Theo ghi nhận, toàn tỉnh Quảng Ngãi hiện có hơn 1.000ha trồng ớt, trong đó khoảng 765ha đang bước vào thu hoạch đầu vụ. Năng suất bình quân đạt hơn 82 tạ/ha. Dù sản lượng khá, nhưng giá bán lại lao dốc mạnh so với cùng kỳ năm ngoái.
Cùng thời điểm này năm 2025, giá ớt dao động 50.000-70.000 đồng/kg. Thế nhưng năm nay, ngay từ đầu vụ giá chỉ khoảng 14.000 đồng/kg và nhanh chóng giảm sâu xuống còn 5.000-7.000 đồng/kg.
Giữa ruộng ớt chín đỏ ở xã An Phú, bà Hiền thở dài, khoảng 5.000m² ớt của bà nhờ thời tiết ủng hộ mà quả đẹp. Nhưng giá xuống quá thấp khiến công sức chăm sóc gần như “đổ sông đổ biển”.
“Giá này không đủ bù tiền giống, phân bón. Tôi tiếc nên tự hái, không dám thuê người vì không đủ trả công”, bà Hiền thở dài.
Vựa ớt Quảng Ngãi đang rơi vào cảnh như bà Hiền. Thu hoạch thì lỗ, còn bỏ lại thì xót công, người dân mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn “được mùa, mất giá”.
Anh Nguyễn Duy Phước, một nông dân trồng ớt quy mô lớn tại xã Bình Sơn, cho biết mỗi ngày thu hoạch gần 2,5 tấn ớt nhưng bán ra chỉ khoảng 5.000 đồng/kg.
“Tiền phân, tiền thuốc, công chăm sóc đều tăng, mà giá bán thế này thì coi như lỗ nặng”, anh Phước nói.
Theo các cơ sở thu mua, nguyên nhân chính khiến giá ớt giảm sâu là do thị trường tiêu thụ phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Trung Quốc.
Năm nay nhu cầu từ thị trường này giảm, trong khi chi phí vận chuyển tăng cao, nhiều xe container hạn chế hoạt động khiến đầu ra bị ách tắc.
Một cơ sở thu mua, đóng gói ớt tại xã An Phú cho biết mỗi ngày vẫn thu mua hơn chục tấn ớt, nhưng sức tiêu thụ yếu nên giá buộc phải giảm sâu. “Đầu ra chậm, chi phí tăng nên doanh nghiệp cũng khó xoay xở”, đại diện cơ sở này nói.
Dọc đường Trường Sa, bờ nam sông Trà Khúc, hình ảnh ớt đỏ rực được người dân trải dài phơi khô trên đoạn gần 2km trở nên quen thuộc. Đây là cách nhiều hộ lựa chọn để “găm hàng”, chờ giá nhích lên sẽ bán ớt khô nhằm gỡ gạc phần nào chi phí.
Tuy vậy trong bối cảnh thị trường chưa có dấu hiệu phục hồi, bài toán đầu ra cho nông sản vẫn là nỗi lo thường trực.
Ngân hàng Hàng hải Việt Nam (MSB) cho biết sẽ thu giữ tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp ký với Công ty cổ phần Hàng không Tre Việt (Bamboo Airways).
Danh mục tài sản gồm 387 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại khu phức hợp Đak Đoa, khu đô thị du lịch sinh thái Nhơn Hội (Gia Lai) và khu đô thị du lịch sinh thái FLC Sầm Sơn (Thanh Hóa). Tất cả tài sản do Tập đoàn FLC đứng tên.
Đầu tháng này, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) cũng thông báo thu giữ tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu tại Bamboo Airways, sau khi bên vay lẫn bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo yêu cầu. Tài sản thu giữ là quyền sử dụng đất hơn 86.300 m2 tại Đak Đoa, Gia Lai.
Saombank cho biết đã gửi yêu cầu bên vay và bên bảo đảm tự nguyện bàn giao tài sản trước ngày 27/3, nhưng không được đáp ứng. Do đó, ngân hàng dự kiến thu giữ tài sản từ ngày 22/4 đến 22/6.
Bamboo Airways được FLC thành lập từ giữa năm 2017 và bay chuyến thương mại đầu tiên từ đầu năm 2019. Ở giai đoạn cao điểm, Bamboo Airways từng vận hành 30 tàu bay, trong đó có cả đội bay thân rộng xuyên lục địa.
