Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thưa các vị đại biểu Quốc hội khóa XVI.
Thưa các vị khách quý, đoàn ngoại giao và bạn bè quốc tế.
Thưa cử tri, đồng bào cả nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Hôm nay, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI khai mạc kỳ thứ nhất – kỳ họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở đầu cho một nhiệm kỳ mới của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước ta.
Đây là kỳ họp kiện toàn tổ chức bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp; đồng thời là kỳ họp tập trung thể chế hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tạo nền tảng pháp lý, thể chế và động lực chính sách để đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới: phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn dân tộc.
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi nhiệt liệt chúc mừng kết quả rất tốt đẹp của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Tôi trân trọng chúc mừng các vị đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã được cử tri cả nước tín nhiệm lựa chọn. Đó là niềm vinh dự lớn lao, nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm rất lớn trước Đảng, trước nhân dân và trước tương lai của đất nước.
Nhân dịp này, chúng ta trân trọng ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp quan trọng của Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội khóa XV, ủy viên Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2020-2025.
Trong nhiệm kỳ vừa qua, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đã nỗ lực đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng lập pháp, giám sát, quyết định nhiều vấn đề hệ trọng, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Những kết quả đó, cùng với truyền thống 80 năm vẻ vang của Quốc hội Việt Nam, là nền tảng quan trọng để Quốc hội khóa XVI kế thừa, phát huy và phát triển lên tầm cao mới.
Thưa các vị đại biểu Quốc hội, đồng bào và cử tri cả nước.
Thế giới đang biến đổi rất nhanh, rất sâu sắc trên cả chiều rộng và chiều sâu. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, trật tự thế giới, luật pháp quốc tế đang đối mặt với nhiều thách thức.
Các chuỗi cung ứng, dòng vốn, công nghệ và thị trường toàn cầu đang được cấu trúc lại. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, tác động ngày càng trực tiếp tới môi trường và không gian phát triển của mỗi quốc gia.
Đặc biệt, sự phát triển đột phá của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ số và các tiến bộ khoa học công nghệ đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình tăng trưởng, phương thức quản trị quốc gia và đời sống xã hội.
Trong bối cảnh ấy, quốc gia nào chủ động chiến lược, cải cách thể chế kịp thời, giải phóng được sức sáng tạo, huy động được nguồn lực toàn dân, nắm bắt được thời cơ mới, quốc gia đó sẽ vượt lên và phát triển.
Đất nước ta, với lịch sử 4.000 năm Văn hiến, qua 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 40 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa thời đại.
Nhưng chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào sự thật rằng: yêu cầu của giai đoạn phát triển mới đang đặt ra những đòi hỏi cao hơn, nhanh hơn và quyết liệt hơn về thể chế, về mô hình tăng trưởng, về chất lượng quản trị quốc gia, về năng lực phản ứng chính sách, về kỷ luật thực thi và nâng cao mức sống của nhân dân.
Đại hội XIV của Đảng đã xác định rất rõ mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong tiến trình đó, Quốc hội phải đổi mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn để thực hiện đầy đủ, xứng đáng trọng trách Hiến định của mình.
Tôi muốn nhấn mạnh: Quốc hội là nơi kết tinh ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; là nơi quyết định những vấn đề lớn của đất nước; là nơi chuyển hóa chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách và sức mạnh tổ chức thực tiễn.
Mỗi đại biểu Quốc hội phải luôn ý thức sâu sắc rằng mình không chỉ đại diện cho đơn vị bầu cử, không chỉ mang theo lá phiếu tín nhiệm của cử tri, mà còn gánh trên vai trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, đối với niềm tin của nhân dân, đối với tương lai của các thế hệ mai sau.
Từ tinh thần đó, tôi đề nghị Quốc hội khóa XVI tập trung thực hiện thật tốt 4 nhiệm vụ lớn sau đây.
Thứ nhất: đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, xây dựng bằng được một hệ thống pháp luật hiện đại, thống nhất, ổn định, khả thi và kiến tạo phát triển.
Quốc hội phải tập trung nâng cao hơn nữa năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành chính sách và pháp luật; tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026-2031 và những năm tiếp theo.
