Mục Lục
ToggleTrong tháng trước, Washington đã nới lỏng lệnh cấm vận lên Moscow bằng cách cho phép các quốc gia mua dầu thô của Nga đã được vận chuyển trên biển cho đến ngày 11.4 nhằm ổn định thị trường năng lượng, sau khi eo biển Hormuz bị đóng cửa.
“Chúng tôi đã liên lạc với Bộ Ngoại giao để tìm kiếm cơ hội khác hoặc gia hạn việc nới lỏng lệnh cấm vận”, Bộ trưởng Năng lượng Philippines Sharon Garin nói với các phóng viên, đồng thời cho biết thêm yêu cầu này đã được chính thức chuyển đến Mỹ.
Bà Garin cho biết thêm dù chưa có phản hồi từ Mỹ, Philippines vẫn “rất lạc quan về việc có được thêm cơ hội này. Nếu không thành công, chúng tôi cũng có những lựa chọn khác”.
“Bộ Năng lượng nhận thấy vấn đề hiện tại không chỉ là vấn đề của hôm nay, tuần tới hay tháng tới. Đó sẽ là một vấn đề kéo dài”, bà Garin nhận định.
Khoảng 30% dầu thô nhập khẩu của Philippines phải đi qua eo biển Hormuz. Phần còn lại nhu cầu nhiên liệu của nước này được cung cấp từ các nhà máy lọc dầu châu Á, vốn cũng phụ thuộc vào dầu thô từ Trung Đông.
Nếu không thể có thêm dầu thô của Nga, bà Garin cho hay Manila sẽ xem xét các nguồn khác như Colombia, Mỹ và Canada.
Bà Garin nhấn mạnh dù những quốc gia này cung cấp các loại dầu thô khác nhau, “chúng tôi vẫn có thể sử dụng các sản phẩm tinh chế của họ”, và nói thêm rằng Manila cũng sẽ xem xét các nhà cung cấp khác như Brunei và Ấn Độ.
“Chúng tôi muốn mở kênh nhập khẩu từ Nga nhưng chúng tôi muốn có nhiều lựa chọn hơn. Chúng tôi cần đa dạng hóa để không chỉ phụ thuộc vào một quốc gia”. Philippines hiện có lượng dầu mỏ dự trữ đủ dùng trong khoảng 50 ngày, theo bà Garin.
Trong khi đó, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) ngày 14.4 cho rằng Nga đã thu về 19 tỉ USD trong tháng trước, khi xuất khẩu dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ của nước này đạt 7,1 triệu thùng/ngày, tăng thêm 320.000 thùng/ngày so với sản lượng của tháng 2, theo AFP.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thế Giới
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị có các dự án 'hải đăng' trong hợp tác Việt Nam và Slovakia

Chiều 13-4, tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tiếp Thủ tướng Slovakia Robert Fico đang thăm chính thức Việt Nam.
Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao, tại cuộc tiếp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam nhất quán coi trọng và mong muốn làm sâu sắc hơn nữa quan hệ với Slovakia, đối tác bạn bè truyền thống quan trọng hàng đầu tại khu vực Trung Đông Âu.
Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng và sẵn sàng tăng cường quan hệ với các chính đảng của Slovakia, nhất là với Đảng Smer - SD (Đảng Dân chủ xã hội) và các đảng trong liên minh cầm quyền của Thủ tướng Robert Fico.
Đánh giá cao kết quả hội đàm giữa Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Robert Fico, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ sự hài lòng khi hai nước chính thức nâng cấp quan hệ lên tầm Đối tác chiến lược, thể hiện mức độ tin cậy chính trị cao giữa hai nước.
Đáp lại, Thủ tướng Slovakia Robert Fico bày tỏ vui mừng và xúc động được thăm lại Việt Nam, đồng thời chia sẻ cá nhân ông có tình cảm rất đặc biệt với đất nước và con người Việt Nam.
Nhà lãnh đạo Slovakia cho biết luôn trân trọng dân tộc Việt Nam anh hùng trong đấu tranh giải phóng dân tộc và một Việt Nam vô cùng năng động trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, nhất là chính sách đối ngoại đúng đắn của Việt Nam trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến hết sức phức tạp hiện nay.
