Mục Lục
ToggleVới sự hợp tác trên, hai BV sẽ hội chẩn liên viện, phối hợp chuyên môn, chuyển tuyến; triển khai các chương trình chăm sóc răng miệng cho người cao tuổi, người có nhiều bệnh nền.
Đồng thời, có các khóa đào tạo liên tục và luân phiên cán bộ chuyên môn nâng cao năng lực chuyên sâu…; lồng ghép tư vấn, sàng lọc răng miệng trong chương trình khám sức khỏe người cao tuổi; ứng dụng nền tảng công nghệ thông tin để truyền thông và theo dõi sức khỏe răng miệng. Đặc biệt, cùng nghiên cứu khoa học về sức khỏe răng miệng và bệnh lý liên quan; xây dựng mô hình chăm sóc răng miệng tích hợp tại BV và cộng đồng.
Mới đây, BV Răng hàm mặt T.Ư Hà Nội đã tiến hành điều tra sức khỏe răng miệng cộng đồng tại tỉnh Bắc Ninh (thuộc khuôn khổ đề tài khoa học và công nghệ về nghiên cứu xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe răng miệng cộng đồng tại VN giai đoạn 2025 – 2030, triển khai tại 14 tỉnh, thành, bao gồm cả người trưởng thành và trẻ em).
Bắc Ninh là tỉnh đầu tiên triển khai nghiên cứu, với sự tham gia của khoảng 1.000 người dân địa phương. Thông qua khám, điều tra sức khỏe răng miệng; khảo sát kiến thức, hành vi chăm sóc sức khỏe răng miệng, nghiên cứu đánh giá xu hướng bệnh răng miệng trong cộng đồng; đồng thời thu thập mẫu nước sinh hoạt để xây dựng bản đồ fluor, làm cơ sở xây dựng hướng dẫn sử dụng fluor quốc gia và chiến lược chăm sóc sức khỏe răng miệng cộng đồng.
Kết quả đề tài sẽ cung cấp dữ liệu cho xây dựng chiến lược phát triển ngành răng hàm mặt VN, góp phần nâng cao sức khỏe răng miệng của người dân trong thời gian tới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Do đó, người mắc tiểu đường không chỉ cần kiểm tra đường huyết mà còn cả chức năng thận định kỳ. Tần suất kiểm tra không cố định mà điều chỉnh theo từng người, dựa trên nguy cơ và kết quả xét nghiệm trước đó, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Đối với người tiểu đường chưa có dấu hiệu tổn thương thận, khuyến nghị chung là nên kiểm tra thận ít nhất 1 lần/năm. Cụ thể, với tiểu đường loại 2, kiểm tra nên bắt đầu ngay từ khi được chẩn đoán. Còn với tiểu đường loại 1, thường bắt đầu kiểm tra sau khoảng 5 năm mắc bệnh.
Nếu kết quả xét nghiệm bình thường và các yếu tố nguy cơ được kiểm soát tốt, kiểm tra hằng năm là đủ. Tuy nhiên, nếu người bệnh có huyết áp cao, kiểm soát đường huyết kém hoặc đã mắc bệnh lâu năm, bác sĩ có thể chỉ định kiểm tra thường xuyên hơn.
Trong trường hợp đã xuất hiện dấu hiệu tổn thương thận, tần suất kiểm tra cần tăng lên để theo dõi sát tiến triển của bệnh. Nếu tổn thương mức độ nhẹ, chẳng hạn khi bắt đầu có albumin trong nước tiểu, người bệnh thường cần kiểm tra thận khoảng 2 lần/năm. Mục tiêu là theo dõi xem tình trạng có ổn định hay đang tiến triển.
Nếu bệnh nặng hơn, tức là vừa có albumin niệu vừa có suy giảm chức năng lọc rõ rệt, tần suất có thể tăng lên 3 - 4 lần/năm. Trong những trường hợp nguy cơ cao hoặc bệnh tiến triển nhanh, bác sĩ có thể yêu cầu kiểm tra 1 - 3 tháng/lần.
