Trả lời câu hỏi của Thanh Niên tại buổi họp báo thường kỳ quý 1/2026 của Bộ Tài chính chiều 9.4, ông Lê Long, Phó cục trưởng Cục Thuế (Bộ Tài chính), cho biết việc doanh nghiệp sử dụng song song 2 hệ thống sổ kế toán, một để theo dõi thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh và một để cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng để gian lận thuế hoặc gian lận trong công tác lập, phát hành báo cáo tài chính nhằm mục đích xấu (tham gia thầu, vay vốn ngân hàng…).
Điều này thể hiện ý thức trách nhiệm xã hội yếu kém của chủ doanh nghiệp. Đây không chỉ là vấn đề thất thu ngân sách nhà nước mà còn gây ảnh hưởng lâu dài cho nền kinh tế, môi trường kinh doanh.
Điểm đáng lo ngại của hành vi này là có thể diễn ra có hệ thống, hết sức tinh vi, dễ che giấu và khó phát hiện nếu không có kỹ năng thanh tra, kiểm tra chuyên sâu hoặc nghiệp vụ điều tra của cơ quan chức năng.
Ông Long nhấn mạnh, một số vụ án lớn đã bị cơ quan chức năng phát hiện, làm rõ gần đây như: vụ án Công ty Hoàng Long lập 2 sổ sách kế toán, để ngoài sổ sách nhằm che giấu doanh thu, gây thiệt hại về thuế cho nhà nước hơn 241 tỉ đồng.
Cạnh đó là vụ án xảy ra tại Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu sử dụng 2 hệ thống phần mềm để quản lý và kê khai báo cáo thuế, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước khoảng 150 tỉ đồng… Đây là thực tế đáng báo động về quy mô, tính chất nghiêm trọng ngày càng gia tăng của hành vi phạm tội này.
Lãnh đạo Cục Thuế nêu rõ, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, như: ý thức tuân thủ pháp luật, đạo đức kinh doanh hạn chế; doanh nghiệp mang động cơ quyết liệt tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu nghĩa vụ thuế, xem nhẹ, chưa nhận thức đầy đủ rủi ro hình sự sẽ phải đối mặt hoặc chấp nhận đánh đổi…
Mới đây, tại công văn về phối hợp ngăn chặn hành vi gian lận thuế sử dụng song song 2 hệ thống sổ sách kế toán tài chính, Cục Thuế đề nghị các tổ chức cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử; các tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế phối hợp triển khai các biện pháp ngăn chặn hành vi gian lận thuế.
Các tổ chức phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế trong cung cấp thông tin về khách hàng vận hành song song 2 hệ thống phần mềm sổ kế toán tài chính (thông tin cung cấp gồm tên người nộp thuế, mã số thuế, địa chỉ trụ sở, địa điểm kinh doanh).
Lập danh sách toàn bộ khách hàng đã sử dụng phần mềm sổ kế toán tài chính do tổ chức cung cấp đến hết ngày 31.3 gửi về Cục Thuế trước ngày 8.4.
“Việc thu thập thông tin nêu trên giúp Cục Thuế nắm bắt được số lượng doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh đang sử dụng phần mềm kế toán để từ đó triển khai các giải pháp nhằm hỗ trợ các đơn vị trong công tác thực hiện kê khai, nộp thuế… đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế đối với ngân sách nhà nước”, ông Long nói.
Kết quả cụ thể, tính đến ngày 7.4, Cục Thuế đã nhận được danh sách khách hàng của 42 tổ chức với thông tin của 12.809 khách hàng đang sử dụng các phần mềm kế toán của tổ chức. Cục Thuế đang tiếp tục phối hợp với các tổ chức tổng hợp thông tin trên phạm vi cả nước.
“Cục Thuế sẽ sử dụng các thông tin, dữ liệu thu thập để rà soát đưa ra các cảnh báo, khuyến nghị đối với các tổ chức, doanh nghiệp, hộ kinh doanh có sử dụng song song nhiều sổ kế toán từ tháng 4 nhằm phục vụ công tác quản lý thuế”, ông Long cho biết.
Để ngăn chặn hiệu quả tình trạng doanh nghiệp sử dụng 2 hệ thống sổ sách kế toán nhằm gian lận thuế, Cục Thuế đã, đang và sẽ tăng cường kiểm soát chặt dòng tiền, giảm sử dụng tiền mặt; tăng cường kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế và hệ thống ngân hàng; kiểm soát các giao dịch có giá trị lớn qua tài khoản.
