Nhằm chung tay thúc đẩy thực hiện Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị, dưới sự chỉ đạo của Bộ Y tế, Báo Tuổi Trẻ phối hợp cùng Văn phòng Bộ Y tế và Sở Y tế TP.HCM công bố dự án: “Vì một Việt Nam khỏe mạnh”, với chuỗi hoạt động và sự kiện truyền thông với thông điệp: “Người dân khỏe mạnh là nền tảng của quốc gia thịnh vượng”
Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong 10 quốc gia Đông Nam Á, tuổi thọ nam giới Việt Nam xếp thứ 5, trong khi phụ nữ đứng thứ 2. Trong 15 năm qua, tuổi thọ trung bình của người Việt tăng từ 73,3 lên 73,7 tuổi.
Phía sau con số “sống lâu hơn” là thực trạng đáng lo ngại khi người Việt lại có số năm sống chung với bệnh tật khá cao so với nhiều nước trong khu vực. Trung bình, mỗi người có tới khoảng 10 năm sống trong tình trạng bệnh tật. Điều này làm suy giảm đáng kể chất lượng sống và rút ngắn quãng thời gian sống khỏe mạnh.
Thực tế này không chỉ tạo áp lực ngày càng lớn lên hệ thống y tế và an sinh xã hội, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận. Thay vì chỉ tập trung “chữa bệnh”, cần chuyển mạnh sang “chủ động phòng bệnh”, duy trì sức khỏe ngay từ sớm và liên tục trong suốt vòng đời, đúng theo tinh thần của Nghị quyết 72.
Trong một lần thăm khám sức khỏe miễn phí tại trạm y tế phường Hiệp Bình, bà N.T.T.H. (65 tuổi, phường Hiệp Bình) không khỏi bất ngờ khi bác sĩ phát hiện nhân giáp thùy phải, phân loại TIRADS 3 và TIRADS 2. Bà H. được bác sĩ tư vấn đến bệnh viện để làm thêm các xét nghiệm chuyên sâu để đánh giá kỹ hơn.
“Mọi thứ diễn ra hoàn toàn âm thầm, không đau đớn, không dấu hiệu báo trước. Chính những lần tầm soát tưởng chừng bình thường lại có thể giúp phát hiện sớm những điều quan trọng nhất, trước khi quá muộn để can thiệp”, bà H. nói.
Còn ông V.D.T. (ngụ phường Trung Mỹ Tây), ở tuổi 65 ông bảo rằng bản thân mình mắc nhiều bệnh nền như tim mạch, cơ xương khớp… Đều đặn mỗi tháng, ông đến bệnh viện gần nhà thăm khám, nhận thuốc bảo hiểm y tế. Đợt này, được khu phố vận động tham gia chương trình khám sức khỏe miễn phí.
Ngoài tầm soát tổng thể, ông được khám chuyên sâu về tim mạch. “Ở tuổi này, phải chủ động theo dõi bệnh, biết rõ tình trạng của mình để không để bệnh tiến triển nặng. Chứ để đến lúc bệnh nặng mới chữa thì vừa tốn kém, vừa khó điều trị”, ông T. chia sẻ.
Thực tế này phần nào được chứng minh trong đợt khám sức khỏe sàng lọc miễn phí quy mô lớn nhất từ trước đến nay của TP.HCM vào ngày 17-4 mới đây. Đã có gần 30.000 người dân được khám, trong đó 19.088 trường hợp có vấn đề sức khỏe (chiếm tỉ lệ 64,3%).
Đáng chú ý, nhóm bệnh lý mạn tính không lây như tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch… chiếm tỉ lệ cao nhất với 16.175 lượt khám. Qua sàng lọc, hơn 7.100 trường hợp cần được quản lý theo dõi lâu dài và gần 5.000 người cần tiếp tục điều trị.
