Sự kiện không chỉ mang ý nghĩa chuyên môn, đây còn là bước tiến trong hành trình phát triển của y học Việt Nam, nhằm đem lại cơ hội điều trị tốt hơn cho bệnh nhân trong nước lẫn quốc tế.
Đầu tháng 4-2026, PGS Vương Thị Ngọc Lan – Phó hiệu trưởng kiêm Trưởng bộ môn phụ sản, ĐH Y Dược TP.HCM và ThS Lê Hoàng Anh – Trưởng labo Bệnh viện Mỹ Đức – lên đường sang Pháp để trực tiếp hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật trưởng thành noãn trong ống nghiệm (IVM 2 pha) tại Bệnh viện Saint Joseph, TP Marseille.
Giữ vai trò Giám đốc khoa học của chương trình hợp tác nghiên cứu tại Pháp, PGS Ngọc Lan chia sẻ: “Đây là lần đầu tiên tôi trực tiếp tham gia chuyển giao kỹ thuật IVM 2 pha cho Pháp vì nhiều lý do. Trước hết là tâm huyết của đồng nghiệp Pháp trong việc tìm kiếm một lựa chọn điều trị mới, an toàn, hiệu quả, thuận tiện và ít xâm lấn cho bệnh nhân.
Bên cạnh đó, người bệnh tại Pháp cũng đặt nhiều kỳ vọng vào kỹ thuật này. Với tôi, việc hướng dẫn trực tiếp tại chỗ luôn có giá trị khác biệt so với đào tạo lý thuyết, giúp đội ngũ bác sĩ tự tin, thuần thục hơn khi triển khai trong thực hành”.
Cách đây bốn năm, các bác sĩ Pháp đã đến Việt Nam để tham quan và học tập mô hình IVM 2 pha. Sau khi trở về nước, họ đã chuẩn bị các thủ tục hành chính, đầu tư máy móc cũng như lên danh sách bệnh nhân để kịp triển khai kỹ thuật mới với sự giúp sức của đoàn bác sĩ Việt Nam.
Chia sẻ với Tuổi Trẻ, bác sĩ Isabelle Koscinski – bác sĩ sinh học của Bệnh viện Saint Joseph – bồi hồi nhớ lại quyết định táo bạo của mình: “Phải đến Việt Nam tìm PGS Lan học tập mô hình IVM 2 pha”. Đó là lời khuyên chân thành mà bà nhận được từ vị GS người Bỉ Johan Smitz khi bà đề cập đến những trăn trở trong ngành hỗ trợ sinh sản.
Mùa thu năm 2021, bác sĩ Koscinski chính thức gia nhập vào đội ngũ hỗ trợ sinh sản của Bệnh viện Saint Joseph. Những tháng đầu tiên nhận nhiệm vụ, bà học cách quan sát, thích nghi, làm quen với một hệ thống đã vận hành ổn định nhiều năm. Tuy nhiên có một câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu: liệu kỹ thuật IVM có thể làm tốt hơn những gì đang có?
Ở Pháp, IVM không phải là điều gì mới mẻ. Tuy nhiên bác sĩ Koscinski vẫn chưa thực sự thuyết phục với kết quả từ các phương pháp tiêu chuẩn, cả về hiệu quả lẫn cách tiếp cận sinh học. Đó không phải là sự phủ nhận mà là sự trăn trở của một bác sĩ được đào tạo chuyên sâu trong mảng hỗ trợ sinh sản. Bà nhận thấy vẫn còn một khoảng trống cần được lấp đầy.
Câu trả lời đến với bác sĩ Koscinski khi bà tham dự hội nghị ESHRE diễn ra ở Milan (Ý) vào tháng 7-2022. Khi nghe ThS.BS Hồ Mạnh Tường của Việt Nam trình bày về phác đồ cũng như kết quả IVM 2 pha đã khiến bà “chậm lại một nhịp”. Không chỉ vì kết quả, bác sĩ Koscinski nhận ra một triết lý điều trị khác: giảm can thiệp hormone nhưng vẫn tối ưu hóa chất lượng noãn.