Hệ thống pháp luật phải thực sự trở thành nền tảng thể chế của phát triển, là công cụ để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, giải phóng lực lượng sản xuất, khai mở những không gian phát triển mới cho đất nước.
Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện đáng kể, nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu liên thông; có những quy định chưa rõ, chưa ổn định, chưa theo kịp thực tiễn, làm tăng chi phí tuân thủ, làm chậm cơ hội phát triển, làm khó cho người dân, doanh nghiệp và bộ máy thực thi.
Vì vậy, Quốc hội cần chỉ đạo rà soát tổng thể hệ thống pháp luật, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật quốc gia, kiên quyết khắc phục tình trạng “luật bó”, chồng lấn, đẩy trách nhiệm cho văn bản dưới luật; phải làm sao để luật ban hành ra là đi được vào cuộc sống, người dân dễ hiểu, doanh nghiệp dễ thực hiện, cơ quan nhà nước dễ áp dụng.
Đặc biệt, phải đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển. Pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới; không chỉ điều chỉnh thực tiễn hiện hữu, mà còn phải kiến tạo tương lai; Luật không chỉ “mở đường” mà còn phải “sửa đường”.
Đối với những vấn đề mới, những lĩnh vực mới, những mô hình mới, những lực lượng sản xuất mới, cần có cách tiếp cận phù hợp, mạnh dạn thí điểm, có kiểm soát, tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quá trình lập pháp phải thật sự khoa học, dân chủ, minh bạch, lắng nghe được tiếng nói của chuyên gia, nhà khoa học, kinh nghiệm quốc tế, doanh nghiệp và nhân dân.
Mỗi đạo luật phải xuất phát từ lợi ích quốc gia – dân tộc, từ lợi ích chính đáng của nhân dân; kiên quyết phòng, chống lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, mọi tác động tiêu cực làm méo mó chính sách.
Phải chuyển mạnh từ tư duy “làm luật cho đủ” sang tư duy “làm luật để phát triển”; từ “pháp luật tốt trên giấy” sang “pháp luật tốt trong cuộc sống”. Hiệu quả thực thi và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp phải là thước đo cao nhất của chất lượng lập pháp.
Thứ hai: nâng tầm giám sát tối cao của Quốc hội theo hướng thực chất, sắc bén, đi đến cùng trách nhiệm và kết quả.
Giám sát là một quyền năng rất quan trọng của Quốc hội. Nhưng giám sát không thể dừng ở phát hiện hạn chế hay nêu ra khuyết điểm. Giám sát phải thực sự trở thành công cụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia; phải góp phần sửa cho đúng, làm cho tốt hơn, tháo gỡ được điểm nghẽn, cảnh báo sớm được rủi ro, thúc đẩy được hành động.
Nói cách khác, giám sát không chỉ để “kiểm tra việc đã làm”, mà còn phải giúp “định hình việc cần làm”, nhận diện sớm những bất cập có thể phát sinh và phải đi đến cùng câu hỏi cuối cùng: vấn đề đã được giải quyết hay chưa.
Tôi đề nghị Quốc hội nhiệm kỳ này tập trung giám sát những vấn đề lớn, những lĩnh vực then chốt, những “điểm nghẽn của điểm nghẽn” trong phát triển; những vấn đề bức xúc mà cử tri và nhân dân quan tâm; đặc biệt là việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, việc tổ chức thi hành pháp luật, việc sử dụng nguồn lực quốc gia, quản lý tài sản công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
Mỗi nội dung giám sát phải gắn với trách nhiệm cụ thể, thời hạn cụ thể, sản phẩm cụ thể, kết quả cụ thể; giám sát dựa trên dữ liệu, bằng chứng, chỉ số định lượng và so sánh rõ ràng giữa mục tiêu đặt ra với kết quả đạt được.
Cùng với đó, phải phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát; đồng thời tăng cường phối hợp giữa giám sát của Quốc hội với kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán và các thiết chế kiểm soát khác của Nhà nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy bộ máy hành động đúng, hành động nhanh, hành động hiệu quả.
Thứ ba: nâng cao bản lĩnh và tầm nhìn khi quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; quyết định phải đúng, trúng, kịp thời, vì lợi ích lâu dài của quốc gia.
