Mục tiêu 100% người dân TPHCM có “hộ chiếu sức khỏe” năm 2030
Tại hoạt động “Smart Healthcare 2026” hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân, diễn ra ở TPHCM ngày 8/4, TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Phó Giám đốc Sở Y tế TPHCM cho biết, thành phố đang đứng trước những thử thách không nhỏ từ tốc độ đô thị hóa nhanh, quy mô dân số lớn, tình trạng già hóa dân số và sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm.
Trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng, ngành y tế đang quyết liệt chuyển đổi mô hình từ chữa bệnh sang phòng bệnh, từ chăm sóc khi có bệnh sang quản lý sức khỏe liên tục, toàn diện suốt vòng đời.
Trong hành trình chuyển đổi ấy, y tế thông minh (Smart Healthcare) được xác định là chìa khóa then chốt. Theo ông Châu, y tế thông minh không chỉ dừng lại ở trang thiết bị hiện đại mà là xây dựng hệ sinh thái số toàn diện. Trong đó, dữ liệu sức khỏe được liên thông để việc chăm sóc mang tính cá thể hóa và đạt hiệu quả tối ưu.
“TPHCM đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% người dân có hồ sơ sức khỏe điện tử. Đây sẽ là hộ chiếu sức khỏe theo mỗi người suốt cuộc đời. Nó không chỉ giúp bác sĩ có phác đồ điều trị chính xác nhờ dữ liệu lịch sử y tế đầy đủ, mà còn giúp người dân tự theo dõi tình trạng bản thân thuận tiện nhất”, Phó Giám đốc Sở Y tế chia sẻ.
Bên cạnh xây dựng hồ sơ sức khỏe, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và các thiết bị đeo thông minh cũng mở ra kỷ nguyên mới cho ngành y tế. Các thiết bị này giúp theo dõi chỉ số sinh tồn theo thời gian thực, cảnh báo sớm dấu hiệu bất thường và xóa nhòa khoảng cách địa lý thông qua khám chữa bệnh từ xa (Telemedicine).
Dù đề cao vai trò của công nghệ tiên tiến, TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu khẳng định, lối sống lành mạnh của mỗi cá nhân vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Để hiện thực hóa mục tiêu toàn dân khỏe mạnh, lãnh đạo Sở Y tế kêu gọi mỗi người cần bắt đầu từ những hành động thiết thực nhất.
Cụ thể, người dân cần chủ động kiểm soát các yếu tố nguy cơ, bằng cách hạn chế rượu bia, thuốc lá và cắt giảm lượng muối, đường, chất béo không lành mạnh trong khẩu phần ăn hàng ngày.
Song song đó, cần duy trì thói quen vận động thể chất và xây dựng môi trường sống xanh, để vừa cải thiện thể trạng, vừa nâng cao chất lượng cuộc sống. Đặc biệt, công tác dinh dưỡng hợp lý – trọng tâm là chương trình “dinh dưỡng 1000 ngày đầu đời” – được coi như chìa khóa nâng tầm vóc cho thế hệ tương lai.
Lãnh đạo Sở Y tế TPHCM cũng khuyến khích người dân tận dụng các dịch vụ y tế tại cộng đồng để tầm soát định kỳ, giúp phát hiện sớm các nguy cơ bệnh tật ngay từ giai đoạn khởi phát.
Thách thức trong hành trình miễn dịch trọn đời
Chia sẻ tại hội nghị khoa học “Hành trình miễn dịch trọn đời – Góc nhìn đa chiều về cơ hội và thách thức”, diễn ra mới đây, GS.TS.BS Phan Trọng Lân, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, dịch tễ học toàn cầu và trong nước đã có nhiều biến động, từ thay đổi mô hình bệnh tật theo độ tuổi và nhóm nguy cơ đến các thách thức đối với hệ thống y tế.