Cạnh đó, giải pháp quan trọng là ứng dụng công nghệ và phân tích dữ liệu: sử dụng big data, trí tuệ nhân tạo (AI) để phân tích rủi ro, phát hiện dấu hiệu 2 hệ thống sổ kế toán từ biến động doanh thu bất thường, biên lợi nhuận thấp bất hợp lý.
Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phối hợp điều tra và xử lý hình sự: xác định dấu hiệu tổ chức, cá nhân có dấu hiệu gian lận về thuế, trốn thuế để củng cố hồ sơ, kịp thời chuyển hồ sơ sang cơ quan công an khi có dấu hiệu tội phạm.
Theo Chi cục Hải quan Khu vực IX, đơn vị này vừa có Quyết định số 218, ngày 3.4, về việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Cụ thể, cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Công ty TNHH Anh Trang, địa chỉ đặt tại phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị, để thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 189 ngày 31.8.2023 của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình (cũ, nay thuộc tỉnh Quảng Trị).
Lý do bị cưỡng chế: Người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo thời hạn ghi trên quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế.
Số tiền bị cưỡng chế là 4.691.803.997 đồng (gần 4,7 tỉ đồng).
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 10.4.2026, thời hạn trong 1 năm, đến ngày 9.4.2027. Quyết định này sẽ được chấm dứt hiệu lực kể từ khi tiền nợ thuế của doanh nghiệp được nộp đủ vào ngân sách Nhà nước.
Trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Công ty TNHH Anh Trang trong tình trạng đang hoạt động, đã hoạt động gần 20 năm. Ngành nghề kinh doanh chính là bán buôn tre, nứa, gỗ cây và gỗ chế biến. Cụ thể, mua bán, xuất nhập khẩu gỗ các loại (gỗ có nguồn gốc hợp pháp).
Ngày 15.4, UBND TP.Cần Thơ có buổi làm việc với các doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu lúa gạo trên địa bàn nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong bối cảnh giá lúa giảm và việc tiêu thụ còn nhiều vướng mắc.
Báo cáo tại buổi làm việc, ông Nguyễn Văn Sử, Chủ tịch Hội Nông dân TP.Cần Thơ, nêu lên một hiện trạng tương phản đáng buồn, đó là năng suất vụ lúa đông xuân 2026 rất tốt nhưng giá giảm, nhiều nơi không có thương lái thu mua. Khó khăn chồng chất khi nông dân đang phải gồng mình chịu "cơn bão" giá từ xăng dầu, vật tư nông nghiệp, chi phí nhân công.
Theo thống kê, áp lực mùa vụ sẽ còn nặng nề hơn khi cuối tháng 4 và đầu tháng 5.2026, sản lượng lúa sắp thu hoạch ước tính khoảng 1 triệu tấn. Để hỗ trợ bà con tiêu thụ, Hội Nông dân TP.Cần Thơ đã chủ động xin danh sách doanh nghiệp từ Sở NN-MT, Sở Công thương để liên hệ mời về địa bàn, hợp tác xã hỗ trợ mua lúa. Thế nhưng, kết quả không mấy khả quan.
"Chúng tôi điện thoại đến 20 doanh nghiệp thì hầu như chỉ có 10 doanh nghiệp nghe máy. Trong các doanh nghiệp nghe máy, có người trả lời đã có kế hoạch từ đầu vụ, có người nói năng lực sản xuất chưa đạt nhưng vướng vấn đề tài chính", ông Sử thông tin và cho biết đến nay, số lượng doanh nghiệp thật sự "gật đầu" mua lúa chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Trước tình cảnh này, người nông dân chỉ còn biết gửi gắm hy vọng vào những chính sách sát sườn như khoanh nợ, giãn nợ hoặc hạ lãi suất vay vốn. Thậm chí, nhiều người bắt đầu tính đến đường lùi, mong muốn thành phố định hướng chuyển đổi sang mô hình lúa - rau màu hoặc lúa - thủy sản để thoát khỏi vòng xoáy bấp bênh của lúa gạo.
Phát biểu tại buổi làm việc, ông Vương Quốc Nam, Phó chủ tịch UBND TP.Cần Thơ, cho biết sau sáp nhập, thành phố có 34 doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu lúa gạo. Vấn đề mà doanh nghiệp đang thiếu nhất là vốn tín dụng, hạ tầng cho logistics (kho, bến, bãi) và chính sách hỗ trợ kịp thời.