Bước vào giai đoạn phát triển có tính bước ngoặt lịch sử, đất nước đòi hỏi Quốc hội không chỉ quyết định đúng, mà phải quyết định trúng và kịp thời; bởi chậm một quyết sách có thể làm lỡ một thời cơ chiến lược.
Các vấn đề về kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước, đầu tư công, các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia… đều là những quyết sách lớn, gắn với lợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia, dân tộc, phải được xem xét toàn diện, khoa học, thận trọng, nhưng tuyệt đối không để sự chậm trễ trở thành điểm nghẽn của phát triển.
Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Quốc hội càng phải nâng cao chất lượng phân tích chính sách, năng lực dự báo chiến lược và đánh giá tác động; phải chọn đúng việc lớn, đúng khâu đột phá, đúng công trình trọng điểm, đúng lĩnh vực then chốt để tập trung nguồn lực; không dàn trải, manh mún, chia đều.
Đầu tư không chỉ để tăng trưởng trước mắt, mà phải đầu tư để tạo ra động lực tăng trưởng mới, năng lực cạnh tranh mới, không gian phát triển mới cho đất nước trong nhiều thập niên tới.
Mỗi quyết sách của Quốc hội phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, trong bối cảnh quốc tế biến động nhanh chóng, trong yêu cầu bảo đảm độc lập, tự chủ, an ninh, an toàn và phát triển bền vững.
Quốc hội quyết định cho hiện tại, nhưng phải chịu trách nhiệm trước tương lai. Đó là bản lĩnh chính trị, là tầm nhìn chiến lược, là trí tuệ lập pháp và là chiều sâu của một cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Thứ tư: tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gần dân, sát thực tiễn và phản ứng chính sách nhanh hơn.
Trong một thế giới biến động không ngừng, Quốc hội không thể vận hành theo nhịp độ cũ, cách thức cũ. Quốc hội phải có năng lực thích ứng nhanh hơn, phản ứng chính sách kịp thời hơn, quyết định vấn đề nhanh hơn nhưng vẫn chặt chẽ, đúng đắn.
Cần tiếp tục nghiên cứu tăng hợp lý số kỳ họp, đa dạng hóa và linh hoạt hóa các hình thức hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, nhất là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, hình thức trực tuyến và hệ sinh thái số để nâng cao tính kịp thời, chủ động và hiệu quả trong xem xét, quyết định chính sách.
Phải tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng đại biểu Quốc hội, đặc biệt là đại biểu chuyên trách; củng cố, phát huy mạnh hơn nữa vai trò của các Đoàn đại biểu Quốc hội để thật sự là cầu nối chặt chẽ giữa Quốc hội với cử tri và nhân dân; làm sao để mỗi đại biểu vừa có bản lĩnh chính trị, vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực phản biện, vừa có khả năng truyền tải trung thực tiếng nói của nhân dân đến nghị trường.
Quốc hội phải gắn bó mật thiết hơn với nhân dân; mở rộng các kênh tiếp nhận, lắng nghe ý kiến của cử tri, nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học; tăng cường công khai, minh bạch trong toàn bộ hoạt động của mình; xây dựng Quốc hội số, hiện đại, thông minh, nhưng trước hết phải là một Quốc hội gần dân, hiểu dân, vì dân, hành động vì lợi ích của dân.
Khi lòng dân được lắng nghe, khi ý dân được phản ánh trung thực, khi quyết sách xuất phát từ thực tiễn đời sống, thì Quốc hội sẽ mạnh hơn, Nhà nước sẽ vững hơn, niềm tin xã hội sẽ lớn hơn.
Thưa Quốc hội, thưa cử tri và đồng bào cả nước.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI đã bắt đầu với trọng trách vô cùng lớn lao. Tôi tin tưởng và kỳ vọng mỗi vị đại biểu Quốc hội sẽ không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm; thực sự gần dân, sát dân, hiểu dân, lắng nghe dân, phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của nhân dân; đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết trong mọi quyết định. Đó là phẩm chất cốt lõi của người đại biểu nhân dân trong thời kỳ mới.