Do đó, cách tiếp cận dự phòng cần được đặt trong tổng thể chiến lược và dựa trên dữ liệu dịch tễ, bằng chứng khoa học cũng như kinh nghiệm quốc tế. Trong đó, định hướng “miễn dịch trọn đời” ngày càng được quan tâm để nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Thực tế hiện nay, gánh nặng bệnh truyền nhiễm đang tập trung ở các nhóm dễ bị tổn thương, nhưng chưa được chủ động dự phòng đầy đủ. Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, kéo theo sự thay đổi về nhu cầu chăm sóc sức khỏe, đặc biệt ở người cao tuổi và các nhóm có bệnh nền.
PGS.TS.BS Lê Khắc Bảo, Phó Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM phân tích, người lớn tuổi (đặc biệt từ 65 tuổi trở lên) dễ mắc các nhiễm trùng đường hô hấp với mức độ nghiêm trọng và nguy cơ tử vong cao.
Các nhiễm trùng đường hô hấp không chỉ gây bệnh cấp tính mà còn làm trầm trọng thêm các bệnh mạn tính. Đặc biệt, đồng nhiễm virus và vi khuẩn có thể dẫn đến diễn tiến nặng và làm gia tăng nguy cơ tử vong. Do đó, chuyên gia cho rằng việc chủ động phòng ngừa cần được cân nhắc ở nhóm bệnh nhân này.
GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam cho biết thêm, với trẻ nhũ nhi, RSV (virus hợp bào hô hấp) là một trong những tác nhân hô hấp thường gặp ở. RSV có thể gây ra các di chứng như hen suyễn và thở khò khè, với tỷ lệ nhập viện cao nhiều lần so với cúm.
Nhiễm RSV không chỉ tạo gánh nặng bệnh tật mà còn ảnh hưởng lớn đến tài chính của gia đình người bệnh cũng như hệ thống chăm sóc y tế.
Các chuyên gia cho rằng, từ các nhóm nguy cơ khác nhau (người cao tuổi, người có bệnh nền, trẻ nhũ nhi…), khái niệm “miễn dịch trọn đời” cần được đặt ra như một khung tiếp cận theo vòng đời trong y tế dự phòng.
Từ đó, giúp cộng đồng chuyên môn nhìn nhận dữ liệu dịch tễ, thực hành lâm sàng và kinh nghiệm quốc tế một cách hệ thống hơn, phù hợp với nhu cầu sức khỏe thay đổi theo tuổi và nhóm nguy cơ.
“Cần nhận diện nguy cơ sớm và tăng cường trao đổi thông tin khoa học với nhân viên y tế, bao gồm cả giai đoạn thai kỳ, như một phần của cách tiếp cận theo vòng đời”, GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến nhận định.
Lá mơ lông (Paederia foetida) từ lâu đã được sử dụng trong y học dân gian tại nhiều nước châu Á. Loại cây này thường được dùng trong các bài thuốc truyền thống để hỗ trợ tiêu hóa, giảm đầy hơi và đau bụng, theo The Times of India (Ấn Độ).
Các nghiên cứu đăng trên cơ sở dữ liệu của Trung tâm Thông tin Công nghệ Sinh học Quốc gia Mỹ (NCBI) cũng ghi nhận lá mơ lông có đặc tính kháng khuẩn và chống viêm, có thể hỗ trợ cải thiện rối loạn tiêu hóa.
Giáo sư Anupam Chatterjee, chuyên gia tiêu hóa tại Ấn Độ, cho biết nhiều loại thảo dược truyền thống như lá mơ lông có thể hỗ trợ hệ vi sinh đường ruột, tuy nhiên cần thêm nghiên cứu lâm sàng để xác nhận hiệu quả.
Theo các nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học thuộc MDPI (Thụy Sĩ), lá mơ lông chứa flavonoid, polyphenol và các hợp chất sinh học có khả năng chống oxy hóa mạnh. Bác sĩ Rashmi Gupta, chuyên gia dinh dưỡng tại Ấn Độ, cho biết các chất chống oxy hóa này có thể giúp giảm viêm, bảo vệ tế bào và góp phần giảm nguy cơ bệnh mạn tính.
Một số nghiên cứu thực nghiệm còn ghi nhận lá mơ lông có thể tác động đến chuyển hóa glucose và lipid trong cơ thể.
