Thứ hai đầu tuần vừa rồi, tôi ghé vào một quán phở quen trong khu phố. Quán nhỏ, sạch sẽ, khách ra vào đều đặn. Mọi chuyện vẫn bình thường cho đến khi một vị khách yêu cầu chủ quán cho thêm túi nilon để đựng bát phở mang về cho đỡ đổ. Chủ quán nhẹ nhàng giải thích rằng quán đang hạn chế sử dụng túi nilon, thay vào đó dùng hộp giấy và khuyến khích khách mang theo túi cá nhân.
Tưởng như chỉ là một lời từ chối đơn giản, nhưng câu chuyện lại kéo dài thành một cuộc cãi vã suốt gần 30 phút. Vị khách lớn tiếng cho rằng mình là người trả tiền, có quyền yêu cầu thêm túi đựng. Còn chủ quán cố gắng giải thích về việc giảm rác thải nhựa, mong muốn góp phần bảo vệ môi trường. Không ai chịu nhường ai.
Những thực khách xung quanh, trong đó có tôi, chỉ biết im lặng quan sát. Khi bước ra khỏi quán, trong tôi là một nỗi trăn trở: từ bao giờ túi nilon lại trở thành “vật bất ly thân” đến mức người ta sẵn sàng tranh cãi gay gắt chỉ vì không được phát thêm một chiếc túi?
Câu chuyện ấy không phải là cá biệt. Trong đời sống hằng ngày, túi nilon hiện diện ở khắp nơi: chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, quán ăn vỉa hè. Mua mớ rau có túi nilon, mua cốc nước cũng có túi nilon, mua vài chiếc bánh cũng được bọc trong hai, ba lớp túi. Thậm chí, nhiều người có thói quen xin thêm túi “cho chắc”, “cho khỏi đổ”, “cho sạch sẽ”. Dần dần, túi nilon trở thành một phần quen thuộc đến mức ít ai đặt câu hỏi: chúng ta thực sự cần bao nhiêu túi cho một ngày?
Sự tiện lợi của túi nilon là điều không thể phủ nhận. Nhẹ, rẻ, chống nước, dễ sử dụng – đó là những ưu điểm khiến nó được ưa chuộng. Với người bán hàng, túi nilon giúp đóng gói nhanh chóng, tiết kiệm chi phí. Với người mua, nó tạo cảm giác gọn gàng, sạch sẽ. Nhưng chính vì quá tiện lợi và quá rẻ, túi nilon bị lạm dụng một cách vô tội vạ.
>> Tôi phát bực vì mua một phần đồ ăn nhưng nhận về 10 túi nilon
Chúng ta dùng trong vài phút, vài giờ, rồi thản nhiên vứt bỏ. Trong khi đó, thời gian phân hủy của một chiếc túi nilon có thể kéo dài hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Điều đáng nói là nhiều người vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của rác thải nhựa. Những chiếc túi mỏng manh tưởng chừng vô hại ấy khi bị thải ra môi trường sẽ gây tắc nghẽn cống rãnh, ô nhiễm nguồn nước, làm đất mất khả năng thấm nước và không khí. Những mảnh nhựa vỡ ra thành vi nhựa, len lỏi vào chuỗi thực phẩm, cuối cùng quay trở lại bàn ăn của con người.
Thế nhưng, nghịch lý là dù biết tác hại, chúng ta vẫn khó từ bỏ. Bởi túi nilon đã trở thành một thói quen. Và thói quen, khi kéo dài đủ lâu, sẽ biến thành nhu cầu tưởng như thiết yếu. Vị khách cãi nhau trong quán phở có lẽ không nghĩ mình đang góp phần gây ô nhiễm môi trường. Ông chỉ nghĩ đơn giản: “Tôi cần một cái túi để xách cho tiện”.
Tôi từng chứng kiến ở nhiều siêu thị, dù đã có biển khuyến khích mang túi cá nhân, nhưng không ít người vẫn vui vẻ nhận thêm túi nhựa miễn phí. Có người thậm chí còn lấy dư vài chiếc “để dùng dần”. Trong khi đó, những chiếc túi vải, túi giấy, hộp đựng cá nhân – những giải pháp thay thế bền vững hơn – lại bị xem là phiền phức, tốn công mang theo.
Chúng ta thường nói về phát triển bền vững, về bảo vệ môi trường, về biến đổi khí hậu. Nhưng nếu ngay cả việc từ chối một chiếc túi nilon dư thừa cũng khó thực hiện, thì những mục tiêu lớn lao kia liệu có trở nên xa vời? Bảo vệ môi trường không chỉ là câu chuyện của chính phủ hay các tổ chức quốc tế. Nó bắt đầu từ những hành động rất nhỏ trong đời sống hằng ngày.