Đứng trước vận hội mới mang tính lịch sử của dân tộc, chúng ta có đầy đủ cơ sở để tin tưởng sâu sắc rằng: với truyền thống 80 năm vẻ vang của Quốc hội Việt Nam; dưới sự lãnh đạo bản lĩnh, trí tuệ của Đảng; với sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân; với sự phối hợp chặt chẽ của Chính phủ và cả hệ thống chính trị; với tinh thần dân chủ, sáng tạo, nhiệt huyết và trách nhiệm của toàn thể các vị đại biểu Quốc hội, Quốc hội khóa XVI nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Một lần nữa, chúc các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các vị đại biểu Quốc hội; các vị khách quý cùng toàn thể đồng bào, đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và thành công.
Chúc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thành công tốt đẹp.
Vụ cháy tàu khách Hải Phòng - Hà Nội xảy ra sáng 17.4, lúc 10 giờ 30, tại khu vực qua phường Ái Quốc, TP.Hải Phòng, gần cầu Phú Lương, khi đoàn tàu đang di chuyển.
Theo thông tin ban đầu, khi tàu đang lưu thông theo hướng Hải Phòng - Hà Nội thì bất ngờ bốc cháy, ngọn lửa bùng lên dữ dội, khói đen bao trùm khu vực.
Người dân có mặt tại hiện trường cho biết toa gặp sự cố là toa kéo rỗng, không chở hành khách nên không ghi nhận thiệt hại về người. Tuy nhiên, vụ việc khiến khói lan rộng, ảnh hưởng đến giao thông trên QL 5, gây ùn tắc cục bộ.
Ghi nhận tại hiện trường cho thấy, sau vụ cháy, hai khoang phía sau bị lửa thiêu rụi, chỉ còn trơ khung sắt. Ngay sau khi nhận tin báo, lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã nhanh chóng có mặt để xử lý.
Sau khoảng 1 giờ, đám cháy được khống chế và dập tắt. Hiện nguyên nhân vụ cháy đang được cơ quan chức năng làm rõ.
Phía đường sắt cho biết nguyên nhân dự đoán ban đầu có thể do sự cố điều hòa gây nên chập cháy trên khoang tàu.
Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031 vừa được kiện toàn do Thủ tướng Lê Minh Hưng đứng đầu, với 6 Phó thủ tướng và 17 Bộ trưởng, trưởng ngành. VnExpress phỏng vấn TS Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, về những thách thức trong điều hành và các ưu tiên chính sách của Chính phủ nhiệm kỳ mới.
- Chính phủ bắt đầu nhiệm kỳ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động và yêu cầu tăng trưởng cao. Theo ông, những thách thức mang tính nền tảng đặt ra cho công tác điều hành là gì?
- Điểm nổi bật của bối cảnh hiện nay là mức độ biến động và bất định của môi trường quốc tế ngày càng lớn, nhiều yếu tố không thể dự báo trước. Các xung đột địa chính trị diễn ra ở nhiều khu vực không chỉ làm đứt gãy chuỗi cung ứng mà còn tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng, qua đó ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và mặt bằng giá trong nước. Đơn cử, diễn biến tại một số điểm nóng đã khiến giá xăng dầu tăng trong thời gian qua, kéo theo giá hàng hóa leo thang.
Ở trong nước, thách thức lớn hơn nằm ở chỗ Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số ngay từ đầu nhiệm kỳ và kỳ vọng duy trì trong nhiều năm. Đồng thời, nền kinh tế phải chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công, lắp ráp.
Bên cạnh đó, hệ thống chính trị vừa trải qua quá trình tinh gọn bộ máy quy mô lớn từ trung ương đến địa phương, với những thay đổi mang tính cấu trúc như sáp nhập bộ, ngành, giảm số lượng tỉnh, bỏ cấp trung gian, sắp xếp lại đơn vị cơ sở. Sau gần một năm, bộ máy vẫn đang tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn để vận hành thông suốt.
Việc vừa hoàn thiện tổ chức, vừa bảo đảm hiệu lực điều hành và thực hiện các mục tiêu phát triển trong bối cảnh mới là một thách thức rất cụ thể mà Chính phủ cần giải quyết.
- Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong nhiều năm. Vậy đâu là điều kiện then chốt để đạt được mục tiêu này?
- Tăng trưởng kinh tế hai con số từ năm nay và duy trì trong những năm tới là mục tiêu rất khó, nhưng không thể không làm. Như Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, đây là "mệnh lệnh phát triển", thể hiện khát vọng của đất nước trong giai đoạn mới. Nếu không tận dụng được thời cơ để đạt và giữ được tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp, điều mà nhiều quốc gia đã gặp phải.