Dù chưa có đủ bằng chứng trên người, các nhà khoa học cho rằng điều này có thể liên quan đến sự kết hợp giữa khả năng chống oxy hóa, kháng viêm và điều hòa enzyme chuyển hóa.
Đây cũng là hướng nghiên cứu đang được quan tâm, trong bối cảnh các bệnh lý chuyển hóa như tiểu đường và rối loạn mỡ máu ngày càng phổ biến.
Dù có nhiều tiềm năng, các chuyên gia nhấn mạnh rằng phần lớn nghiên cứu về lá mơ lông hiện vẫn ở giai đoạn tiền lâm sàng.
Không có thực phẩm đơn lẻ nào có thể thay thế vai trò của chế độ ăn cân bằng và lối sống lành mạnh. Ngoài ra, nếu ăn sống không đảm bảo vệ sinh, người dùng có thể đối mặt với nguy cơ nhiễm khuẩn hoặc ký sinh trùng. Việc sử dụng quá nhiều cũng có thể gây kích ứng tiêu hóa, theo Harvard Health Publishing (Mỹ).
Các chuyên gia khuyên:
Các nghiên cứu từ Ấn Độ và quốc tế cho thấy lá mơ lông là loại rau dân dã nhưng chứa nhiều hoạt chất có lợi cho tiêu hóa, chống oxy hóa và sức khỏe tổng thể. Tuy nhiên, việc sử dụng cần hợp lý để đảm bảo an toàn.
Người phụ nữ sống ở Đống Đa không nhớ mình đã ngồi im bao lâu trong phòng khám, hình ảnh đứa con lớn lên thiếu mẹ hiện ra không dứt. Nhưng tinh thần thép được rèn qua 20 năm một mình bươn chải ở Hà Nội sớm giúp cô tự sốc lại bản thân. Thay vì chìm vào câu hỏi "Tại sao lại là mình?", Linh chọn cách nhìn đây là bài kiểm tra, không phải bản án.
"Cứ ba tháng tôi tái khám một lần, xem nó như căn bệnh mạn tính để sống chung, chứ không phải để ủ rũ hay trách móc", cô nói, thêm rằng 6 năm trôi qua vẫn sống khỏe mạnh.
Khác với Linh, Ánh Hoa đối mặt với ung thư máu từ năm 12 tuổi. Trải qua những ngày tháng tuổi thơ gắn liền với giường bệnh cùng hóa chất và nỗi sợ hãi, Hoa quyết định thay đổi tâm thế. Cô coi mỗi đợt truyền thuốc là một cuộc chiến nhỏ cần chinh phục. Sau gần 15 năm kiên trì, cô nhận kết quả đẩy lui bệnh hoàn toàn và hiện là thành viên tích cực của Sáng kiến Ung thư Muối.
Tại Việt Nam, theo số liệu GLOBOCAN 2022, mỗi năm có khoảng 180.480 ca ung thư mới và 120.184 ca tử vong, biến ung thư thành gánh nặng y tế hàng đầu. Song song gánh nặng thể chất là một cuộc khủng hoảng tâm lý âm thầm. Như nghiên cứu của Bệnh viện Quân y 103 trên 264 bệnh nhân tại khoa Ung bướu cho thấy gần 58% người bệnh bị trầm cảm.
Với nhóm trẻ tuổi, hệ quả còn nặng nề hơn. Nghiên cứu của Đại học Quốc gia Singapore trên 20.000 bệnh nhân cho thấy nhóm 25 đến 30 tuổi có nguy cơ mắc các rối loạn tâm lý suốt đời cao hơn ngay cả sau khi bệnh thuyên giảm, và nhóm từ 15 đến 19 tuổi có nguy cơ tự tử cao hơn đáng kể so với dân số chung.
Bác sĩ Nguyễn Thị Diễm Hương, Phòng khám Hỗ trợ điều trị Ung thư, Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM, cho biết những bệnh nhân vượt xa tiên lượng ban đầu thường có chung một đặc điểm là họ không coi ung thư là án tử hình.
"Họ xem đó là một chặng đường cần vượt qua, từ đó giữ được tâm lý thảnh thơi và năng lượng tích cực ngay cả trong những giai đoạn điều trị nặng nề nhất", bà nói.