Trở về Pháp, bác sĩ Koscinski bước vào giai đoạn gần như “tự đào sâu” về kiến thức IVM 2 pha. Bà đọc toàn bộ các công bố liên quan, đối chiếu dữ liệu và tìm cách hiểu tận gốc phương pháp này.
Sau đó bà trao đổi với GS Smitz để định hình con đường mà bà sẽ đi. “Tôi đã thuyết phục ban giám đốc của bệnh viện hỗ trợ chi phí đào tạo để tham gia học mô hình IVM 2 pha tại Việt Nam vào tháng 10-2022”, bà vui mừng kể.
Nếu hành trình học lý thuyết của bác sĩ Koscinski diễn ra trong thời gian ngắn thì quá trình đưa kỹ thuật về Pháp lại kéo dài bốn năm với nhiều thách thức. Để bắt đầu một kỹ thuật mới, đội ngũ bác sĩ Pháp phải xây dựng gần như toàn bộ hành lang pháp lý đi kèm.
Bà chia sẻ: “Khi triển khai dự án nghiên cứu OPKAPAMIV, dự kiến tuyển 30 bệnh nhân trong vòng ba năm, chúng tôi phải được Cơ quan Quản lý dược quốc gia phê duyệt, cũng như được Ủy ban Bảo vệ người tham gia nghiên cứu chấp thuận.
Ngoài ra, toàn bộ hoạt động hỗ trợ sinh sản tại Pháp đều chịu sự giám sát của Cơ quan Sinh học y học nên chúng tôi cần có sự đồng thuận từ cơ quan này. Khi bệnh viện triển khai kỹ thuật IVM 2 pha mới, chúng tôi phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của dự án nghiên cứu”.
Song song đó, đội ngũ nghiên cứu hợp tác quốc tế của bác sĩ Koscinski được hình thành gồm: Nhóm Bỉ (GS Smitz và cộng sự) cung cấp nền tảng khoa học và môi trường nuôi cấy. Nhóm Việt Nam (PGS Lan và ThS Hoàng Anh) đảm nhiệm việc hỗ trợ kỹ thuật. Nhóm Pháp (bác sĩ Koscinski và cộng sự) phụ trách tuyển chọn và chuẩn bị bệnh nhân cũng như chuyên môn về kỹ thuật đông lạnh noãn.
Khó khăn tiếp theo chính là khoảng cách khá xa giữa phòng mổ và phòng labo. Điều này buộc bệnh viện phải thiết kế một “trạm điều nhiệt” kèm kính hiển vi phóng đại được đặt ngay tại phòng mổ để xử lý noãn sau chọc hút.
Sau bốn năm chuẩn bị, vào tháng 4-2026, mọi thứ mới thực sự bắt đầu. Bốn ca chọc hút noãn đầu tiên được thực hiện trong hai ngày 8 và 9-4 tại Bệnh viện Saint Joseph với sự tham gia trực tiếp của đội ngũ bác sĩ Việt Nam.
Bác sĩ Koscinski xúc động kể: “Khi những phức hợp noãn đầu tiên được thu nhận thành công, cả ê kíp nhận ra một khoảnh khắc rất đặc biệt vì bệnh nhân không cần kích thích buồng trứng bằng hormone mà vẫn lấy được noãn.
Với bệnh nhân, đó là lựa chọn nhẹ nhàng nhưng với chúng tôi, thử thách này khó nhằn hơn. Mọi người đều hồi hộp chờ kết quả từng ngày từ phòng labo cho đến khi chuyển phôi. Chúng tôi dự kiến chuyển phôi vào tháng sau nếu có phôi chất lượng tốt”.
Bác sĩ Koscinski khẳng định sự hỗ trợ kỹ thuật từ các đồng nghiệp Việt Nam là yếu tố then chốt giúp khởi động thành công dự án nghiên cứu OPKAPAMIV.
Bác sĩ Nguyễn Trọng Nghĩa - khoa da liễu và bỏng, Bệnh viện Bạch Mai - cho hay da chuyển màu vàng thường khiến nhiều người lo lắng đến các bệnh lý gan mật.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, đây có thể là biểu hiện của carotenoderma (carotenaemia) - tình trạng lành tính do tăng nồng độ carotene trong máu, chủ yếu liên quan đến chế độ ăn uống.
