết nghiêm trọng và kéo dài bệnh đến 10 ngày.
Đáng lo ngại nhất về khả năng chịu nhiệt là tụ cầu vàng Staphylococcus aureus. Để phá hủy hoàn toàn độc tố do vi khuẩn này tạo ra, thực phẩm phải được đun sôi liên tục ít nhất 2 giờ. Đáng chú ý, tụ cầu vàng vẫn có thể tồn tại trong môi trường có nồng độ muối tới 15% hoặc hàm lượng đường cao. Các thực phẩm dễ nhiễm gồm thịt bảo quản không đúng cách, xà lách, khoai tây, trứng và các loại bánh kem.
Theo cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy, tùy thuộc vào thời gian ủ bệnh của các loại vi khuẩn đôi khi là vài tiếng hoặc thậm chí là vài ngày. Sau đó sẽ phát bệnh với các triệu chứng: Nôn ói, đau bụng, co thắt, chóng mặt, sốt, tiêu chảy có hoặc không kèm máu,… Đó là lý có những vụ ngộ độc thực phẩm mà ăn trong hôm trước qua 1-2 ngày sau mới xuất hiện các triệu chứng.
Sau loạt vụ ngộ độc thực phẩm gần đây, chuyên gia cảnh báo chỉ một sai sót nhỏ trong lựa chọn, chế biến hay bảo quản cũng có thể khiến vi khuẩn sinh sôi và gây hại cho sức khỏe.
Tủ lạnh - nơi chứa thực phẩm trong gia đình: Cần đạt đúng nhiệt độ tiêu chuẩn, được bảo trì định kỳ. Cần sắp xếp, phân chia sống chín phù hợp để tránh việc sinh sôi vi khuẩn, lây nhiễm chéo giữa các thực phẩm với nhau.
Nếu không ăn ngay sau khi nấu, thịt cần được làm nguội và bảo quản lạnh ở nhiệt độ tiêu chuẩn (0-4°C).
"Nấu chín đúng nhiệt độ không có nghĩa là an toàn vĩnh viễn. Việc để thức ăn chín trong nhiều giờ liền, kể cả sau khi đã nấu đạt chuẩn, vẫn tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển trở lại. Nhiệt độ vi khuẩn phát triển mạnh mẽ từ 5 đến 60°C", cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy khuyến cáo.
Gan nhiễm mỡ là tình trạng mỡ tích tụ trong tế bào gan, thường liên quan đến ăn uống dư thừa và ít vận động. Trong khi đó, máu nhiễm mỡ (rối loạn lipid máu) là tình trạng tăng cholesterol hoặc triglyceride trong máu.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ, gan nhiễm mỡ và máu nhiễm mỡ đều liên quan chặt chẽ đến lối sống không lành mạnh như ăn nhiều đường, ít vận động và thừa cân.
Tiến sĩ Rohit Loomba, bác sĩ tại Đại học California San Diego (Mỹ), cho biết gan nhiễm mỡ có thể tiến triển từ nhẹ đến viêm gan, xơ gan, thậm chí ung thư gan nếu không kiểm soát.
Trong khi đó, theo thông tin từ hệ thống y tế Mayo Clinic (Mỹ), máu nhiễm mỡ là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây xơ vữa động mạch, dẫn đến nhồi máu cơ tim và đột quỵ - những biến cố có thể xảy ra đột ngột và đe dọa tính mạng.
Gan nhiễm mỡ khiến tế bào gan bị “quá tải” mỡ, lâu dần gây viêm và sẹo hóa. Ngược lại, máu nhiễm mỡ làm cholesterol xấu (LDL) tích tụ trong thành mạch, hình thành mảng xơ vữa.
Tiến sĩ Erin Michos, bác sĩ tại Đại học Johns Hopkins (Mỹ), giải thích mỡ máu cao kéo dài sẽ âm thầm làm hẹp lòng mạch, đến khi mảng xơ vữa vỡ có thể gây tắc mạch ngay lập tức.
Trên thực tế, bệnh gan nhiễm mỡ và máu nhiễm mỡ cũng thường xuất hiện đồng thời, đặc biệt ở người thừa cân hoặc mắc hội chứng chuyển hóa.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sự kết hợp này làm tăng đáng kể nguy cơ bệnh tim mạch, tiểu đường loại 2 và tổn thương gan nặng.
Cả hai bệnh gan nhiễm mỡ và máu nhiễm mỡ đều có thể diễn tiến âm thầm trong thời gian dài, với các dấu hiệu:
Các chuyên gia khuyến cáo:
Cả gan nhiễm mỡ và máu nhiễm mỡ đều nguy hiểm nếu chủ quan. Điều quan trọng không phải là bệnh nào “đáng sợ hơn”, mà là phát hiện sớm và điều chỉnh lối sống để ngăn biến chứng về lâu dài.