Có một nghịch lý đang diễn ra tại các cổng dự án nhà ở xã hội phía bắc. Cùng một bộ hồ sơ mua nhà, nếu người lao động tự đi làm thì mất nhiều tháng và thường bị trả lại vì thiếu giấy tờ. Nhưng nếu trao cho nhóm môi giới đứng ngay trước dự án thì chỉ mất 4 – 7 triệu đồng và vài ngày là xong.
Con số này không phải giả thuyết mà là mức giá xử lý hồ sơ được Công an tỉnh Bắc Ninh công bố ngày 17.3 khi khởi tố 5 bị can về tội “làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tại dự án Thống Nhất Smart City.
Trước đó 3 tháng, Công an tỉnh Thái Nguyên cũng đã khởi tố một nhóm tương tự tại dự án khu dân cư Đại Thắng.
Khi việc làm sai lại nhanh và chắc chắn hơn việc làm đúng thì lỗi không nằm ở người chọn đường tắt mà nằm ở chính con đường chính ngạch.
Về mặt pháp lý, hành vi làm giả giấy xác nhận đối tượng, giấy xác nhận điều kiện thu nhập, đơn xác nhận tiền lương rồi hợp thức hóa hồ sơ mua nhà ở xã hội cấu thành tội “làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điều 341 bộ luật Hình sự năm 2015.
Khung cơ bản tại khoản 1 quy định phạt tiền từ 30 – 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm.
Khung tại khoản 2 nâng lên từ 2 đến 5 năm tù nếu thuộc một trong các trường hợp định khung tăng nặng như làm giả từ 2 đến 5 tài liệu, thu lợi bất chính từ 10 đến dưới 50 triệu đồng.
Khung tại khoản 3 là 3 đến 7 năm tù nếu làm giả từ 6 tài liệu trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên. Công an tỉnh Thái Nguyên đã khởi tố theo khoản 3 điều 341.
Vấn đề là khi người mua ký vào bộ hồ sơ do môi giới lập khống, biết rõ mình không đủ điều kiện mà vẫn nộp cho chủ đầu tư, họ cũng đã đồng phạm với vai trò người sử dụng tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Đây không phải là suy đoán mà là hệ quả trực tiếp từ cấu trúc tội danh ghép của điều 341. Giấc mơ an cư trong trường hợp này có thể kết thúc bằng một bản án treo hoặc một bản án tù giam tùy vào mức độ hiểu biết và sự thành khẩn khi bị phát hiện.
Nhưng tập trung toàn bộ sự chú ý vào người mua và nhóm môi giới sẽ là cách tiếp cận sai. Hồ sơ mua nhà ở xã hội không phải thứ người ta tự lập rồi tự phê duyệt.
Theo quy trình được quy định tại Nghị định 100/2024/NĐ-CP, đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 261/2025/NĐ-CP và Nghị định 54/2026/NĐ-CP, bộ hồ sơ phải đi qua ít nhất 3 lớp kiểm tra, gồm: chủ đầu tư tiếp nhận và đối chiếu điều kiện, Sở Xây dựng địa phương kiểm tra nhằm loại trừ việc một đối tượng được hỗ trợ nhiều lần và công an cấp xã phối hợp hậu kiểm thông tin thu nhập theo quy định mới tại Nghị định 54/2026.
Ba lớp kiểm tra đó, trên lý thuyết, đủ để một bộ hồ sơ khống không thể lọt qua. Thực tế lại cho thấy hàng trăm bộ đã lọt qua tại dự án Thống Nhất Smart City và dự án khu dân cư Đại Thắng.
Khi một cơ chế 3 lớp không chặn được hành vi được thực hiện công khai thì cơ chế đó chỉ tồn tại trên văn bản hoặc là có người ở một trong 3 lớp đã “nhắm mắt cho qua”.
Cả hai khả năng đều đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của cơ quan chức năng chứ không chỉ của nhóm môi giới bị khởi tố.
Chỉ thị số 34/CT-TTg ngày 11.12.2025 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định rất rõ nguyên tắc trách nhiệm. UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện chính sách phát triển, bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội trên địa bàn.
Bộ Xây dựng có trách nhiệm hướng dẫn, hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ hậu kiểm trên phạm vi cả nước và tổ chức kiểm tra chuyên đề. Bộ Công an có trách nhiệm chỉ đạo công an cấp xã xác nhận điều kiện thu nhập và điều tra các hành vi môi giới trái phép.