PGS Nguyễn Anh Dũng, Phó Giám đốc Sở Y tế TP.HCM, cho hay thành phố là đô thị đặc biệt với quy mô dân số hơn 15 triệu người, mật độ dân cư cao, cơ cấu dân số đa dạng và mức độ di biến động lớn, dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng gia tăng.
Trong khi đó, mô hình bệnh tật đang chuyển dịch với gánh nặng kép giữa bệnh truyền nhiễm và bệnh không lây nhiễm, đặc biệt ở nhóm người cao tuổi.
Trước bối cảnh này, hệ thống y tế không chỉ tập trung vào điều trị khi người dân đã mắc bệnh mà cần chuyển sang mô hình quản lý sức khỏe toàn diện theo vòng đời, trong đó phát hiện sớm nguy cơ, sàng lọc sớm và quản lý sớm đóng vai trò then chốt.
Bà Hoàng Thị Diễm Tuyết – Giám đốc Bệnh viện Hùng Vương – lấy ví dụ điển hình về bệnh lý ung thư cổ tử cung ở nữ giới, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh dẫn đến tử vong.
Đáng nói chi phí điều trị hiện rất cao, đặc biệt giai đoạn cuối có thể lên tới 1 tỉ đồng mỗi ca, trong khi đó nếu phát hiện sớm chi phí điều trị chỉ khoảng 50 triệu đồng.
Ngoài ra, khi mắc bệnh sự mất mát phụ nữ trong gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến hạnh phúc gia đình, giáo dục trẻ em và nguồn lực lao động trong xã hội.
Ngành y tế TP.HCM xác định việc khám sức khỏe, tầm soát, sàng lọc và quản lý sức khỏe người dân là nhiệm vụ trọng tâm, mang ý nghĩa chiến lược lâu dài, song hành với hoạt động khám, chữa bệnh.
Thực hiện tinh thần Nghị quyết 72, ngành y tế TP.HCM đang triển khai đồng bộ các giải pháp theo hướng đưa dịch vụ y tế đến gần người dân, bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận chăm sóc sức khỏe, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Ngành y tế kêu gọi mỗi người dân hãy chủ động tham gia khám sức khỏe định kỳ, không chờ đến khi có bệnh mới đi khám. Chăm sóc sức khỏe không bắt đầu từ bệnh viện, mà bắt đầu từ ý thức chủ động của mỗi người dân.
Các vấn đề như mờ mắt, nhiễm trùng, tổn thương giác mạc hay bệnh võng mạc ngày càng phổ biến, đặc biệt khi tuổi tác tăng lên. Dù y học hiện đại có thể can thiệp bằng thuốc hoặc phẫu thuật, các bác sĩ nhấn mạnh rằng phòng ngừa vẫn là giải pháp hiệu quả nhất.
Dưới đây là 9 thói quen mà các bác sĩ nhãn khoa khuyên bạn nên tránh nếu muốn bảo vệ thị lực lâu dài.
Thói quen thứ nhất: Đeo kính áp tròng khi ngủ
Việc ngủ quên khi đang đeo kính áp tròng tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển mạnh trên bề mặt mắt. Điều này có thể dẫn đến nhiễm trùng, loét giác mạc, thậm chí tổn thương thị lực nghiêm trọng. Trừ khi là loại kính được cho phép đeo dài ngày, bạn nên tháo kính trước khi ngủ trong mọi trường hợp.
Thói quen thứ hai: Nhìn màn hình liên tục mà không nghỉ
Việc dán mắt vào điện thoại hoặc máy tính trong thời gian dài không chỉ gây mỏi mắt mà còn làm tăng nguy cơ cận thị, đặc biệt ở người trẻ. Các chuyên gia khuyến nghị áp dụng quy tắc 20:20:20, cứ 20 phút nhìn xa khoảng 6m trong 20 giây để giảm áp lực cho mắt.