Ngoài ra, một điều quan trọng là không nên kết luận bệnh thận chỉ dựa trên 1 lần xét nghiệm bất thường. Một số yếu tố tạm thời như nhiễm trùng, mất nước hoặc vận động mạnh cũng có thể làm kết quả sai lệch.
Vì vậy, nếu phát hiện albumin trong nước tiểu, bác sĩ thường yêu cầu xét nghiệm lại 2 - 3 lần trong vòng vài tháng để xác nhận. Cách tiếp cận này giúp tránh chẩn đoán sai và đảm bảo quyết định điều trị được đưa ra dựa trên dữ liệu chính xác.
Kiểm tra thận định kỳ quan trọng vì nếu không phát hiện kịp thời, tổn thương thận có thể tiến triển âm thầm đến giai đoạn nặng. Khi đó, điều trị trở nên khó khăn hơn và có thể phải phụ thuộc vào lọc máu. Ngoài ra, bệnh thận do tiểu đường còn làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và tử vong, theo Medical News Today.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/nguoi-tieu-duong-nen-kiem-tra-than-bao-lau-mot-lan-185260411142303771.htm

TS Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế, cho biết, Bộ Y tế đang hoàn thiện, sớm ban hành đề án Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2035, với mục tiêu 100% tỉnh, thành kiện toàn mạng lưới cấp cứu ngoại viện theo chuẩn quốc gia.
"Theo đề án, các cơ sở y tế tham gia cấp cứu ngoại viện; Bộ Y tế phối hợp Bộ Tài chính xây dựng giá cấp cứu ngoại viện và thanh toán chi phí cấp cứu từ quỹ bảo hiểm y tế.
Bộ Công an triển khai sử dụng tổng đài một đầu số duy nhất, vận hành trung tâm tiếp nhận và xử lý thông tin khẩn nguy cấp tỉnh; phối hợp Bộ Y tế và các bộ, ngành xây dựng cơ chế điều phối liên ngành; các quy định về miễn trừ trách nhiệm cho người tham gia cấp cứu tại hiện trường...".
Ông Đức cho biết tại hội thảo xin ý kiến về đề án Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 - 2030 được Bộ Y tế tổ chức ngày 17.4.
Theo ông Đức, hệ thống cấp cứu sẽ ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong tiếp nhận, điều phối và quản lý hoạt động cấp cứu ngoại viện. Trong năm 2026 sẽ triển khai nền tảng quản lý hệ thống cấp cứu ngoại viện toàn quốc, kết nối các cơ sở cấp cứu ngoại viện tại T.Ư và địa phương, công lập và ngoài công lập.
Đồng thời tăng cường phối hợp liên ngành trong cấp cứu ngoại viện, trong đó lực lượng y tế - phòng, cháy chữa cháy, cứu hộ cứu nạn, Bộ Công an đóng vai trò nòng cốt; 100% tỉnh, thành có nội dung phối hợp liên ngành y tế - công an về triển khai cấp cứu ngoại viện.
Tại hội thảo, theo đại diện Bộ Công an, dự kiến, khi hoàn thiện hệ thống, các xe cứu thương sẽ gắn định vị và kết nối với hệ thống giao thông thông minh, để đảm bảo đơn vị điều phối kết nối nhanh nhất với xe cứu thương tiếp nhận người bệnh; và trường hợp có ùn tắc giao thông, hệ thống giao thông thông minh sẽ mở làn xanh hỗ trợ vận chuyển cấp cứu được thông suốt, rút ngắn thời gian người bệnh được đến đơn vị tiếp nhận, tăng cơ hội được cấp cứu, điều trị, cứu sống.