Ở một số quốc gia, túi nilon bị đánh thuế cao hoặc cấm sử dụng hoàn toàn tại các cửa hàng. Người dân buộc phải thay đổi thói quen, mang theo túi cá nhân khi đi mua sắm. Ban đầu có thể bất tiện, nhưng dần dần trở thành nếp sống mới. Còn ở Việt Nam, dù đã có nhiều chiến dịch kêu gọi hạn chế rác thải nhựa, việc thực thi vẫn còn nhiều hạn chế. Túi nilon vẫn được phát miễn phí tràn lan. Khi một món đồ không phải trả tiền, người ta dễ dàng sử dụng mà không cân nhắc.
Sự thay đổi nào cũng đi kèm xung đột. Nhưng nếu vì sợ xung đột mà chúng ta tiếp tục chiều theo thói quen cũ, môi trường sẽ là bên chịu thiệt thòi nhất. Trong khi đó, bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung, không ai có thể đứng ngoài. Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại cách mình tiêu dùng. Một chiếc túi nilon không làm thay đổi thế giới, nhưng hàng triệu chiếc mỗi ngày thì có.
Nhật AnhBa lớp túi nilon đựng một chùm hoa quả
‘Từ chối mua đồ siêu thị vì combo khay nhựa – màng bọc nilon’
Tôi đi siêu thị ở Đức không được cho túi nilon
Tôi sốc vì cả trăm túi nilon, đồ nhựa gia đình mình thải ra một tháng
Tôi từ chối mua khi cửa hàng tiện lợi quay nóng đồ ăn còn nguyên túi nilon
Tôi bị cười nhạo vì cái túi nilon đứt quai dùng một năm trời
Tôi 27 tuổi, đang làm văn phòng với mức lương bao gồm phụ cấp khoảng 15 triệu đồng một tháng. Áp lực từ công việc và ngày nào cũng ngồi trước máy tính từ sáng đến tối khiến tôi thấy mệt mỏi và chán nản.
Tôi bắt đầu có suy nghĩ muốn nghỉ việc để chuyển sang làm việc chân tay, làm thủ kho hoặc học một nghề kỹ thuật gì đó.
Lý do là tôi thấy những công việc này tuy vất vả nhưng rõ ràng, làm bao nhiêu ăn bấy nhiêu, không bị gò bó, không phải chịu áp lực deadline, họp hành hay những mối quan hệ nơi công sở. Tôi cũng cảm giác mình hợp với việc vận động hơn là ngồi một chỗ cả ngày.
Thu nhập từ lao động chân tay có thể không ổn định, lại phụ thuộc nhiều vào sức khỏe. Gia đình thì chắc chắn sẽ phản đối vì cho rằng tôi học hành, đi làm bây giờ bỏ ngang thì phí phạm.
Mọi người từng ở trong hoàn cảnh giống tôi hoặc đã ai chuyển đổi từ văn phòng sang việc chân tay cho tôi xin lời khuyên và kinh nghiệm. Xin chân thành cảm ơn.
Chiều hôm ấy, người yêu tôi gặp tôi với vẻ háo hức hiếm thấy. Vừa ngồi xuống, cô cẩn thận mở một chiếc hộp nhỏ, bên trong là một cây bút đen bóng. Cô đưa tôi xem, ánh mắt lấp lánh: "Em vừa được tặng đấy".
Tôi nhìn vài giây, rồi buột miệng, gần như theo phản xạ: "Anh tưởng gì... mấy loại này anh cũng được tặng vài cái rồi. Nhưng nói thật, chả cái nào dùng được. Viết không ra mực. Toàn bỏ xó, phí của, phí tiền".
Không khí chùng xuống gần như ngay lập tức. Cô khép hộp lại, động tác nhẹ nhưng dứt khoát. "Đây không phải bút để viết, đây là bút kỷ niệm". Tôi cười nhạt: "Đã là bút thì phải viết được chứ? Không viết được thì tặng làm gì?".
Cô nhìn thẳng vào tôi, không còn chút vui nào: "Anh lúc nào cũng thực dụng như thế à? Không phải cái gì cũng đo bằng việc dùng được hay không. Đây là sự trân trọng".
Tôi cũng bắt đầu khó chịu: "Anh không phủ nhận ý nghĩa. Nhưng tối thiểu nó phải làm đúng chức năng của nó chứ. Một cây bút viết được thì đâu có làm mất đi ý nghĩa?".
Cô lắc đầu, thở dài: "Vấn đề là anh không hiểu cảm xúc của em". Còn tôi thì nghĩ: vấn đề là cô đang bỏ qua một điều rất rõ ràng về công dụng của cây bút.