Việt Nam, theo Thủ tướng Robert Fico, luôn là nguồn cảm hứng để Slovakia học hỏi kinh nghiệm trong phát triển, hội nhập quốc tế và khu vực; nhấn mạnh Slovakia luôn coi Việt Nam là đối tác quan trọng nhất tại Đông Nam Á và 1 trong 3 đối tác lớn nhất tại châu Á.
Nhà lãnh đạo Slovakia kế đó nhấn mạnh ông hết sức vui mừng về kết quả chuyến thăm, nhất là việc hai nước nâng tầm quan hệ lên Đối tác chiến lược và việc hai bên ký nhiều văn kiện hợp tác trong chuyến thăm này sẽ tạo xung lực mới trong hợp tác.
Nhất trí với ý kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng Slovakia cho biết sẽ phối hợp chặt chẽ với phía Việt Nam để triển khai ngay các thỏa thuận đạt được. Trong đó đặc biệt là các lĩnh vực mang tính đột phá như kinh tế - thương mại, khoa học - kỹ thuật, quốc phòng - an ninh, công nghiệp, năng lượng tái tạo, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo (AI).
Cũng tại cuộc gặp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu một số định hướng lớn để hai bên triển khai thực chất, hiệu quả, tương xứng với quan hệ Đối tác chiến lược mà hai bên vừa nâng cấp.
Trong đó, nhằm tăng cường hơn nữa sự tin cậy chính trị, hai bên cần đẩy mạnh trao đổi đoàn các cấp trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ và giao lưu nhân dân.
Về kinh tế, thương mại và đầu tư, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị đưa hợp tác trong các lĩnh vực này trở thành trụ cột chính trong hợp tác; tận dụng tối đa vị trí cửa ngõ của hai nước để tiếp cận thị trường ASEAN và EU.
Ông đề nghị hai nước chú trọng thành lập các dự án "hải đăng" trong các lĩnh vực công nghiệp ô tô, năng lượng tái tạo, công nghệ cao, chuyển đổi số và công nghệ thông tin, đào tạo nhân lực chất lượng cao, tăng cường hợp tác lao động và mở rộng hợp tác địa phương hai nước.
Trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, hai bên nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tin tưởng rằng với tầm vóc Đối tác chiến lược, quan hệ Việt Nam - Slovakia sẽ không ngừng phát triển mạnh mẽ.
Nhân dịp này, Thủ tướng Robert Fico đã chuyển lời mời của Tổng thống Peter Pellegrini mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Slovakia. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cảm ơn và vui vẻ nhận lời, cho biết sẽ thăm Slovakia vào thời điểm phù hợp.
Trước đó, cũng trong ngày 13-4, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Slovakia Robert Fico đã cùng dự, phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Slovakia.
Tại diễn đàn, dưới sự chứng kiến của hai Thủ tướng và các đại biểu cấp cao, các doanh nghiệp hai nước đã trao 7 biên bản ghi nhớ hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, công nghệ, y tế, tài chính, hạ tầng, bất động sản, môi trường và phát triển khu công nghiệp.
Các thỏa thuận này được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho hợp tác kinh tế song phương, đồng thời mở ra cơ hội đầu tư cụ thể cho doanh nghiệp hai bên tại mỗi thị trường.
Thủ tướng Robert Fico khẳng định Slovakia có nhiều lĩnh vực thế mạnh và mong muốn đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam như đào tạo nhân lực, công nghiệp cơ khí, công nghiệp quốc phòng, an ninh mạng, công nghiệp ô tô, y tế.
Đáng chú ý, ông cho biết Slovakia hoan nghênh lực lượng lao động rất lành nghề của Việt Nam đến làm việc ở nước này. Phía Slovakia sẽ tạo điều kiện cho lao động Việt Nam như người dân địa phương, tạo điều kiện hơn nữa cho cộng đồng người Việt Nam ở Slovakia học tập và sinh sống.
Mong muốn các công ty của Slovakia thành công ở Việt Nam, Thủ tướng Robert Fico cũng bày tỏ trân trọng đầu tư của Việt Nam, nhấn mạnh bất kỳ công ty Việt Nam nào quan tâm đặt cơ sở tại Slovakia đều được hoan nghênh với việc Chính phủ Slovakia tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp Việt Nam đầu tư.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Báo cáo mới về Vải liệm Turin cho thấy sợi vải dùng để dệt nên thánh tích này nhiều khả năng xuất phát từ khu vực thung lũng Indus thuộc Ấn Độ cổ đại. Đây là tấm vải lanh được cho là từng được dùng để quấn thi hài Chúa Jesus sau khi ông bị đóng đinh trên thập tự giá.