Thói quen thứ ba: Trì hoãn khám mắt định kỳ
Nhiều bệnh lý về mắt tiến triển âm thầm mà không có triệu chứng rõ ràng. Việc khám mắt định kỳ, đặc biệt là kiểm tra giãn đồng tử, giúp phát hiện sớm các vấn đề như bệnh võng mạc do tiểu đường, đục thủy tinh thể hay tăng nhãn áp trước khi gây mất thị lực.
Thói quen thứ tư: Bỏ qua dấu hiệu bất thường của thị lực
Những biểu hiện như chớp sáng, xuất hiện nhiều "ruồi bay" hoặc cảm giác có màn che trước mắt có thể là dấu hiệu của rách hoặc bong võng mạc. Nếu không xử lý kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến mất thị lực vĩnh viễn.
Thói quen thứ năm: Không tẩy trang mắt trước khi ngủ
Trang điểm vùng mắt, đặc biệt là eyeliner và mascara, có thể làm tắc tuyến lệ và giảm khả năng bôi trơn tự nhiên của mắt. Nếu không được làm sạch, chúng có thể gây kích ứng, nhiễm trùng và khô mắt kéo dài.
Thói quen thứ sáu: Nhìn trực tiếp vào Mặt trời
Việc nhìn thẳng vào Mặt trời, kể cả trong thời gian ngắn, có thể gây tổn thương võng mạc không hồi phục. Ngay cả khi xảy ra hiện tượng thiên văn như nhật thực, việc sử dụng kính bảo vệ chuyên dụng là bắt buộc để tránh "bỏng võng mạc".
Thói quen thứ bảy: Hút thuốc lá hoặc thuốc lá điện tử
Hút thuốc không chỉ gây hại cho phổi mà còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nghiêm trọng về mắt như thoái hóa võng mạc hay đục thủy tinh thể. Ngoài ra khói thuốc còn gây kích ứng bề mặt mắt, dẫn đến khô mắt và tổn thương giác mạc.
Thói quen thứ tám: Rửa kính áp tròng bằng nước máy
Nước máy có thể chứa vi khuẩn và vi sinh vật gây hại cho mắt. Việc dùng nước này để vệ sinh kính áp tròng làm tăng nguy cơ viêm giác mạc, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa. Kính áp tròng cần được làm sạch bằng dung dịch chuyên dụng và thay đúng thời hạn.
Thói quen thứ chín: Ăn uống thiếu cân bằng
Chế độ ăn nhiều đường và chất béo không chỉ ảnh hưởng đến tim mạch mà còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về mắt, đặc biệt là biến chứng từ tiểu đường. Ngược lại, chế độ ăn lành mạnh, giàu rau xanh và dưỡng chất giúp bảo vệ thị lực và giảm nguy cơ bệnh lý.
Nhìn chung, nhiều tổn thương mắt bắt nguồn từ những thói quen rất phổ biến trong cuộc sống hằng ngày. Việc thay đổi hành vi, kết hợp với chăm sóc và kiểm tra định kỳ, có thể giúp duy trì thị lực khỏe mạnh lâu dài.
Với trẻ bị vẹo cột sống vô căn, trẻ không làm sai gì cả, nhưng vẫn phải chịu đựng sự lệch vai, lưng cong, có thể bị bạn bè trêu chọc, tự ti, hoặc hạn chế một số hoạt động. Đó chính là một dạng bất công mà nhiều trẻ phải đối mặt.
Chúng ta cần biết rõ nguyên nhân vẹo cột sống:
- Bẩm sinh: Mất nửa đốt sống, xẹp đốt sống.
- Mắc phải: U xơ thần kinh, di chứng bại liệt, di chứng lao cột sống, bệnh cơ - thần kinh…
- Vô căn: Chiếm tỉ lệ cao nhất từ 80-85%.
Một hình ảnh cho thấy cột sống bị cong vẹo
Trẻ bị vẹo cột sống (đặc biệt là vẹo cột sống vô căn) rất cần sự công bằng từ gia đình, nhà trường và xã hội.