Cả 3 cấp đều được giao nhiệm vụ cụ thể. Thế nhưng từ tháng 12.2025 đến nay, chưa có địa phương nào công khai danh tính cán bộ Sở Xây dựng hoặc công an cấp xã đã ký xác nhận trên các bộ hồ sơ bị làm giả mà hàng trăm căn hộ đã được bán. Chưa có chủ đầu tư nào bị xử lý hành chính với lý do tiếp nhận hồ sơ không đủ điều kiện.
Một chính sách an sinh xã hội không thể chỉ được bảo vệ bằng việc khởi tố nhóm môi giới ở vòng ngoài. Nghị định 54/2026/NĐ-CP đã bổ sung cơ chế công khai danh sách người mua sau khi ký hợp đồng lên hệ thống thông tin quốc gia về nhà ở và thị trường bất động sản. Đồng thời giao công an cấp xã phối hợp hậu kiểm thu nhập trong các trường hợp cần thiết. Nhưng cơ chế hậu kiểm chỉ có ý nghĩa khi đi kèm một cơ chế truy trách nhiệm rõ ràng đối với người đã ký xác nhận sai.
Nếu một cán bộ xã ký xác nhận tình trạng nhà ở hoặc xác nhận thu nhập cho người không đủ điều kiện, hành vi đó có thể cấu thành tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điều 360 bộ luật Hình sự, hoặc tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điều 356 nếu có yếu tố vụ lợi.
Niềm tin vào chính sách an sinh xã hội không bị xói mòn bởi vài nhóm môi giới. Nó bị xói mòn khi người lao động thu nhập thấp sau khi tuân thủ đầy đủ quy định, vẫn nhìn thấy những căn hộ đáng lẽ dành cho mình được sang tay công khai với giá chênh lệch hàng trăm triệu đồng.
Một chính sách lớn không thể vận hành bằng những cú hích từ trên xuống mỗi khi có vụ việc nổi cộm. Nó phải vận hành bằng một cơ chế chịu trách nhiệm thường trực tại chính nơi bộ hồ sơ được ký xác nhận.
Từ 2 vụ án tại Bắc Ninh và Thái Nguyên, điều cần làm không phải là ban hành thêm chỉ thị hay thông tư. Cần làm ngay 3 việc cụ thể để thay đổi tình hình.
Thứ nhất là công khai trên cổng thông tin Sở Xây dựng danh tính đầy đủ của cán bộ đã ký xác nhận đối tượng và điều kiện thu nhập trên mỗi bộ hồ sơ được duyệt, kèm theo cơ chế khiếu nại của người dân.
Thứ hai là mở rộng điều tra các vụ án đã khởi tố theo hướng xem xét trách nhiệm hình sự của người ký xác nhận sai theo điều 360 hoặc điều 356 bộ luật Hình sự, không để dừng lại ở nhóm môi giới trung gian.
Thứ ba là bổ sung vào luật Nhà ở một điều khoản về trách nhiệm liên đới của chủ đầu tư khi tiếp nhận hồ sơ không đủ điều kiện, thay vì chỉ buộc người mua phải trả lại căn hộ.
Khi chịu trách nhiệm được phân bổ đều trên toàn bộ chuỗi xét duyệt, hành vi hợp thức hóa sẽ không còn chỗ để hình thành mặt bằng giá công khai như đã xảy ra.
Mục tiêu một triệu căn nhà ở xã hội đến năm 2030 không thể đạt được bằng những con số tiến độ trên báo cáo. Nó chỉ có ý nghĩa khi người công nhân thu nhập 8 triệu đồng/tháng tin rằng nếu mình tuân thủ đúng quy trình, mình sẽ có cơ hội.
Niềm tin một khi đã mất thì không thể khôi phục bằng cách khởi tố thêm vài nhóm môi giới mà chỉ có thể khôi phục bằng việc để người thu nhập thấp nhìn thấy cán bộ nào đã ký xác nhận sai phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hậu quả họ gây ra.
Đó không phải là một yêu cầu khắt khe mà là điều kiện tối thiểu để một chính sách an sinh xã hội giữ được tính chính danh.
Đến 17h ngày 22/4, Công an TPHCM phối hợp cùng các đơn vị có liên quan khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giữa ô tô tải và xe đạp khiến một nữ công nhân trọng thương.