Đến tháng 5/2023, hãng tách ra khỏi FLC sau khi tập đoàn này chuyển nhượng toàn bộ cổ phần sở hữu tại hãng bay cho nhóm cổ đông do ông Lê Thái Sâm đại diện. Cuối tháng 9/2025, ông Sâm khi đó trong vai trò Chủ tịch HĐQT Bamboo Airways cho biết kế hoạch tái cấu trúc hãng bay trong hơn 2 năm qua đã không thành công và đề nghị FLC tiếp nhận lại quyền sở hữu và điều hành.
FLC đang trong quá trình khôi phục hoạt động, quy mô cho hãng hàng không này. Tập đoàn này đặt mục tiêu đưa đội bay trở lại quy mô 30 tàu bay. Về trung hạn, hãng dự kiến bổ sung 8-10 chiếc mỗi năm cho nhu cầu tăng tốc phát triển mạng bay đến 2030.
Tại đại hội cổ đông thường niên ngày 16/4, ông Phan Chiến Thắng, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Masan High-tech Materials (MSR), cho rằng sau làn sóng tỷ phú nhờ trí tuệ nhân tạo (AI), giới siêu giàu tiếp theo sẽ là những người nắm giữ các vật liệu thiết yếu cho ngành này. Ông nhắc tới vonfram (tungsten), loại vật liệu đóng góp phần lớn trong cơ cấu doanh thu doanh nghiệp.
Do đó, MSR đặt mục tiêu doanh thu năm nay tới 20.300 tỷ đồng, tăng gần gấp 3. Còn lợi nhuận sau thuế khoảng 1.700-2.500 tỷ đồng, tăng hơn 150-220 lần so với năm ngoái.
Nhờ chịu nhiệt trên 3.400 độ C, độ cứng gần bằng kim cương và dẫn điện tốt, vonfram được dùng làm vật liệu kết nối vi mạch, hệ thống điện toán trong ngành bán dẫn và sản xuất đạn lĩnh vực quốc phòng. Vật liệu này hầu như không có giải pháp thay thế hoàn hảo, giá tăng cả chục lần trong một năm qua, biến động mạnh nhất trong hơn hai thập kỷ.
Theo ông Thắng, mức giá ammonium paratungstate (APT, sản phẩm trung gian của vonfram) phản ánh trong báo cáo tài chính năm 2025 trung bình là 500 USD mỗi 10 kg (mtu). Trong khi đó, giá vật liệu này niêm yết tại công ty nghiên cứu thị trường Shanghai Metals Market ở mức 180.000 USD mỗi tấn (khoảng 1.800 USD một mtu) vào trưa ngày 16/4. Vật liệu này từng tăng hơn 3.000 USD vào cuối tháng 3, do xung đột Trung Đông và tình trạng siết xuất khẩu của Trung Quốc - thị trường cung ứng lớn nhất thế giới, theo CNBC.
Ông Danny Le, Chủ tịch HĐQT MSR, cho biết với mỗi 100 USD APT tăng giá, họ có thêm 50 triệu USD doanh thu và 10 triệu USD lợi nhuận sau thuế. "Nếu giá mỗi mtu ở mức 1.500 USD, chúng tôi trả hết nợ trong năm 2028", ông nói. Thời điểm xóa nợ sẽ sớm hơn một năm nếu giá này đạt 2.000 USD. Điều này đồng nghĩa, công ty sẽ có nguồn lực để trả cổ tức cho cổ đông vào 2027.
Tính đến cuối năm 2025, MSR nợ ròng gần 10.400 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ/EBITDA (chỉ số đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp bằng lợi nhuận trước lãi vay, thuế, khấu hao) là 4,8 lần, cải thiện so với mức 6 lần của năm trước đó.
Năm ngoái, mỏ Núi Pháo (trữ lượng 55 triệu tấn) của công ty được kéo dài thời gian khai thác đến năm 2044. Họ cũng được cấp phép khai thác thêm một mỏ trữ lượng 28 triệu tấn, dự kiến vận hành trong quý tới.
MSR cũng nhập khẩu thêm quặng ngoài để tinh chế, nhằm tối ưu hóa công suất cho nhà máy tinh luyện tại Công ty con Vonfram Masan (MTC). Hiện họ có hơn 20 nhà cung cấp, gồm "ông lớn" Mitsubishi từ Nhật Bản.
