Từ Đồng Tháp đến TP HCM hội ngộ các y bác sĩ Bệnh viện Quân y 175 và Tổ chức nhân đạo Operation Walk Chicago (Mỹ) tại tọa đàm về phẫu thuật thay khớp háng chiều 13/4, chị Liễu sải bước nhanh nhẹn trong tà áo dài, nụ cười rạng rỡ thay cho những ngày tuyệt vọng cách đây 7 năm.
Năm 2018, chị mắc Pemphigus – bệnh tự miễn buộc phải điều trị bằng corticoid suốt đời. Việc dùng corticoid liều cao thời gian đầu dẫn đến hoại tử hai bên chỏm xương đùi. Năm 2019, ở tuổi 30, những cơn đau khớp dữ dội khiến chị không thể nhấc nổi bước chân, mọi sinh hoạt phụ thuộc xe lăn. Công việc giảng dạy phải gián đoạn, kinh tế gia đình trông cậy vào chồng.
“Tôi đau đớn, tưởng tương lai đã khép lại và mình trở thành người tàn phế”, chị nhớ lại.
Cơ hội đến cuối năm 2023 khi đoàn bác sĩ Operation Walk Chicago về Đồng Tháp mổ từ thiện, giúp chị thay khớp háng phải (bên tổn thương nặng hơn). Năm 2024, qua chương trình hợp tác giữa tổ chức này và Bệnh viện Quân y 175, chị tiếp tục đến TP HCM mổ thay khớp háng bên trái miễn phí.
Sau hai cuộc mổ, chị không còn đau nhức, đi lại bình thường, tự chăm sóc gia đình và trở lại đứng lớp 8 tiếng mỗi ngày. Hiện chị vẫn dùng corticoid liều thấp hơn để kiểm soát bệnh da liễu Pemphigus, nhưng cuộc sống đã sang trang mới.
Chị Liễu là một trong gần 200 bệnh nhân tìm lại khả năng vận động nhờ chương trình thay khớp háng miễn phí do Bệnh viện Quân y 175 phối hợp Operation Walk Chicago thực hiện suốt 5 năm qua. Tại chương trình, nhiều bệnh nhân khác cũng chia sẻ hành trình vượt qua đau đớn, như bà Ngọc Ảnh thoát cảnh mất ngủ, suy sụp vì hoại tử khớp, hay bà Đào Hải, 63 tuổi, người tưởng chừng phải “lết đi cả đời” cũng đã đi lại nhờ thay cùng lúc hai khớp.
Theo BS.CK2 Mỵ Duy Tiến, Chủ nhiệm Khoa Chi dưới, Viện Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Quân y 175, nguyên nhân hỏng khớp háng rất đa dạng, từ chấn thương, thoái hóa đến hoại tử. Khi tổn thương nặng, thay khớp nhân tạo là giải pháp tối ưu. Hiện nay, bệnh viện ứng dụng công nghệ thiết kế 3D và phẫu thuật ít xâm lấn, giúp giảm mất máu, giảm đau và rút ngắn thời gian hồi phục.
Đặc biệt, phục hồi chức năng sớm đóng vai trò then chốt. Trung tá, BS.CK1 Quách Long Vỹ, Chủ nhiệm khoa Phục hồi chức năng, cho biết theo mô hình ERAS, bệnh nhân có thể tập ngay sau khi tỉnh, 8-12 giờ đã vận động tại giường, sau 24 giờ có thể đi lại, giúp giảm nguy cơ biến chứng.
Đại tá, TS.BS Phan Đình Mừng, Phó giám đốc Bệnh viện Quân y 175, cho biết bệnh lý khớp háng đang trẻ hóa, nhiều ca gặp ở tuổi 20-30, chủ yếu do hút thuốc, uống rượu, ít vận động và lạm dụng corticoid. Chi phí mổ thay khớp háng 80-100 triệu đồng vẫn là rào cản, vì vậy từ 2019 chương trình đã hỗ trợ gần 200 bệnh nhân, riêng đợt 10-14/4 mổ 37 ca, trong đó có 3 ca phức tạp.
Các bác sĩ lưu ý bệnh nhân Việt Nam sau thay khớp háng cần từ bỏ các thói quen xấu như ngồi xổm, ngồi bệt, vắt chéo chân hay nằm võng để tránh nguy cơ trật khớp.
Trong lần khám định kỳ tại Bệnh viện Gia An 115, chị B.A.D (ở TP.HCM) được phát hiện có sỏi mật qua siêu âm ổ bụng. Kết quả chụp MRI ghi nhận túi mật giãn to, kích thước khoảng 67 x 35 mm do một viên sỏi lớn chiếm gần toàn bộ lòng túi mật.