Vụ tai nạn xảy ra vào khoảng 15h30 ngày 22/4, tại ngã ba đường ĐT743 - An Phú 35, phường An Phú, TPHCM. Thời điểm trên, ô tô tải lưu thông trên đường An Phú 35, khi đến ngã ba giao với đường ĐT743, tài xế cho xe ôm cua rẽ phải hướng về cầu vượt ngã tư 550.
Khi ô tô tải vừa rẽ tới đường ĐT743 thì xảy ra va chạm với xe đạp do nữ công nhân điều khiển. Cú va chạm khiến cả người và xe đạp nằm lọt dưới gầm ô tô tải. Người dân phát hiện đã hô hoán tài xế dừng xe để cứu người phụ nữ, đưa ra ngoài trong tình trạng bị thương nặng.
Tại hiện trường, xe đạp bị cán nát, nằm trong gầm, phía sau đuôi ô tô tải. Vụ tai nạn xảy ra ngay khu vực ngã ba có lượng xe cộ lưu thông nhiều khiến giao thông bị ùn ứ kéo dài khoảng 1km.
Theo người dân, nạn nhân làm công nhân cho một công ty trên địa bàn. Thời điểm xảy ra tai nạn họ đã hô hoán nên tài xế mới biết để dừng ô tô.
Nhận tin báo, lực lượng chức năng phường An Phú có mặt bảo vệ hiện trường, phân luồng giao thông. Nguyên nhân vụ tai nạn đang được điều tra.
Ngày 20-4, UBND xã Tiên Hải cho biết quần đảo Hải Tặc nằm trong vịnh Thái Lan, ít chịu sự tác động của sóng gió. Do đó ngoài nghề truyền thống đi lặn biển, câu mực, chạy ghe cào trên biển, người dân địa phương còn tận dụng "điều kiện vàng" trên để đóng lồng bè nuôi cá mú, cá bớp và ốc hương, phát triển kinh tế gia đình.
Ông Trần Văn Lợi - người dân ở xã Tiên Hải - cho biết gia đình ông trước đây sinh sống chủ yếu bằng nghề lặn và đánh bắt thủy hải sản trên biển. Do nguồn lợi hải sản trên biển cạn kiệt nên ông đã chuyển sang đóng lồng bè nuôi cá mú, cá bớp, ốc hương trên biển.
Đến nay ông Lợi có 2 lồng bè nuôi cá mú, cá bớp, cá chuộng với sản lượng ước đạt hơn 1,5 tấn.
"Thương lái mấy ngày qua vào thu mua cá bớp với giá dao động 150.000 - 180.000 đồng/kg; cá mú 230.000 - 240.000 đồng/kg; cá chuộng giá 120.000 - 130.000 đồng/kg. Giá cá này tôi và bà con sống được. Tôi còn nuôi ốc hương và thu lợi nhuận khoảng 600 triệu đồng/năm", ông Lợi nói.
Còn ông Thạch Văn Xuyên - người dân ở xã Tiên Hải - cho hay gia đình ông có 8 lồng nuôi cá mú. Nếu môi trường nước ổn định, cá ít hao hụt thì nuôi cá mú có lời và sống khỏe hơn đi đánh bắt ngoài khơi.
Theo ông Nguyễn Công Tước - Phó trưởng Phòng Kinh tế xã Tiên Hải - thông tin năm 2000, xã Tiên Hải có ít hộ dân nuôi cá lồng bè. Sau này mô hình nuôi cá lồng bè có hiệu quả kinh tế nên bà con ở đảo tập trung nuôi nhiều.
Phòng Kinh tế đã có kế hoạch phối hợp đơn vị liên quan mở lớp tập huấn nuôi cá lồng bè trên biển cho người dân. Qua đó mọi người sẽ nắm vững kỹ thuật lựa chọn cá giống khỏe, cho cá ăn đúng cách và phòng chống dịch bệnh, hạn chế hao hụt sản lượng cá nuôi.
Ngoài ra địa phương sẽ tìm thêm các loài nhuyễn thể khác như hàu sữa, vẹm xanh để người dân nuôi góp phần gia tăng thêm thu nhập.