Cuộc nói chuyện dừng lại ở đó. Không ai thuyết phục được ai. Và rồi, từ một cây bút, chúng tôi giận nhau. Nhìn lại, tôi nhận ra câu chuyện này không chỉ là chuyện riêng của hai người. Nó giống như một lát cắt nhỏ của cách chúng ta nhìn nhận giá trị trong đời sống. Một bên sẽ nói như tôi: Đã là bút thì phải viết được. Không viết được thì dù mang danh nghĩa gì, cũng là một món đồ không trọn vẹn chức năng.
Nhưng một bên khác sẽ nói như cô ấy rằng giá trị của món quà không nằm ở công năng, mà nằm ở hoàn cảnh và ý nghĩa khi nó được trao. Đó là kỷ niệm, là sự trân trọng, không thể đo bằng chuyện "viết được hay không".
Chính sự khác biệt ấy lại dễ đẩy mọi chuyện đi xa hơn mức cần thiết. Bởi lẽ, trong một xã hội mà những giá trị biểu tượng ngày càng được đề cao, người ta có xu hướng chấp nhận rằng có những thứ "không cần dùng".
Trong khi đó, với nhiều người, đặc biệt là những trải nghiệm rất đời thường, một món đồ trước hết vẫn phải làm tốt chức năng của nó. Vậy thì câu hỏi đặt ra là: Một món quà mang tính nghi lễ có cần đảm bảo công năng cơ bản không? Hay chỉ cần "đúng ý nghĩa" là đủ? Và nếu người nhận thấy nó không dùng được, thì đó là lỗi của món quà hay chỉ là sự lệch nhau trong cách nhìn?
"Nói về chuyện camera an ninh của hàng xóm, tôi thấy nhiều người cứ thích làm quá lên rồi tự làm mình mệt.
Với tôi, quan điểm rất thoáng: Chỉ khi nào người ta cầm điện thoại xông thẳng vào nhà mình mà quay phim, chụp ảnh thì mới đáng để nói. Còn cái camera an ninh gắn cố định ở cửa, dù có quay bao quát luôn phần trước hay sau nhà mình thì cũng chẳng vấn đề gì.
Đã gọi là camera an ninh thì góc quay phải rộng mới hiệu quả. Thực tế, cái sân hay cái cổng là khu vực không gian mở, chứ có phải phòng ngủ hay phòng tắm đâu mà hở ra là sợ lộ quyền riêng tư?
Chẳng ai rảnh tới mức ngồi canh cái sân nhà hàng xóm cả ngày để xem có gì bí mật. Mà nói thẳng, cũng chẳng ai làm chuyện nhạy cảm ngay ngoài sân để mà phải sợ camera nhìn thấy.
Có cái camera hàng xóm bao quát giùm khu vực trước nhà, đôi khi trộm cắp nhìn vào còn nể nang không dám bén mảng tới. Lúc có sự cố hay mất đồ, chạy sang nhờ họ trích xuất dữ liệu hỗ trợ thì mới thấy cái lợi.
Miễn là đôi bên không có xích mích, đụng chạm gì thì việc họ lắp camera quay vào khuôn viên công cộng hay lối đi chung, tôi còn thấy cảm ơn không hết vì có người canh chừng hộ không công.
Chủ yếu vẫn là ăn ở với hàng xóm láng giềng sao cho tốt thì chả có gì phải lo lắng. Cứ suốt ngày soi xét, chửi bới nhau thì mới sinh ra nhiều thứ lộn xộn. Cứ nghĩ đơn giản cho nhẹ đầu".
Độc giả nickname hoanghai88tv nêu quan điểm như trên, sau câu chuyện Bức xúc vì hàng xóm 'chĩa camera an ninh vào nhà'.Đây cũng là câu chuyện của nhiều người: Hàng xóm chĩa camera bắt chuyển động thẳng vào nhà tôi.
Đồng quan điểm, độc giả Nam Le nói: "Bây giờ camera an ninh quá phổ biến rồi, góc nhìn rộng nên với đặc thù nhà ống, kiến trúc ở Việt Nam thì khó mà không vướng nhà hàng xóm.
Cá nhân tôi thấy không việc gì phải làm quá lên trong vấn đề này. Như hẻm nhà tôi, gần như 90% hộ dân đều gắn camera ngoài cổng, chưa kể camera an ninh do khu phố lắp.
Chính nhờ hệ thống camera dày đặc đó mà 5 năm trở lại đây xóm tôi không còn vụ trộm hay mất an ninh nào (so với xưa: mỗi năm có 1-2 vụ trộm cạy cửa phá khóa), chưa kể nhiều sự cố khác được phát hiện kịp thời".