Đến tận lúc này, hiện vật có kích thước khoảng 4,4 m x 1,1 m vẫn là một trong những thánh tích Kitô giáo gây tranh cãi nhất thế giới. Vải liệm lần đầu được ghi chép vào tài liệu tại Pháp năm 1354 và hiện được lưu giữ tại Nhà thờ chính tòa Turin của Ý.
Các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu tấm vải nhằm xác định nguồn gốc thực sự của nó.
Theo công trình nghiên cứu mới được công bố, kết quả phân tích ADN các mẫu vật thu thập từ năm 1978 cho thấy vật liệu vải nhiều khả năng xuất xứ từ Ấn Độ.
Đội ngũ nghiên cứu, trong đó có nhà khoa học Gianni Barcaccia của Đại học Padova (Ý), cũng phát hiện sự hiện diện của nhiều loại vật chất từ động vật, thực vật và con người bên trong vải liệm qua nhiều năm.
"Kết quả phân tích các dấu vết ADN trên Vải liệm Turin cho thấy cổ vật có khả năng đã tiếp xúc rộng rãi trong [môi trường] khu vực Địa Trung Hải, đồng thời không loại trừ khả năng sợi dệt được sản xuất tại Ấn Độ", theo báo cáo đăng trên cổng thông tin Bioarxiv.
Những vật liệu di truyền được tìm thấy trên tấm vải bao gồm ADN của nhiều loài động vật nuôi như chó, mèo, gà, bò, dê, cừu, lợn, ngựa, cũng như động vật hoang dã như hươu và thỏ.
Không dừng lại ở đó, ADN của cà rốt, ớt, cà chua, khoai tây và một số loài lúa mì cũng được tìm thấy trên các mẫu vải.
Do tấm vải liệm dường như đã tiếp xúc với nhiều người, các nhà nghiên cứu cho rằng việc xác định "ADN nguyên thủy" của nó gần như là điều bất khả thi.
Đáng chú ý, nghiên cứu mới phát hiện gần 40% ADN người trên tấm khăn thuộc các dòng gien Ấn Độ.
"Sự hiện diện của 38,7% trong tổng số dữ liệu hệ gien người lại có nguồn gốc từ các dòng gien Ấn Độ là điều bất ngờ, và có thể liên quan đến các tương tác lịch sử, như việc nhập khẩu vải lanh hoặc sợi dệt từ khu vực gần Thung lũng Indus", theo đội ngũ nghiên cứu.
Báo cáo cho rằng kết quả trên nhiều khả năng phản ánh các tiếp xúc lịch sử với thánh tích, hoặc việc người La Mã từng nhập khẩu vải lanh từ các khu vực gần Thung lũng Indus.
Việc Vải liệm Turin bị con người chạm vào thường xuyên trong suốt nhiều thế kỷ cũng được xác nhận qua sự hiện diện của vi khuẩn trên da người, bao gồm Cutibacterium và Staphylococcus, trong các mẫu phân tích.
"Về mặt tổng thể, các phát hiện trước đây và hiện tại của chúng tôi cung cấp những hiểu biết quan trọng về nguồn gốc địa lý của những cá nhân từng tiếp xúc với Vải liệm trong cuộc hành trình lịch sử xuyên suốt nhiều khu vực, cộng đồng và trong những thời kỳ khác nhau", báo cáo nêu rõ.
"Bằng chứng di truyền và vi sinh cho thấy lịch sử phức tạp của Vải liệm Turin, phản ánh sự tương tác với nhiều nhóm người khác nhau", các nhà khoa học nhấn mạnh.
Tuy nhiên, kết quả phân tích mới nhất vẫn chưa thể giúp xác định niên đại của thánh tích, vốn là câu hỏi luôn được tìm kiếm lâu nay.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/bat-ngo-tu-ket-qua-phan-tich-vai-liem-turin-185260410093712142.htm

Tính đến ngày 14/4, hai bên đều sử dụng “lá bài Hormuz” như công cụ gây sức ép trong đàm phán và định hình cán cân khu vực.