Mới đây, bác sĩ Nghĩa thăm khám cho một phụ nữ đến khám vì da lòng bàn tay và bàn chân hai bên chuyển màu vàng. Sau khi thăm khám, thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán cho thấy người bệnh không có triệu chứng cơ năng hay dấu hiệu thần kinh khu trú. Kết quả xét nghiệm cho thấy men gan và bilirubin trong giới hạn bình thường, nhưng nồng độ β-carotene tăng cao.
"Qua khai thác tiền sử, người bệnh chia sẻ có thói quen ăn củ sâm đất liên tục trong nhiều ngày. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vàng da ở tay, chân của bệnh nhân", bác sĩ Nghĩa nhận định.
Bác sĩ Nghĩa giải thích β-carotene cùng các carotenoid khác như alpha-carotene, lycopene, lutein là những sắc tố tự nhiên có trong nhiều loại rau củ quả màu vàng, cam và xanh đậm như cà rốt, bí đỏ, khoai lang, cà chua hay rau lá xanh.
Đây là tiền chất của vitamin A. Sau khi hấp thu tại ruột non, một phần carotene được chuyển hóa thành retinol ở niêm mạc ruột và gan. Khi lượng carotene trong máu tăng cao, sắc tố này sẽ lắng đọng ở lớp sừng và mô mỡ dưới da, gây hiện tượng da đổi màu vàng cam.
Tình trạng này thường gặp ở trẻ nhỏ ăn nhiều thức ăn xay từ cà rốt, bí đỏ, khoai lang; người ăn chay, ăn kiêng kéo dài; người thường xuyên sử dụng nước ép rau củ.
Ngoài ra, một số bệnh lý có thể làm tăng nguy cơ như đái tháo đường, suy giáp, bệnh gan, bệnh thận hoặc chán ăn tâm thần.
"Nguyên nhân có thể do carotenemia nguyên phát; do ăn quá nhiều thực phẩm hoặc dùng thực phẩm bổ sung giàu carotene; hoặc carotenemia thứ phát có liên quan đến giảm chuyển hóa carotene thành vitamin A hoặc tăng lipid máu.
Ngoài ra có thể do carotenemia chuyển hóa hiếm gặp, do rối loạn bẩm sinh trong chuyển hóa carotene", bác sĩ Nghĩa cho hay.
Người bệnh có biểu hiện điển hình là da có màu vàng cam, xuất hiện rõ ở lòng bàn tay, bàn chân, rãnh mũi - má. Màu sắc đậm hơn ở vùng da dày, nhiều tuyến mồ hôi.
Tuy nhiên, củng mạc mắt không vàng (dấu hiệu quan trọng để phân biệt với vàng da do bệnh gan), không ngứa, không có triệu chứng toàn thân. Màu da có thể rõ hơn dưới ánh sáng nhân tạo.
Nếu xuất hiện tình trạng da đổi màu bất thường hoặc khó phân biệt với các bệnh lý gan mật, người bệnh nên đi khám chuyên khoa để được đánh giá chính xác.
"Ung thư tuyến giáp đang trở thành một vấn đề nổi lên trong hệ thống y tế, không phải vì tỷ lệ tử vong cao, mà vì sự gia tăng nhanh chóng về số ca mắc và những thách thức trong quản lý hợp lý", TS Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết tại hội thảo Cập nhật phương pháp điều trị, đánh giá tổn thương do ung thư tuyến giáp và liệu pháp hormone, hôm 4/4 tại Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc.
Việt Nam ghi nhận khoảng 6.100–6.200 ca mắc mới ung thư tuyến giáp, 850–900 trường hợp tử vong mỗi năm. Căn bệnh đứng trong top 10 ung thư phổ biến, đặc biệt ở nữ giới. Tỷ lệ nữ mắc bệnh cao gấp khoảng 3-4 lần nam giới.