Trước nguy cơ biến chứng, người bệnh được chỉ định phẫu thuật nội soi cắt túi mật. Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi, chị D. hồi phục tốt và xuất viện sau vài ngày.
Theo thạc sĩ - bác sĩ Phan Bảo Toàn, Khoa Ngoại, Bệnh viện Gia An 115, sỏi túi mật là bệnh lý khá phổ biến nhưng thường diễn tiến âm thầm. Nhiều trường hợp chỉ được phát hiện tình cờ khi khám sức khỏe hoặc khi đã xuất hiện biến chứng.
Về cơ chế hình thành sỏi, bác sĩ cho biết dịch mật do gan tiết ra sẽ theo hệ thống ống mật đổ xuống tá tràng khi ăn để hỗ trợ tiêu hóa, đặc biệt là chất béo. Phần dịch mật còn lại được dự trữ trong túi mật và dần bị cô đặc giữa các bữa ăn. Quá trình cô đặc này làm tăng nồng độ các chất hòa tan như cholesterol, muối mật, axit mật và điện giải. Khi tình trạng “quá bão hòa” kéo dài, các thành phần này có thể kết tinh và hình thành sỏi.
“Phần lớn sỏi túi mật là sỏi cholesterol, hình thành khi nồng độ cholesterol trong dịch mật tăng cao. Ngoài ra, các yếu tố như ứ đọng dịch mật, nhiễm trùng đường mật, ăn nhiều chất béo, ít vận động, thói quen bỏ bữa - đặc biệt là nhịn ăn sáng kéo dài - cũng làm tăng nguy cơ tạo sỏi. Người thừa cân, béo phì hoặc có tiền sử gia đình mắc sỏi mật cũng thuộc nhóm nguy cơ cao”, bác sĩ Toàn cho hay.
Không phải mọi trường hợp sỏi túi mật đều cần phẫu thuật ngay. Tuy nhiên, với những viên sỏi kích thước lớn (thường từ 3 cm trở lên), chiếm gần hết lòng túi mật hoặc có nguy cơ gây biến chứng, cắt túi mật nội soi là phương pháp điều trị hiệu quả, giúp xử trí triệt để và phòng ngừa rủi ro.
Nếu không được theo dõi và xử trí phù hợp, sỏi túi mật có thể dẫn đến nhiều biến chứng như viêm túi mật cấp, tắc mật, nhiễm trùng đường mật, viêm tụy cấp do sỏi, hội chứng Mirizzi (có thể gây vàng da, viêm đường mật), thậm chí làm tăng nguy cơ ung thư túi mật ở những trường hợp sỏi rất lớn. Các biến chứng này có thể diễn tiến nhanh và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.
Từ trường hợp trên, bác sĩ khuyến cáo người trưởng thành, đặc biệt là nhóm có yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì, ăn nhiều chất béo, ít vận động, nên duy trì thói quen khám sức khỏe định kỳ có siêu âm ổ bụng để phát hiện sớm sỏi mật và các bệnh lý đường mật, ngay cả khi chưa có triệu chứng.
Khi xuất hiện các dấu hiệu như đau quặn vùng hạ sườn phải (có thể lan ra lưng hoặc vai phải), đầy bụng, buồn nôn sau khi ăn nhiều dầu mỡ, khó tiêu kéo dài hoặc sốt không rõ nguyên nhân, người bệnh cần đi khám sớm để được chẩn đoán và xử trí kịp thời.
Ngày 12-4, Hội Ung thư Việt Nam phối hợp với AstraZeneca Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch”.
Tại hội thảo, TS.BS Diệp Bảo Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM - cho biết ung thư phổi tiếp tục là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam cũng như toàn cầu.
Theo số liệu Globocan 2022 và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hằng năm nước ta ghi nhận hơn 24.000 ca ung thư phổi mới (đứng thứ 3 trong các loại ung thư) và gần 22.600 ca tử vong vì bệnh này (đứng thứ 2 về số ca tử vong do ung thư).
Mặc dù có nhiều tiến bộ, việc tiếp cận các phương pháp điều trị ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, với tỉ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn còn cao, tạo ra gánh nặng rất lớn. Theo thống kê, có tới 84% bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, chỉ khoảng 16% được phát hiện sớm.
TS.BS Phạm Xuân Dũng - Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM - cũng cho hay ung thư phổi đang có xu hướng gia tăng cả về số ca mắc mới lẫn tử vong, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, tiệm cận trình độ khu vực và thế giới trong các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. Tuy nhiên thách thức lớn vẫn nằm ở việc nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt với những trường hợp bệnh tiến xa, ít còn lựa chọn điều trị khả quan.