Về mặt sinh học, các nghiên cứu ghi nhận nhóm bệnh nhân này thường duy trì hoạt động miễn dịch tốt hơn, đặc biệt ở tế bào diệt tự nhiên và tế bào lympho T. Ngược lại, bệnh nhân trầm cảm, lo âu kéo dài thường ít tuân thủ phác đồ, bỏ tái khám, khiến bệnh tiến triển nặng hơn và tiên lượng kém hơn.
Y học hiện đại cũng đang thay đổi bức tranh tổng thể. Một số loại ung thư như tuyến giáp, vú, tiền liệt tuyến và đại tràng, nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời, có tỷ lệ sống trên 5 năm vượt 90%. Bác sĩ Hà Hải Nam, Phó trưởng khoa Ngoại bụng 1, Bệnh viện K, nhấn mạnh rằng ngưỡng 5 năm là mốc quan trọng vì tế bào ung thư thường di căn mạnh nhất trong 2-3 năm đầu. Qua mốc đó, ngay cả khi tái phát, bệnh nhân vẫn có thể điều trị hiệu quả nếu phát hiện kịp thời.
Tuy nhiên, bác sĩ Ngô Văn Tỵ, Khoa Ung Bướu, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, đưa ra cảnh báo sự lạc quan không nên được áp dụng như một công thức chung. Nhiều loại ung thư vẫn tiến triển nhanh, có thể tái phát và tiên lượng hạn chế. Kỳ vọng thái quá đôi khi dẫn đến trì hoãn những quyết định điều trị quan trọng.
"Và sống lâu hơn không tự động nghĩa là 'sống tốt hơn', khi nhiều bệnh nhân phải đánh đổi bằng tác dụng phụ kéo dài, chi phí điều trị lớn và áp lực tâm lý triền miên. Mỗi bệnh nhân cần được đánh giá rất cá thể hóa, không thể mặc định", ông nói.
Ngày 6/4, ThS.BS Lê Hoàng Hùng, Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết bệnh nhi từ Phú Quốc nhập viện nửa đêm trong tình trạng sưng nề, đau nhiều ở mắt phải và đầu. Vết thương mi dưới mắt phải dài 6 mm, rách kết mạc, xuất huyết củng mạc, đồng tử phải dãn 4 mm và phản xạ ánh sáng yếu.
CT scan đầu mặt thấy xuất huyết võng mạc mắt phải, dị vật là khối kim loại hình cầu đường kính 5 mm nằm sát màng não gần thùy thái dương bên phải. Nếu mổ chậm trễ, bệnh nhi dễ viêm xương, áp xe nội sọ, viêm màng não vi khuẩn với nguy cơ nhiễm trùng nặng, khiến quá trình điều trị khó khăn hơn và tỷ lệ tử vong cao.
Bác sĩ phẫu thuật khẩn, mở hộp sọ để gắp dị vật là viên bi sắt ngay trong đêm. Sau mổ, bé tỉnh táo, hết đau và sưng mắt, kiểm soát được nguy cơ nhiễm trùng. Dù vậy, do tổn thương nhãn cầu và xuất huyết võng mạc quá nghiêm trọng, bệnh nhi có nguy cơ cao bị mất thị lực hoàn toàn ở mắt phải.
BS.CK1 Nguyễn Thành Đô, Phó trưởng khoa Ngoại Thần kinh, cho biết mỗi năm bệnh viện tiếp nhận khoảng một đến hai trường hợp dị vật vùng đầu mặt do nghịch ná bắn chim hoặc súng tự chế khiến đạn găm vào đầu. Đây được xem là những tai nạn nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng.
Bác sĩ Đô khuyến cáo phụ huynh không sử dụng hoặc lưu trữ các loại vật dụng có tính sát thương trong nhà. Người lớn cần sát sao con trẻ, cất giữ các đồ vật nguy hiểm xa tầm tay các em. Nhà trường và gia đình nên thường xuyên giáo dục, nhắc nhở trẻ không được chơi đùa hoặc tự chế tạo các loại đồ chơi gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng, nhằm tránh những tai nạn thương tâm lặp lại.