Để ngành hàng phát triển bền vững, lãnh đạo TP.Cần Thơ nhận định vai trò trước hết thuộc về Sở Công thương. Sở phải nắm bắt thông tin thị trường, kết nối cung cầu, xúc tiến thương mại kịp thời, không để tình trạng doanh nghiệp gặp khó mà phải "chờ tới hội nghị mới kêu cứu".
Trong khi đó, các hợp tác xã có thể vay vốn tín dụng 3 - 5 tỉ đồng không thế chấp trong điều kiện quy định. Đây là điều kiện để các hợp tác xã đầu tư phương tiện vận chuyển lúa khi thu hoạch rộ, góp phần chủ động trong khâu liên kết sản xuất. "Nếu doanh nghiệp đầu tư ghe, tàu, xe cộ để vận chuyển mua lúa trong vùng nông thôn thì rất khó và cũng lãng phí", ông Nam nói.
Đối với các doanh nghiệp, lãnh đạo TP.Cần Thơ yêu cầu cần cơ cấu lại năng lực kinh doanh, tài chính, công nghệ và yếu tố con người. Vấn đề cần quan tâm, xem xét là liên kết lại với các hợp tác xã và nông dân để xây dựng vùng nguyên liệu bền vững, thay vì chỉ thông qua thương lái.
Đặc biệt, các bên cần phải có sự thấu hiểu, giữ chữ tín trong khâu sản xuất, vì đây là yếu tố quan trọng giúp ngành lúa gạo vượt qua cơn bão giá thị trường. "Nông dân ai cũng muốn bán giá cao, doanh nghiệp cũng muốn xuất khẩu tốt. Nhưng thị trường mới là yếu tố quyết định, mà thị trường thì lúc có sóng, lúc êm. Vì vậy, giữa các bên cần có sự cân nhắc, hài hòa, lúc khó khăn thì cùng chia sẻ với nhau", ông Nam nói.
Nghị định 72 ngày 9.3.2026 của Chính phủ về điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu sản xuất xăng, dầu xuống mức 0% tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023, thời gian áp dụng đến hết ngày 30.4 năm nay.
Theo đánh giá của Bộ Công thương, ngay sau khi được ban hành, Nghị định 72 đã phát huy hiệu quả thiết thực, trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa nguồn cung và giảm thiểu các tác động tiêu cực từ biến động giá năng lượng toàn cầu.
Đặc biệt, trong bối cảnh xung đột tại khu vực Trung Đông gây đứt gãy chuỗi cung ứng từ các thị trường truyền thống (như Hàn Quốc và ASEAN), chính sách thuế 0% đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn hàng thay thế có xuất xứ ngoài khu vực ASEAN và Hàn Quốc góp phần quan trọng vào việc đảm bảo cung ứng cho thị trường nội địa.
Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, xung đột quân sự tại Trung Đông vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường, nguồn cung vẫn hạn hẹp, giá xăng dầu thế giới vẫn tiếp tục gia tăng. Trong khi đó, thời gian áp dụng Nghị định 72 sẽ kết thúc vào ngày 30.4 tới, trong bối cảnh các doanh nghiệp đã phải đàm phán cho các lô hàng tháng 4, tháng 5, tháng 6.
Do vậy, điều này (mốc thời gian 30.4 của Nghị định 72 - PV) gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc chủ động xây dựng kế hoạch nhập khẩu, ký kết hợp đồng và tổ chức sản xuất kinh doanh một cách liên tục, hiệu quả, ổn định trong trung và dài hạn trong bối cảnh xung đột, chiến tranh trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp.
Từ đó, Bộ Tài chính xây dựng dự thảo nghị quyết của Chính phủ về việc kéo dài thời hạn áp dụng của Nghị định số 72, áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng nguyên liệu sản xuất xăng, dầu đến hết ngày 30.6.2026. Điều này nhằm góp phần ổn định thị trường xăng, dầu, đảm bảo an ninh năng lượng trong nước trước bối cảnh tình hình thế giới vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường. Đồng thời, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế; đảm bảo tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành theo quy định của pháp luật.
Bộ Tài chính đề xuất quy định trên có hiệu lực kể từ ngày ký đến ngày 30.6. 2026. Sau ngày Nghị quyết này hết hiệu lực, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu quy định tại Nghị quyết này và Nghị định số 72 thực hiện theo quy định tại Nghị định 26/2023.