Đặc biệt tỷ lệ mắc tăng nhanh trong 20 năm qua. Ví dụ tại TP.HCM, tăng từ 2,4 lên 7,5/100.000 dân (1996–2015), với tốc độ tăng trung bình khoảng 8,7%/năm. Mới nhất, tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM năm 2025, ung thư tuyến giáp chiếm 23% trong hơn 42.000 ca mới, tiếp theo là ung thư vú (18,1%).
"Đây là một trong những mức tăng nhanh nhất trong các loại ung thư", ông Khoa nói, thêm rằng khác với các ung thư như gan, phổi hay dạ dày, ung thư tuyến giáp có những đặc điểm rất đặc biệt. Tỷ lệ mắc tăng nhanh nhưng tử vong thấp, là ung thư có tiên lượng tốt nhất trong nhiều loại ung thư với tỷ lệ sống 5 năm trên 90% nếu phát hiện sớm.
Theo các nghiên cứu quốc tế, sự gia tăng tỷ lệ mắc chủ yếu do tăng phát hiện, không phải tăng thực sự bệnh lý. Ví dụ, tại Hàn Quốc, chỉ trong vòng 10 năm, tỷ lệ chẩn đoán ung thư tuyến giáp đã tăng 15 lần với hơn 40.000 người được phát hiện, tuy nhiên, không có khác biệt về số tử vong.
TS Dương Đức Bình, Bệnh viện K Tân Triều, cũng nhìn nhận thực trạng gia tăng nhanh chóng số ca phát hiện bướu giáp nhân, chủ yếu nhờ sự phổ biến của siêu âm độ phân giải cao. Tuy nhiên, thách thức hiện nay không còn nằm ở việc phát hiện, mà là làm sao phân biệt chính xác tổn thương lành tính và ác tính, từ đó tránh tình trạng chẩn đoán và điều trị quá mức.
Trong điều trị, xu hướng nổi bật hiện nay là chuyển từ "cắt toàn bộ tuyến giáp" sang tiếp cận cá thể hóa. Nhiều trường hợp ung thư tuyến giáp biệt hóa giai đoạn sớm có thể chỉ cần cắt thùy thay vì cắt toàn bộ, giúp giảm biến chứng, bảo tồn chức năng tuyến giáp và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh. Đồng thời, chiến lược theo dõi chủ động cũng đang được áp dụng cho một số trường hợp ung thư nguy cơ thấp.
Trong lĩnh vực y học hạt nhân, TS Bình cho biết, việc sử dụng I ốt 131 (I-131) hiện nay không còn mang tính đại trà mà được chỉ định dựa trên phân tầng nguy cơ. Bệnh nhân nguy cơ thấp thường không cần điều trị I-131, trong khi nhóm nguy cơ trung bình và cao sẽ được cân nhắc liều lượng phù hợp nhằm tối ưu hiệu quả và giảm tác dụng phụ.
Đáng chú ý, khoảng 5 - 15% bệnh nhân có thể tiến triển thành ung thư tuyến giáp kháng I-131 – một thách thức lớn trong điều trị. Với nhóm này, các liệu pháp nhắm trúng đích, đặc biệt là các thuốc ức chế tyrosine kinase, đang mở ra hướng điều trị mới, dựa trên phân tích đột biến gen như BRAF hay RET để cá thể hóa phác đồ. Bên cạnh đó, Việc phối hợp giữa chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, phẫu thuật và y học hạt nhân trong các Hội đồng Ung thư được xem là chìa khóa để đưa ra quyết định điều trị tối ưu cho từng bệnh nhân.
TS Khoa cho biết thêm Bộ Y tế xác định rõ ung thư tuyến giáp không phải là ưu tiên giảm tử vong, mà là ưu tiên quản lý hợp lý, tránh lạm dụng y tế. Cần chuyển từ "phát hiện càng nhiều càng tốt" sang "phát hiện đúng – điều trị đúng – quản lý phù hợp". Thời gian tới, Bộ Y tế định hướng giảm tỷ lệ phẫu thuật không cần thiết, giảm chỉ định siêu âm tràn lan, chuẩn hóa 100% cơ sở ung bướu áp dụng phân tầng nguy cơ, xây dựng hướng dẫn quốc gia cập nhật theo quốc tế và tăng tỷ lệ quản lý ngoại trú, theo dõi dài hạn.