Để đạt mục tiêu này, trước hết cần nhìn thẳng vào thực trạng nguồn lực và cấu trúc của nền kinh tế. Hiện nay, Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào gia công và lao động chi phí thấp, chưa hình thành được các sản phẩm chủ lực có giá trị gia tăng cao mang thương hiệu của mình.
Nhìn vào xuất khẩu có thể thấy rõ điều này. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 475 tỷ USD, nhưng phần đóng góp thực chất của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành điện tử và công nghiệp chế biến. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Phần đáng kể còn lại thuộc về nông nghiệp, một thế mạnh truyền thống nhưng chủ yếu vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế.
Điều đó cho thấy dư địa tăng trưởng vẫn còn, nhưng đi kèm là rất nhiều việc phải làm. Quan trọng nhất là phải nhìn thẳng vào những hạn chế hiện hữu để có giải pháp phù hợp.
Theo tôi, điểm nghẽn cốt lõi hiện nay là Việt Nam thiếu những doanh nghiệp đủ lớn để dẫn dắt thị trường, không chỉ ở quy mô quốc tế mà ngay cả trên thị trường nội địa. Dù một số ngành như dệt may, da giày, lương thực thực phẩm đã có mức độ tự chủ nhất định, nhưng chưa hình thành được các doanh nghiệp có vai trò đầu tàu.
Ngay trong lĩnh vực nông nghiệp, dù là nước xuất khẩu gạo, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng ngay trong nước, tiêu chuẩn về thực phẩm sạch, thực phẩm chất lượng cao vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ. Điều này phản ánh hạn chế về năng lực tổ chức sản xuất, chế biến và xây dựng thương hiệu. Vì vậy, muốn duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn, Chính phủ cần đặt nền móng để hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia.
Thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế Nhà nước, đều hướng tới mục tiêu hình thành các tập đoàn lớn có vị thế trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, trong thời gian ngắn, việc đưa các doanh nghiệp nhỏ phát triển thành tập đoàn lớn là rất khó. Do đó, cần có tầm nhìn dài hạn.
Ưu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ này theo tôi là tạo nền móng vững chắc, để đến năm 2035 hoặc 2045, Việt Nam có những doanh nghiệp đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, với các sản phẩm "made in Viet Nam".
- Chính phủ cần thiết kế những cơ chế cụ thể nào để tạo nền móng hình thành các doanh nghiệp xương sống quốc gia?
- Để sớm hình thành các doanh nghiệp dân tộc đủ sức chiếm lĩnh thị trường trong nước và vươn ra khu vực, thế giới, Việt Nam cần tận dụng tối đa các thành tựu sẵn có của nhân loại, tức là "đứng trên vai người khổng lồ".
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam có cơ hội tiếp cận các công nghệ mới như sản xuất chip, tự động hóa. Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành năng lực khi có doanh nghiệp đứng ra tiếp nhận và làm chủ. Vì vậy, cần có cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn tham gia vào những lĩnh vực mới, có hàm lượng công nghệ cao.
Nhà nước có thể áp dụng cơ chế đặt hàng và mua sản phẩm của doanh nghiệp theo giá thị trường trong giai đoạn đầu. Khi có đầu ra ổn định, doanh nghiệp mới có động lực đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro để bước vào những ngành mới mà trước đây họ chưa đủ điều kiện tham gia.
Bên cạnh đó, các dự án lớn của quốc gia cần được tận dụng như một công cụ chính sách. Ví dụ, với các dự án đường sắt tốc độ cao như tuyến Bắc Nam, tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Nhà nước có thể chủ động tiếp cận, mua bản quyền công nghệ điều khiển, sau đó giao cho doanh nghiệp trong nước tham gia sản xuất, lắp ráp và từng bước làm chủ.
Cách làm này vừa giúp doanh nghiệp nội địa nhanh chóng tiếp cận trình độ công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực của chính mình, vừa giúp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, phục vụ trực tiếp các dự án trọng điểm của đất nước.