Hormuz - “van năng lượng” biến thành chiến trường chiến lược
Trong nhiều thập niên, eo biển Hormuz luôn được coi là van điều tiết của thị trường năng lượng toàn cầu. Tuy nhiên, bước sang đầu năm 2026, tuyến hàng hải này đã chuyển hóa thành bàn cờ chiến lược nơi Mỹ và Iran tiến hành cuộc đấu trí phức tạp, vừa răn đe quân sự vừa mặc cả ngoại giao.
Căng thẳng leo thang sau khi xung đột khu vực Trung Đông bùng phát cuối tháng 2. Theo VZ, lưu thông hàng hải qua eo biển bắt đầu bị gián đoạn mạnh từ thời điểm đó, khi Iran sử dụng các biện pháp quân sự nhằm gây áp lực sau các cuộc không kích của Mỹ và đồng minh.
Đến đầu tháng 4, cuộc đối đầu bước sang giai đoạn mới. Sau khi vòng đàm phán Mỹ - Iran ngày 11/4 tại Pakistan không đạt kết quả, Washington quyết định chuyển từ cảnh báo sang hành động. Ngày 13/4, Tổng thống Mỹ Donald Trump ra lệnh phong tỏa hàng hải đối với tàu ra vào các cảng Iran, động thái được xem là nhằm “tăng áp lực lên Tehran”, đồng thời vẫn để ngỏ khả năng đàm phán tiếp. Quyết định này lập tức làm thay đổi cán cân trên biển. Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ thông báo lực lượng hải quân sẽ kiểm soát toàn bộ tàu thuyền liên quan đến Iran, bắt đầu từ sáng ngày 13/4 theo giờ Mỹ.
Iran đáp trả bằng những ngôn từ cứng rắn. Theo đó, Lực lượng hải quân của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) cảnh báo rằng mọi “động thái sai lầm” của đối phương có thể dẫn tới “vòng xoáy chết chóc” tại eo biển, kèm theo hình ảnh tàu quân sự trong tầm ngắm.
Sự đối đầu này khiến eo biển Hormuz không chỉ là điểm nóng quân sự, mà còn là “công cụ mặc cả chính trị”. Giới nhà quan sát phương Tây nhận định, cả Mỹ và Iran đều không muốn đóng hẳn tuyến vận tải này, bởi nó sẽ gây ra cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu, nhưng sẵn sàng tạo ra “mức độ bất ổn có kiểm soát” để gây sức ép chiến lược.
Chiến lược của Mỹ - kiểm soát tuyến hàng hải để tạo lợi thế đàm phán
Giới chuyên gia cho rằng, Mỹ đang lựa chọn chiến thuật “phong tỏa có chọn lọc”, nhằm làm suy yếu kinh tế Iran nhưng tránh gây tắc nghẽn toàn bộ dòng chảy thương mại quốc tế. Theo thông tin từ giới phân tích và dữ liệu thị trường, lệnh phong tỏa của Mỹ có thể khiến khoảng 2 triệu thùng dầu/ngày của Iran không thể tiếp cận thị trường, qua đó gia tăng áp lực lên Tehran.
Mỹ lập luận rằng động thái này là phản ứng trước việc Iran đe dọa tuyến vận tải toàn cầu. Các quan chức Mỹ cáo buộc Tehran “đe dọa bất kỳ con tàu nào di chuyển qua eo biển”, đồng thời khẳng định Mỹ sẽ áp dụng nguyên tắc “không cho tàu Iran đi qua” nếu căng thẳng tiếp diễn.
Đáng chú ý, chiến lược của Mỹ không chỉ là quân sự. Việc phong tỏa được triển khai song song với các tín hiệu ngoại giao. Một số nguồn tin cho biết Mỹ vẫn cân nhắc nối lại đàm phán trong tuần, bất chấp căng thẳng trên biển.
Điều này cho thấy Washington đang sử dụng eo biển Hormuz như một “đòn bẩy kép”: vừa tạo sức ép kinh tế lên Iran; đồng thời duy trì cánh cửa đàm phán và kiểm soát rủi ro leo thang quân sự.
Tuy nhiên, chiến thuật này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các nhà phân tích quốc tế cảnh báo rằng việc Mỹ phong tỏa eo Hormuz từ xa có thể mở rộng xung đột sang “chiến tranh trên biển”, làm tăng giá dầu và gây tổn thất kinh tế toàn cầu.