Đại diện MSR dẫn các dự báo cho thấy làn sóng đầu tư vào hạ tầng AI toàn cầu có thể đạt 5.000-8.000 tỷ USD tới năm 2030, thúc đẩy nhu cầu vonfram lên 24.000 tấn. Trong 5 năm qua, công ty nắm giữ trung bình 21% nguồn cung vật liệu này ngoài Trung Quốc.
Ngoài vonfram, quặng đa kim từ mỏ Núi Pháo còn chế biến ra các vật liệu khác gồm fluorspar, tinh quặng đồng, bismuth - các vật liệu quan trọng trong ngành công nghiệp và điện khí hóa.
Ban điều hành cho biết kết quả kinh doanh đầu năm khá thuận lợi. Quý I, họ đạt lợi nhuận sau thuế gần 540 tỷ đồng, tương đương 20 triệu USD. Công ty dự tính chuyển niêm yết từ sàn UPCoM sang Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE), sau khi công ty mẹ Masan bán thêm 2% tổng lượng cổ phiếu, nhằm giảm tỷ lệ sở hữu tại MSR.
Trong cuộc phỏng vấn với Reuters ngày 7/4, Bassem Abdul Karim - Tổng giám đốc Basra Oil Company Bassem Abdul Karim cho biết sản lượng từ các mỏ dầu ở phía bắc Iraq hiện chỉ quanh 900.000 thùng một ngày. Tuy nhiên, nếu chiến sự kết thúc và việc di chuyển qua eo biển Hormuz được bảo đảm, xuất khẩu của họ có thể quay về mức tiền xung đột là 3,4 triệu thùng chỉ trong một tuần.
Tuyên bố này được đưa ra một ngày trước khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo đồng ý lệnh ngừng bắn kéo dài hai tuần với Iran, với điều kiện Tehran mở lại eo biển Hormuz. Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Iran cũng cho biết họ chấp thuận lệnh ngừng bắn.
Chiến sự tại Trung Đông đã kéo dài hơn một tháng, làm gián đoạn 20% dòng chảy dầu, khí LNG toàn cầu khi eo biển Hormuz bị phong tỏa. Giá dầu thô, nhiên liệu máy bay, dầu diesel và xăng trên toàn cầu vì thế tăng vọt. Dầu thô từng lên sát 120 USD một thùng đầu tháng trước. Tuy nhiên, thông báo của ông Trump sáng 8/4 khiến giá về dưới 100 USD.
Trong nhóm nước vùng Vịnh, Iraq ghi nhận doanh thu từ dầu giảm mạnh nhất khi eo biển Hormuz bị phong tỏa, do không có các tuyến xuất khẩu thay thế. Họ hiện là nước sản xuất dầu lớn thứ hai trong Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC).
Tháng trước, quan chức năng lượng nước này cho biết sản xuất dầu của Iraq giảm tới 80% về quanh 800.000 thùng một ngày. Chiến sự khiến họ không thể xuất khẩu và các kho chứa đã đầy.
Sản lượng tại các mỏ dầu lớn sụt giảm mạnh. Mỏ Rumaila giảm từ 1,35 triệu thùng một ngày về 400.000 thùng. Zubair sụt từ 640.000 thùng một ngày xuống 300.000 thùng, ông Abdul Karim nói.
Một số mỏ dầu nhỏ hơn cũng hoạt động ở mức hạn chế, để duy trì sản lượng khí dùng cho phát điện trong nước. Trong khi đó, số khác tận dụng cơ hội dừng hoạt động để bảo trì.
Trước chiến sự, sản lượng dầu của Iraq vào khoảng 4,3 triệu thùng một ngày. Mức này đủ dư địa giúp họ xuất khẩu 3,4 triệu thùng nếu xung đột chấm dứt.
Iraq hiện sản xuất lượng dầu thô nhiều hơn mức tiêu thụ trong nước. Việc này cho phép họ tăng xuất khẩu nhanh chóng bằng cách dùng lượng hàng tồn kho để không ảnh hưởng nguồn cung nội địa. Các nhà máy lọc dầu nước này chủ yếu sử dụng dầu từ sản lượng đang khai thác, thay vì từ các kho dành cho xuất khẩu.