Bệnh không phải do lỗi của trẻ (không phải vì ngồi sai tư thế hay lười vận động), mà chủ yếu là yếu tố di truyền và phát triển trong giai đoạn tăng trưởng.
Trẻ không "kém cỏi" hay "lười biếng", chỉ là cơ thể đang gặp vấn đề cần được hỗ trợ kịp thời và bình đẳng như những đứa trẻ khác.
Tâm lý và tự ti:
Nhiều trẻ cảm thấy xấu hổ vì vai lệch, lưng gù, xương sườn nhô, dáng người không cân đối. Chúng dễ bị bạn bè trêu chọc, chế giễu hoặc bị loại khỏi các hoạt động thể thao, dẫn đến stress, trầm cảm, ngại giao tiếp.
Nếu không được đối xử công bằng, trẻ sẽ càng khép mình, ảnh hưởng đến việc học và phát triển nhân cách.
Hạn chế vận động và sinh hoạt:
Trẻ có thể đau mỏi lưng, khó thở khi cong nặng, hoặc bị hạn chế tham gia chạy nhảy, thể dục. Nếu trường học hoặc gia đình không thông cảm, ví dụ bắt buộc tham gia đầy đủ các môn thể thao như trẻ khỏe mạnh, trẻ sẽ cảm thấy bất công và mệt mỏi hơn.
Ảnh hưởng lâu dài:
Nếu không được hỗ trợ sớm, bệnh tiến triển nặng có thể gây biến dạng lồng ngực, ảnh hưởng đến tim phổi, chiều cao và chất lượng cuộc sống sau này. Nhiều trẻ ở Việt Nam đến bệnh viện khi đã vẹo 60-80 độ vì cha mẹ và trường học chưa chú ý đúng mức.
Từ gia đình:
Cần được tư vấn cách phát hiện sớm và điều trị kịp thời từ bác sĩ chuyên khoa. Hỗ trợ tâm lý: lắng nghe con, khích lệ con rằng "con không có lỗi", bệnh có thể kiểm soát tốt nếu can thiệp sớm.
Tránh so sánh con với bạn bè hoặc trách móc con. Giúp con duy trì tư thế đúng, tập luyện đều đặn, ăn uống đủ dinh dưỡng (canxi, vitamin D) và theo dõi định kỳ.
Đồng hành cùng con trong quá trình đeo nẹp (có thể phải đeo 1623 giờ/ngày) - đây là giai đoạn trẻ rất cần sự động viên.
Từ nhà trường:
Giáo viên và bạn bè hiểu biết về bệnh, không trêu chọc, không ép buộc trẻ tham gia hoạt động gây khó khăn cho cột sống.
Cho phép trẻ ngồi bàn ghế phù hợp, nghỉ ngơi khi mỏi lưng, hoặc tham gia các hoạt động thay thế (bơi lội, yoga nhẹ nhàng rất tốt cho trẻ vẹo cột sống). Tổ chức sàng lọc vẹo cột sống định kỳ ở trường (nhiều nước làm vậy để phát hiện sớm).
Tiếp cận điều trị công bằng, bảo hiểm y tế chi trả một phần khám, nẹp, vật lý trị liệu và phẫu thuật. Hỗ trợ tâm lý và giáo dục sức khỏe cộng đồng để giảm kỳ thị với trẻ khuyết tật hình thể.
Các chương trình khám sàng lọc miễn phí hoặc hỗ trợ chi phí cho trẻ em khó khăn, đôi khi có từ bệnh viện hoặc tổ chức từ thiện. Theo dõi góc Cobb, đeo nẹp nếu cần, tập vật lý trị liệu theo phương pháp Schroth hoặc bài tập chuyên biệt.