Một yếu tố khác khiến chiến lược của Mỹ phức tạp hơn là việc lệnh phong tỏa chưa hoàn toàn hiệu quả. Dữ liệu theo dõi tàu cho thấy nhiều tàu chở dầu vẫn vượt eo biển sau khi lệnh có hiệu lực, đặt ra câu hỏi về khả năng thực thi. Thậm chí, một tàu bị Mỹ trừng phạt vẫn đi qua eo biển, “thử thách” lệnh phong tỏa, theo dữ liệu vận tải được các hãng truyền thông phương Tây dẫn lại. Những diễn biến này cho thấy Mỹ đang kiểm soát chiến lược nhưng chưa nắm hoàn toàn thực địa - một đặc điểm điển hình của cuộc đấu trí “vùng xám”.
Chiến lược của Iran - răn đe bất đối xứng và “ngoại giao rủi ro”
Trong khi Mỹ tận dụng ưu thế hải quân, Iran lựa chọn chiến thuật bất đối xứng, tạo rủi ro mà không đối đầu trực diện. Tehran khẳng định mọi mối đe dọa đối với eo biển Hormuz sẽ “gây chấn động thương mại toàn cầu”, đồng thời nhấn mạnh eo biển là lợi ích sống còn của Iran.
Chiến lược của Iran gồm ba lớp: Thứ nhất, răn đe quân sự “vùng xám”. Iran sử dụng tàu nhỏ, UAV, thủy lôi và cảnh báo hải quân nhằm tạo tâm lý bất ổn, khiến chi phí bảo hiểm vận tải tăng và gây áp lực lên các nền kinh tế phụ thuộc dầu mỏ. Thứ hai, chiến thuật “đe dọa nhưng không đóng cửa”. Tehran hiểu rằng phong tỏa hoàn toàn eo Hormuz sẽ gây thiệt hại cho chính mình. Do đó, họ duy trì mức độ bất ổn vừa đủ để giữ đòn bẩy. Thứ ba, tận dụng kênh đàm phán. Các nguồn tin cho thấy hai bên vẫn cân nhắc vòng đàm phán mới tại Pakistan và eo biển Hormuz tiếp tục trở thành chủ đề mặc cả quan trọng.
Một điểm đáng chú ý là Iran không phản ứng bằng tấn công trực diện. Điều này cho thấy Tehran ưu tiên “ngoại giao rủi ro”: tạo áp lực nhưng tránh chiến tranh tổng lực. Chiến lược này từng được Iran áp dụng trong các cuộc khủng hoảng trước đây và tiếp tục phát huy hiệu quả trong bối cảnh 2026, khi Mỹ muốn tránh mở rộng xung đột.
Thế giằng co và hệ lụy địa chính trị toàn cầu
Cuộc đấu trí giữa Mỹ và Iran tại eo biển Hormuz đang mang tính chất giằng co. Hai bên đều muốn thể hiện quyết tâm nhưng không vượt “lằn ranh đỏ”.
Một mặt, Mỹ kiểm soát các tàu liên quan đến Iran; mặt khác, nhiều tàu vẫn đi qua, cho thấy lệnh phong tỏa chưa hoàn toàn chặt chẽ. Trong khi đó, Iran tiếp tục cảnh báo mạnh mẽ nhưng chưa có hành động đóng eo biển hoàn toàn. Điều này phản ánh chiến lược kiềm chế của cả hai phía.
Hệ lụy lớn nhất của thực trạng trên là đối với thị trường năng lượng. Việc phong tỏa eo Hormuz có thể khiến hàng trăm tàu bị kẹt và làm gián đoạn chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, cuộc đấu trí còn kéo theo cạnh tranh giữa các cường quốc.
Các nước nhập khẩu dầu như Ấn Độ và châu Âu đều theo dõi sát tình hình, bởi bất kỳ gián đoạn nào cũng tác động đến kinh tế toàn cầu. Ngoài ra, eo Hormuz còn trở thành đòn bẩy chính trị trong đàm phán rộng hơn. Một số nguồn tin cho biết Mỹ yêu cầu Iran mở hoàn toàn eo biển như một phần của thỏa thuận hòa bình, trong khi Tehran coi đây là lợi ích chiến lược không thể nhượng bộ.