Một lợi thế lớn hiện nay là Việt Nam đang đầu tư mạnh vào nhiều công trình trọng điểm quốc gia. Với các dự án này, Nhà nước có thể áp dụng cơ chế lựa chọn, ưu tiên doanh nghiệp trong nước tham gia, đồng thời quy định rõ tỷ lệ nội địa hóa. Ví dụ, với các tuyến metro tại Hà Nội và TP HCM, cần xác định cụ thể phần nào nhập khẩu, phần nào phải sản xuất, lắp ráp trong nước, và giao nhiệm vụ cho một hoặc một số doanh nghiệp cùng tham gia.
Doanh nghiệp được trao cơ hội phải đi kèm cơ chế đặc thù về đãi ngộ, nhưng đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm rõ ràng về tiến độ và chất lượng. Đây là điều kiện bắt buộc để bảo đảm hiệu quả và tránh rủi ro trong triển khai.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước phát triển dựa vào đất đai hoặc từ quá trình cổ phần hóa. Vì vậy, Chính phủ cần có chính sách để khuyến khích họ chuyển hướng, bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, công nghệ, chấp nhận những thử thách mới. Nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình này là bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
- Ngoài hình thành doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần làm gì để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng trong thực tiễn?
- Chủ trương phát triển dựa vào khoa học, công nghệ không phải bây giờ mới đặt ra. Từ nhiều thập kỷ trước, Việt Nam đã xác định cần đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu này được mở rộng hơn, gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trở thành động lực chính của tăng trưởng.
Để chủ trương này đi vào thực chất, cần bắt đầu từ những lĩnh vực Việt Nam đã có nền tảng, trong đó nông nghiệp là lĩnh vực rõ nhất. Đây là ngành Việt Nam có lợi thế, có quy mô lớn, nhưng mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ vẫn còn hạn chế. Việt Nam nhiều năm qua là nước xuất khẩu gạo, nông sản, thủy sản hàng đầu thế giới, nhưng phần lớn sản phẩm vẫn ở dạng thô hoặc sơ chế. Câu hỏi đặt ra là chúng ta đã ứng dụng khoa học, công nghệ đến đâu trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Có rất nhiều vấn đề căn cơ cần giải quyết như mức độ tự chủ giống cây trồng, tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu, khả năng phát triển các sản phẩm tiêu dùng từ nông sản. Những câu hỏi như trồng lúa hai vụ hay ba vụ, xử lý xâm nhập mặn theo hướng nào, hay xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng như cà phê, hồ tiêu vẫn chưa có lời giải rõ ràng.
Thực tế cho thấy các nước phát triển đã ứng dụng mạnh khoa học, công nghệ trong nông nghiệp, tạo ra hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng. Trong khi đó, Việt Nam chưa chuyển đổi hiệu quả từ xuất khẩu nguyên liệu sang sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Điều này dẫn đến tình trạng quen thuộc như được mùa mất giá, ùn tắc nông sản, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người nông dân và hiệu quả của toàn ngành.
Nếu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trên toàn bộ chuỗi giá trị, từ giống, sản xuất, thu hoạch đến chế biến và phân phối, có thể giải quyết được những điểm nghẽn này. Khi đó, không chỉ nâng cao giá trị sản phẩm mà còn cải thiện đời sống của người nông dân.
Để làm được điều này, Chính phủ cần có cơ chế ưu tiên cho một số doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp, hướng tới tự động hóa, chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường trong nước, trước khi mở rộng xuất khẩu. Đồng thời, cơ quan chức năng cần tổ chức lại sản xuất theo hướng gắn kết giữa kinh tế tập thể và doanh nghiệp cổ phần, hình thành chuỗi giá trị chặt chẽ.
Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ gia công, lắp ráp sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là quá trình dài, đòi hỏi bước đi chắc chắn. Trong đó, nông nghiệp có thể là lĩnh vực khởi đầu phù hợp. Khi thành công ở lĩnh vực này, sẽ tạo nền tảng để mở rộng sang các ngành công nghệ cao như sản xuất chip, trí tuệ nhân tạo và robot.
- Để giảm chi phí thực cho người dân, doanh nghiệp và tạo nền tảng cho doanh nghiệp xương sống, Chính phủ cần cải cách hành chính theo cách nào, bắt đầu từ đâu?