Theo Bộ Y tế, tại Việt Nam, các tổng đài tiếp nhận và điều phối thông tin cấp cứu ngoại viện tiếp nhận gần 1 triệu cuộc gọi mỗi năm, trong đó có khoảng 10 - 20% số cuộc gọi được xác định có nhu cầu cấp cứu; 91% số cuộc gọi cấp cứu được đáp ứng kịp thời. Tỷ lệ cứu sống người bệnh tăng lên, đặc biệt trong các tình huống nguy kịch như ngừng tuần hoàn, tai nạn giao thông, thảm họa, thiên tai.
Hiện chưa có sự điều phối tổng thể về hệ thống cấp cứu ngoại viện trên toàn quốc; việc điều phối triển khai hoạt động rời rạc, phân mảnh theo từng ngành (y tế, công an, phòng cháy chữa cháy…), từng địa phương. Hệ thống cấp cứu ngoại viện mới chỉ đáp ứng được dưới 10% nhu cầu cấp thiết (đột quỵ, tai nạn).
Thời gian phản ứng trung bình cấp cứu ngoại viện trong khoảng 10 đến trước 20 phút; 15% người bệnh được đội cấp cứu tiếp cận từ 20 - 60 phút, cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế là không quá 8 phút (ở đô thị), tối đa không quá 15 phút (nông thôn), trong khi các tình huống thường gặp nhất khi cấp cứu ngoại viện là đột quỵ, suy hô hấp, và chấn thương do tai nạn giao thông, là các cấp cứu y tế nguy hiểm, có thể gây tử vong hoặc di chứng nặng nề, đòi hỏi xử lý nhanh chóng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Sức Khỏe
Nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể gây ung thư dạ dày, phòng lây nhiễm thế nào?

Nỗi lo này càng tăng lên khi được giải thích rằng đây là các thương tổn tiền ung thư dạ dày.
Tuổi Trẻ Online xin giới thiệu ý kiến của GS.TS Trần Thiện Trung về mối liên quan và cách phòng bệnh.
Viêm dạ dày do nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể đưa đến viêm teo niêm mạc, dị sản ruột, loạn sản.
Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng của ung thư dạ dày, đặc biệt là ở những chủng H. pylori có biểu hiện với gene cagA và vacA-dương tính, trong đó gene vacA m1 có liên quan đến mức độ biệt hóa của ung thư, đến viêm teo niêm mạc và dị sản ruột trên người bệnh Việt Nam ở khu vực phía Nam và TP.HCM.
Vi khuẩn H. pylori được Robin Warren và Barry Marshall tìm ra tại Perth, phía Tây Úc vào tháng 4-1982, kể từ đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vi khuẩn này gây bệnh trên người.
Ngày 3-10-2005, sau 23 năm phát hiện vi khuẩn H. pylori, hai giáo sư người Úc là Robin Warren và Barry Marshall được trao giải Nobel Y học và Sinh lý học vì đã có những khám phá to lớn cho khoa học về vi khuẩn H. pylori gây bệnh viêm dạ dày, loét dạ dày - tá tràng và ung thư dạ dày.
Năm 1994, Tổ chức Quốc tế nghiên cứu về ung thư (IARC: International Agency for Research on Cancer), và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xếp H. pylori là nguyên nhân hàng đầu hay là nhóm 1 gây ung thư biểu mô tuyến dạ dày.
Theo phân loại viêm dạ dày của hệ thống Sydney (1990) và Sydney cập nhật (1994) tại Houston, Texas, Hoa Kỳ, cập nhật các tiêu chuẩn về sự phân chia các mức độ và các thương tổn của viêm dạ dày có hoặc không kèm theo viêm teo niêm mạc cũng như các thương tổn “tiền ung thư” khác như: dị sản ruột/chuyển sản ruột (intestinal metaplasia) và loạn sản/nghịch sản (dysplasia).
Các thương tổn trên được coi là tiền ung thư nhưng không phải tất cả đều gây bệnh ung thư dạ dày. Trên thế giới, liên quan giữa bệnh nhân có dị sản ruột hay chuyển sản thì nguy cơ ung thư dạ dày sẽ tăng lên gấp 6 -10 lần. Tại Việt Nam, tỉ lệ này là 5,3 lần.