"Trước đây, 3/4 bệnh nhân ung thư vú đến khám ở giai đoạn muộn, nhưng hiện nay, tỷ lệ này đã đảo ngược, với khoảng 3/4 bệnh nhân được phát hiện sớm, giúp tỷ lệ khỏi bệnh tăng cao", PGS Lê Hồng Quang, Trưởng khoa Ngoại vú, Bệnh viện K, nói tại Hội thảo quốc tế Ung thư vú năm 2026 với sự tham gia của hàng trăm nhà khoa học trong nước và các chuyên gia quốc tế hôm 22/4 tại Hà Nội.
Ung thư vú là một trong những bệnh ung thư thường gặp và có tỷ lệ tử vong cao. Theo GLOBOCAN 2022, Việt Nam ghi nhận 24.563 ca mắc mới, đứng đầu trong các loại ung thư ở nữ giới, chiếm 28,9%; số ca tử vong là 10.008. Đáng chú ý, so với nhiều quốc gia khác, tỷ lệ mắc bệnh ở người trẻ tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, đây là căn bệnh có thể điều trị khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng phương pháp.
Tỷ lệ bệnh nhân phát hiện bệnh sớm có do ý thức tầm soát bệnh. Ngoài ra những tiến bộ mới nhất trong sàng lọc, chẩn đoán cũng giúp phát hiện những tổn thương nhỏ nhất, giúp bệnh nhân được tiếp cận với điều trị sớm nhất.
GS.TS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K, cho hay bên cạnh việc chẩn đoán sớm được, điều trị ung thư vú tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Các kỹ thuật xạ trị hiện đại giúp giảm biến chứng, trong khi phẫu thuật tạo hình, tái tạo vú không chỉ phục hồi hình thể mà còn mang lại sự tự tin, ổn định tâm lý cho phụ nữ sau điều trị. Nhờ vậy, người bệnh không chỉ được kéo dài thời gian sống mà còn cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống.
Gần đây, trí tuệ nhân tạo (AI) cũng được tích hợp vào quá trình chẩn đoán và điều trị, hỗ trợ bác sĩ nâng cao độ chính xác, cập nhật kiến thức và xây dựng các phác đồ tham khảo. AI còn giúp việc hội chẩn đa chuyên khoa trở nên nhanh chóng, linh hoạt hơn. Nhờ những tiến bộ này, điều trị ung thư vú ngày càng được cá thể hóa, tối ưu hóa cho từng người bệnh.
Tại hội thảo, GS Anees B.Chagpar (Khoa Phẫu thuật, Trường Đại học Yale, Mỹ) cho biết, phẫu thuật ung thư vú hiện hướng tới hai mục tiêu chính. Thứ nhất là kiểm soát khối u, nếu như giai đoạn 1950-1960, bệnh nhân thường phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú thì hiện nay xu hướng là phẫu thuật bảo tồn, chỉ cắt một phần tuyến vú hoặc cắt rộng khối u. Trong tương lai, thậm chí có thể không cần phẫu thuật trong một số trường hợp.
Mục tiêu thứ hai là đánh giá và kiểm soát hạch bạch huyết. Trước đây, việc vét hạch nách được thực hiện rộng rãi nhưng hiện nay xu hướng chuyển sang sinh thiết hạch cửa. Nếu hạch âm tính thì không cần vét hạch, còn trong một số trường hợp dương tính vẫn có thể kiểm soát bệnh mà không cần can thiệp rộng. Trong tương lai, có thể tiến tới giảm thiểu hoặc loại bỏ cả sinh thiết hạch cửa ở một số nhóm bệnh nhân.
Phụ nữ được khuyến cáo nên tầm soát ung thư vú ở độ tuổi từ 40 trở lên. Dấu hiệu cảnh báo ung thư vú gồm: Sờ có khối u ở vú, hoặc vùng xung quanh như dưới nách; vú thay đổi về hình dạng và kích thước vùng da ở ngực; núm hoặc quầng vú xuất hiện vảy, đỏ hoặc sưng. Ngoài ra, các dấu hiệu khác như núm vú bị tụt, đau nhức; tiết dịch hoặc dịch có lẫn máu ở đầu vú.