Ông Mai Quốc Thắng - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Tiên Hải - cho biết địa phương định hướng nuôi biển là kinh tế mũi nhọn. Năm 2025, địa phương có sản lượng cá mú, cá bớp thương phẩm ước đạt hơn 821 tấn. Xã cũng khuyến khích bà con vào tổ hợp tác, hợp tác xã để tạo chuỗi liên kết ổn định đầu ra.
"Chúng tôi cũng tăng cường liên kết với doanh nghiệp, nhà hàng du lịch trên đảo để phục vụ du khách, giảm bớt trung gian, nâng cao lợi nhuận cho dân. UBND xã Tiên Hải đang quy hoạch chi tiết vùng nuôi và hướng dẫn bà con làm thủ tục giao mặt nước biển để đảm bảo khu vực nuôi lâu dài, ổn định", ông Thắng nói.
Bộ Công an vừa công bố dự thảo hồ sơ chính sách dự án bộ luật Hình sự (sửa đổi), đề xuất nhiều điểm mới liên quan đến hình phạt tiền, để lấy ý kiến.
Theo cơ quan soạn thảo, bộ luật Hình sự hiện hành xác định phạt tiền là một trong các hình phạt chính; được áp dụng đối với một số trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng (thuộc các nhóm tội nhất định do bộ luật quy định).
Song, thực tế cho thấy phạm vi các tội danh được áp dụng hình phạt tiền còn tương đối hẹp, chưa bao quát hết các trường hợp nên áp dụng (chẳng hạn người phạm tội rất nghiêm trọng thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ).
Do đó, Bộ Công an đề xuất mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền đối với một số tội danh (dự thảo chưa nêu cụ thể) nhằm phù hợp với quan điểm của Đảng về tăng cường hình phạt tiền tại Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp; đồng thời phù hợp với quan điểm về phòng, chống tham nhũng được nêu tại các văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ XIII và XIV.
Vẫn theo cơ quan soạn thảo, bộ luật Hình sự hiện hành chủ yếu thiết kế theo hướng "có thể phạt tiền" hoặc "phạt tiền hoặc phạt tù", chứ chưa hình thành một nguyên tắc khái quát theo hướng: trong một số trường hợp luật định, tòa án chỉ quyết định hình phạt tiền thay vì hình phạt tù.
Hệ quả dẫn tới giảm tính thống nhất trong quyết định hình phạt; thiếu cơ chế đầy đủ để khắc phục hậu quả, bồi hoàn và thu hồi lợi ích bất hợp pháp của hình phạt tiền; chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu nhân đạo hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự; tăng áp lực lên hệ thống giam giữ và thi hành án hình sự.
Để khắc phục, Bộ Công an đề xuất bổ sung quy định về quyết định hình phạt là hình phạt tiền thay vì hình phạt tù đối với một số tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, nếu người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Song song với đề xuất mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền, Bộ Công an nhận định mức phạt tiền tối thiểu tại điều 35 (1 triệu đồng với cá nhân) và điều 77 (50 triệu đồng với pháp nhân) là tương đối thấp.
Các mức này chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội, chưa tính đến sự thay đổi của mức lương cơ sở và thu nhập bình quân đầu người, chưa đáp ứng được khuyến nghị của lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) và Nhóm châu Á - Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG) về hình phạt tiền đối với pháp nhân thương mại.
Đồng thời, mức phạt tiền ở một số nhóm tội có tính chất thu lợi bất chính (lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại; thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm; công nghệ thông tin, mạng viễn thông…) còn thấp, chưa phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước.
Các đối tượng phạm tội nêu trên đều thu lợi bất chính rất lớn, có những vụ án lên đến hàng nghìn tỉ đồng.
Từ bất cập đã nêu, Bộ Công an đề xuất nâng mức phạt tiền để bảo đảm tính nghiêm khắc, răn đe của hình phạt, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội và đáp ứng khuyến nghị của các tổ chức quốc tế.
Điều này giúp khắc phục tình trạng nếu lợi nhuận bất chính vượt xa mức tiền phạt thì chế tài hình sự sẽ mất tác dụng. Tuy vậy, cũng đòi hỏi phải rà soát đồng bộ các ngưỡng định tội, định khung, truy thu, tịch thu, buộc nộp lại khoản thu lợi bất chính để tránh sự thiếu cân đối, chồng lấn giữa hình phạt tiền và nghĩa vụ dân sự, tài sản.