Về chẩn đoán các thương tổn tiền ung thư dạ dày cần phải dựa trên mô bệnh học niêm mạc dạ dày (giải phẫu bệnh), nội soi chỉ có tính gợi ý quan sát. Vì vậy ghi chẩn đoán các thương tổn trên ở đơn thuốc ngay sau khi nội soi dạ dày là chưa chính xác, điều đó làm cho người bệnh thêm lo lắng, hoang mang.
Điều trị tiệt trừ H. pylori thành công có thể ngăn ngừa được sự tiến triển thành ung thư dạ dày, các thương tổn viêm teo niêm mạc, tiền ung thư đều giảm, và có khả năng phục hồi bình thường của niêm mạc dạ dày.
Tuy nhiên đối với ung thư dạ dày, một vấn đề quan trọng đặt ra cho đến nay là còn chưa biết rõ tiến trình viêm teo niêm mạc - dị sản ruột - loạn sản - ung thư dạ dày xảy ra khi nào, vào thời điểm nào, và sau khi điều trị tiệt trừ H. pylori thì có thay đổi, đảo ngược được tiến trình này hay không? Có thể phòng ngừa hoàn toàn được ung thư dạ dày hay không?
Vì vậy cần có những nghiên cứu tiếp tục theo nhiều hướng khác nhau, và người bệnh cần phải được theo dõi lâu dài để làm sáng tỏ thời điểm, nguồn gốc phát sinh cũng như các điều kiện để viêm dạ dày tiến triển thành các thương tổn tiền ung thư và ung thư dạ dày như đã được biết đến trong những nghiên cứu của các thập kỷ qua.
Cách ăn uống đúng cách có vai trò quan trọng trong phòng bệnh, vì phòng bệnh hiệu quả hơn chữa bệnh. Với các bệnh dạ dày, mục tiêu chữa trị không chỉ là hết triệu chứng mà còn giúp người bệnh ăn uống trở lại bình thường.
Để làm được điều này, mỗi gia đình từ ông bà, cha mẹ đến con cháu cần biết và quyết tâm thay đổi thói quen ăn uống. Vì dùng đũa, muỗng (thìa) của mình đang ăn để lấy/gắp thức ăn chung hoặc lấy thức ăn cho người khác, uống chung... là nguồn lây bệnh chủ yếu.
Tùy điều kiện sinh hoạt, có thể áp dụng cách ăn uống phù hợp nhằm hạn chế nguy cơ lây nhiễm và tái nhiễm vi khuẩn H. pylori.
- Cách thứ nhất: Dọn mỗi người một phần ăn riêng hoặc một khay ăn riêng như ở Pháp, Nhật Bản..., và gần đây đang được áp dụng tại Việt Nam.
- Cách thứ hai: Ngồi ăn chung, mỗi người một chén nước chấm riêng, mỗi món ăn có muỗng chung, đũa chung để lấy thức ăn, không dùng đũa/muỗng mình đang ăn gắp/lấy thức ăn.
- Cách thứ ba: Cách ăn ở một số nơi là dùng đũa gắp/lấy thức ăn chung, và dùng muỗng/thìa của mình để ăn.
- Cách thứ tư: Cách ăn dọn từng món của người Pháp và các nước tiên tiến gần đây được dùng trong các nhà hàng Việt Nam.
- Cách thứ năm: Khi ăn chung, gắp thức ăn chung, phải trở đầu đũa hay còn gọi là “ăn đũa hai đầu”.
Bên cạnh đó, sinh hoạt ăn uống điều độ, đúng giờ. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, thức ăn rau sống rửa không sạch, nên nấu chín. Ăn nhiều rau xanh, trái cây, hạn chế ăn mặn, thịt cá ướp muối, hun khói, thực phẩm được bảo quản bằng nitrat…
Trong khi điều trị ở giai đoạn viêm dạ dày cấp, có thể hạn chế các thức ăn cay, chua. Sau điều trị cần cho người bệnh ăn uống bình thường.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