Từ cuối thế kỷ 20 và trong hai thập niên đầu thế kỷ 21, điều trị ung thư phổi đã có bước chuyển mình với sự xuất hiện của hai “vũ khí” quan trọng: liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch.
Khi được kết hợp với các phương pháp truyền thống như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, những tiến bộ này đã làm thay đổi đáng kể cách tiếp cận và tiên lượng bệnh.
“Trước đây, với ung thư phổi giai đoạn muộn đã di căn, thời gian sống thêm thường dưới 12 tháng. Tuy nhiên hiện nay, không hiếm trường hợp bệnh nhân có thể sống thêm 2 - 4 năm. Điều này cho thấy chúng ta đang tiến gần hơn đến mục tiêu cá thể hóa trong điều trị ung thư”, BS Dũng nói.
Tương tự, BS Tuấn cho biết các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
“Nếu chỉ điều trị bằng hóa trị, thời gian sống người mắc ung thư phổi ở giai đoạn 4 thường chỉ khoảng 8 - 9 tháng. Trong khi đó, với liệu pháp miễn dịch có thể tăng thời gian sống lên khoảng 33 tháng”, BS Tuấn so sánh.
Theo các chuyên gia, các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đẩy mạnh các xét nghiệm di truyền và sinh học phân tử, phát triển các liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn ngày, cũng như đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân.
Theo tiến sĩ Anju Sood, chuyên gia dinh dưỡng tại Ấn Độ, tỏi có tính sinh nhiệt nhẹ trong cơ thể. Khi thời tiết nóng, nếu ăn quá nhiều hoặc ăn sai cách, tỏi có thể làm tăng cảm giác nóng, gây ợ nóng hoặc khó chịu đường tiêu hóa. Tuy nhiên, bà nhấn mạnh vấn đề nằm ở cách sử dụng chứ không phải bản thân thực phẩm, theo The Health Site (Ấn Độ).
Nguyên tắc đầu tiên là kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị chỉ nên dùng khoảng 1 - 2 tép tỏi mỗi ngày. Tiêu thụ tỏi ở mức vừa phải giúp phát huy lợi ích chống oxy hóa và tim mạch, đồng thời hạn chế các tác dụng phụ như đầy hơi, ợ nóng, theo Healthline (Mỹ).
Một sai lầm phổ biến là ăn tỏi sống vào buổi sáng khi chưa ăn gì. Tiến sĩ Rupali Datta, chuyên gia dinh dưỡng ở Ấn Độ, cho biết ăn tỏi sống vào buổi sáng có thể làm tăng kích ứng niêm mạc dạ dày, gây nóng rát, buồn nôn hoặc khó chịu. Trong mùa nóng, tình trạng này dễ xảy ra hơn do hệ tiêu hóa nhạy cảm.
Tỏi - đặc biệt khi ăn sống - có thể gây kích ứng đường tiêu hóa ở một số người, dẫn đến cảm giác nóng rát, đầy hơi hoặc khó chịu dạ dày nếu dùng quá nhiều hoặc ăn khi bụng đói. Các hợp chất sulfur trong tỏi, dù có lợi cho sức khỏe, nhưng cũng có thể “khá mạnh” với niêm mạc tiêu hóa nhạy cảm, theo Cleveland Clinic (Mỹ).
Tỏi sống chứa nhiều allicin nhưng cũng dễ gây “nóng”. Để hạn chế điều này, các chuyên gia khuyên nên dùng tỏi đã nấu chín hoặc tỏi ngâm, vừa giảm độ hăng vừa dễ tiêu hóa hơn. Một mẹo nhỏ là đập dập tỏi và để khoảng 10 phút trước khi chế biến để tối ưu hoạt chất có lợi.
Để giảm cảm giác sinh nhiệt, tỏi nên được dùng cùng rau xanh, dưa leo, cà chua... Đồng thời, việc bổ sung đủ nước giúp cơ thể điều hòa thân nhiệt và hỗ trợ tiêu hóa tốt hơn trong thời tiết nắng nóng, theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
Các chuyên gia nhấn mạnh, tỏi không gây “nóng” nếu được sử dụng đúng cách. Trong mùa nắng nóng, chỉ cần điều chỉnh lượng ăn, thời điểm và cách chế biến, bạn vẫn có thể tận dụng lợi ích của tỏi mà không lo ảnh hưởng đến sức khỏe.