- Cải cách thể chế và thủ tục hành chính đã được đặt ra nhiều năm, nhưng để tạo chuyển biến thực chất, theo tôi cần bắt đầu từ việc số hóa toàn bộ quy trình nội bộ của cơ quan hành chính nhà nước, bảo đảm vận hành thông suốt từ trung ương đến địa phương.
Khi các khâu xử lý được kết nối đồng bộ, thủ tục có thể thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông, không phụ thuộc địa giới hành chính. Người dân và doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ một lần, nhận kết quả trong thời gian được quy định trước, thay vì phải đi lại nhiều nơi và chờ đợi qua nhiều tầng nấc.
Cùng với đó, cần chuyển mạnh từ cơ chế xin phép sang cơ chế công khai tiêu chuẩn, quy chuẩn và hậu kiểm. Những gì người dân, doanh nghiệp được quyền làm thì phải quy định rõ bằng tiêu chí minh bạch, thay vì để họ phải đi xin từng loại giấy phép. Ví dụ, trong một số lĩnh vực như xây dựng, có thể thay thế một phần thủ tục cấp phép bằng các quy định cụ thể về giới hạn kỹ thuật, ai vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm. Làm như vậy vừa thống nhất cách thực hiện, vừa giảm chi phí tuân thủ.
Một điểm quan trọng khác là phải phân loại rõ các lĩnh vực để cải cách đúng trọng tâm. Với những hoạt động liên quan đến sử dụng tài nguyên quốc gia như đất đai, bất động sản, thủ tục phải chặt chẽ vì đó là nơi lợi ích công cần được bảo vệ ở mức cao nhất. Nhưng với lĩnh vực sản xuất, xuất nhập khẩu, cần đơn giản hóa tối đa để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Không thể áp cùng một cách quản lý cho mọi lĩnh vực.
Khi thủ tục được thiết kế theo hướng minh bạch, phân loại rõ và giảm tiền kiểm không cần thiết, người dân và doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí thời gian, chi phí cơ hội và chi phí không chính thức. Đó cũng là điều kiện quan trọng để hình thành môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn phát triển.
Tối 8.4, ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc điều hành gói XD1 (thuộc Ban Quản lý dự án đường bộ miền Trung - chủ đầu tư dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 28B), cho biết quá trình thi công nâng cấp quốc lộ 28B đang bị ảnh hưởng trực tiếp bởi giá xăng dầu tăng đột biến. Việc thi công và thảm nhựa trên tuyến hiện phải tạm chững lại.
Theo ông Tuấn, giá xăng dầu tăng cao đã kéo theo chi phí vận hành máy móc và vật liệu xây dựng tăng mạnh. Trước áp lực tài chính, các nhà thầu đã đề xuất giãn tiến độ dự án nâng cấp quốc lộ 28B, chờ khi giá nhiên liệu và vật tư ổn định hơn mới tiếp tục triển khai đồng loạt.
Trong khoảng 20 ngày gần đây, các đơn vị thi công chỉ thảm nhựa được hơn 1 km tại các đoạn đèo dốc xung yếu nhằm đảm bảo an toàn giao thông. Đối với hơn 7 km còn lại, chủ yếu là các đoạn đường bằng tại Km19, Km21, Km23 và khu vực kết nối cao tốc, nhà thầu xin tạm dừng để tránh thua lỗ nếu tiếp tục thi công trong bối cảnh chi phí tăng cao.
Riêng hạng mục cầu cạn số 4 trên đèo Đại Ninh vẫn đang được duy trì thi công, song cũng gặp khó khăn do phát sinh địa chất phức tạp, tiếp tục ảnh hưởng đến tiến độ chung của toàn dự án nâng cấp quốc lộ 28B.
Như Thanh Niên đã thông tin, theo kế hoạch của chủ đầu tư, toàn tuyến quốc lộ 28B sẽ hoàn thành thảm nhựa vào cuối tháng 4.2026 nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân và du khách, nhất là trong thời gian sân bay Liên Khương tạm đóng cửa để nâng cấp đến cuối tháng 8.2026.
Dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 28B đã được Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) phê duyệt tại Quyết định số 1495/QĐ-BGTVT ngày 16.11.2023. Tuyến đường có tổng chiều dài khoảng 68 km, thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025. Theo lộ trình, công trình sẽ hoàn thành thi công trong năm 2025 và hoàn thiện, bàn giao trong năm 2026.