Cuộc đấu trí chưa có hồi kết
Giới chuyên gia nhận định, cuộc đấu trí giữa Mỹ và Iran tại eo Hormuz không đơn thuần là cuộc đối đầu quân sự truyền thống, mà là sự kết hợp phức hợp của nhiều công cụ quyền lực. Hai bên đồng thời sử dụng răn đe hải quân, thông qua triển khai lực lượng và kiểm soát tuyến hàng hải, gây áp lực kinh tế bằng các biện pháp phong tỏa hoặc đe dọa gián đoạn dòng chảy năng lượng, tiến hành chiến tranh tâm lý nhằm tác động tới thị trường và dư luận quốc tế, đồng thời duy trì các kênh mặc cả ngoại giao để giữ không gian đàm phán.
Chính sự đan xen giữa biện pháp “cứng” và “mềm” này khiến Hormuz trở thành điểm nóng mang tính chiến lược, nơi các động thái quân sự chỉ là một phần trong tổng thể cuộc cạnh tranh rộng hơn về ảnh hưởng và lợi ích.
Cả Mỹ và Iran đều nhận thức rõ rằng một cuộc chiến tranh toàn diện tại Vịnh Ba Tư sẽ kéo theo hệ quả nghiêm trọng không chỉ đối với hai nước, mà còn đối với kinh tế toàn cầu. Việc đóng hoàn toàn eo biển Hormuz - tuyến vận chuyển 20% nguồn cung năng lượng thế giới, có thể làm gián đoạn thương mại, đẩy giá dầu tăng vọt và kéo theo phản ứng dây chuyền về kinh tế - chính trị.
Vì vậy, hai bên đều lựa chọn chiến lược “leo thang có kiểm soát”: duy trì sức ép đủ lớn để giành lợi thế, nhưng tránh vượt qua lằn ranh có thể dẫn tới xung đột trực diện. Kết quả là eo Hormuz luôn ở trạng thái căng thẳng cao độ, song vẫn chưa rơi vào khủng hoảng toàn diện.
Trong ngắn hạn, kịch bản nhiều khả năng vẫn là sự giằng co kéo dài. Mỹ có thể tiếp tục duy trì các biện pháp kiểm soát hàng hải và phong tỏa hạn chế nhằm gây sức ép kinh tế, trong khi Iran đẩy mạnh các biện pháp răn đe bất đối xứng như tuần tra dày đặc, cảnh báo quân sự hoặc các hoạt động “vùng xám”. Song song với đó, các kênh ngoại giao vẫn được duy trì, bởi cả hai bên đều coi eo Hormuz là một “đòn bẩy” quan trọng trong quá trình thương lượng. Điều này khiến cuộc đối đầu mang tính chất vừa cạnh tranh vừa kiềm chế, khó có khả năng kết thúc nhanh chóng.
Tuy nhiên, rủi ro leo thang vẫn luôn hiện hữu. Chỉ một sự cố ngoài ý muốn trên biển, chẳng hạn một tàu thương mại bị tấn công, va chạm giữa lực lượng hải quân, tính toán sai lầm trong quá trình áp sát, hoặc hành động đơn phương của một bên thứ ba, cũng có thể phá vỡ trạng thái cân bằng mong manh. Khi đó, cuộc đấu trí có thể nhanh chóng chuyển thành đối đầu trực diện, kéo theo nguy cơ mở rộng xung đột trong khu vực.
Trong bối cảnh đó, eo biển Hormuz đang trở thành tâm điểm của địa chính trị Trung Đông năm 2026. Đây không chỉ là tuyến vận tải năng lượng quan trọng, mà còn là “bàn cờ chiến lược” nơi hai đối thủ lâu năm thử thách giới hạn của nhau, đo lường quyết tâm và khả năng chịu đựng.
Mọi động thái tại khu vực đều được cộng đồng quốc tế theo dõi chặt chẽ, bởi diễn biến tại Hormuz không chỉ ảnh hưởng đến an ninh khu vực mà còn có thể tác động trực tiếp tới ổn định kinh tế toàn cầu. Thế giằng co vẫn tiếp diễn, cuộc đấu trí giữa Mỹ và Iran tại đây nhiều khả năng còn kéo dài trong thời gian tới, khi chưa bên nào sẵn sàng lùi bước nhưng cũng không muốn vượt qua ngưỡng xung đột toàn diện.
Tin Gốc: Dân Trí

