Chiều 8/4, tại phiên thảo luận tổ về dự thảo Luật Thủ đô sửa đổi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng Luật Thủ đô cần được thiết kế như một thiết chế pháp lý đặc thù, đủ năng lực dẫn dắt, tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển, nhưng đồng thời phải bảo đảm kỷ cương, kỷ luật và tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Nguyên tắc xuyên suốt là phân cấp, phân quyền triệt để hơn, song đi kèm trách nhiệm giải trình rõ ràng và cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, tránh buông lỏng quản lý.
Ông chỉ ra những điểm nghẽn lớn của Hà Nội hiện nay nằm ở quy hoạch, hạ tầng, quản trị đô thị và cơ chế huy động nguồn lực. Trong đó, quy hoạch phải được tiếp cận với tầm nhìn dài hạn, ổn định, không điều chỉnh theo từng nhiệm kỳ. Người dân và doanh nghiệp cần nhìn thấy rõ định hướng phát triển để đồng thuận và chủ động tham gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị xây dựng các mô hình không gian phát triển dài hạn, xác định rõ khu đô thị, khu bảo tồn văn hóa di sản, khu công nghiệp, trường học, dịch vụ. Thực trạng hiện nay cho thấy quy hoạch còn phân tán theo từng dự án nhà ở, thiếu đồng bộ hạ tầng, đặc biệt là giao thông và hệ thống thoát nước, dẫn đến tình trạng “xây dựng đến đâu, tắc đường đến đó”.
Từ đó, ông nhấn mạnh yêu cầu phát triển các đô thị vệ tinh và các phường mới theo tiêu chuẩn hiện đại, đồng bộ về nhà ở xã hội, bệnh viện, trường học, công viên và hệ thống giao thông công cộng như đường sắt đô thị, tàu điện trên cao. Đây là điều kiện then chốt để giãn dân khu vực nội đô, giảm áp lực hạ tầng và tổ chức lại không gian đô thị một cách bền vững.
“Khi các thành phố vệ tinh có đầy đủ tiện ích và kết nối giao thông thuận tiện, người dân sẽ sẵn sàng rời bỏ những căn gác xép chật hẹp trong phố cổ để ra ngoài sinh sống”, ông nói.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, quản trị để phục vụ phát triển. Luật cần tập trung vào các nguyên tắc khung, tạo không gian thể chế để Thủ đô chủ động thiết kế, thử nghiệm và triển khai chính sách phù hợp với đặc thù, trong khi các nội dung linh hoạt nên giao cho Chính phủ và chính quyền thành phố quy định.
Một nội dung then chốt khác là cơ chế phân cấp, phân quyền phải thực chất, rõ ràng, gắn với năng lực thực thi và nguồn lực tài chính. Việc giao quyền phải đi liền điều kiện thực hiện, tránh tình trạng giao quyền nhưng không đủ nguồn lực, tiềm ẩn rủi ro trong quản lý và thực thi.
Đối với các cơ chế thí điểm khác với quy định hiện hành, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu làm rõ phạm vi, chỉ áp dụng với lĩnh vực thực sự đặc thù, có đánh giá đầy đủ và kiểm soát chặt chẽ. Hà Nội có lợi thế về nguồn lực, nhân lực chất lượng cao và hệ thống nghiên cứu nên cần được trao không gian thử nghiệm đổi mới sáng tạo, nhưng không để việc thí điểm kéo dài thiếu kiểm soát hoặc trở thành cách hợp thức hóa bất cập. Đồng thời, luật cần có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm đi kèm ràng buộc trách nhiệm.
Ông cũng đề nghị rà soát các chính sách về khoa học công nghệ, tài chính ngân sách, đầu tư hạ tầng và liên kết vùng để bảo đảm tính đột phá, tránh trùng lặp với cơ chế chung. Thủ đô không thể phát triển nếu tách rời vùng, trong khi nhiều dự án hạ tầng lớn như các tuyến vành đai hay sân bay nằm trên địa bàn các địa phương lân cận, đòi hỏi cơ chế phối hợp hiệu quả về quy hoạch và nguồn lực. Mọi chính sách phát triển cần bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và người dân, không đánh đổi quyền lợi cơ bản của người dân để lấy tăng trưởng.
“Sửa đổi Luật Thủ đô không chỉ là hoàn thiện khung pháp lý mà còn là lựa chọn mô hình phát triển và quản trị. Thủ đô được trao quyền cao hơn thì phải chịu trách nhiệm cao hơn; có cơ chế đặc thù thì phải tạo ra kết quả vượt trội và khi thí điểm phải kiểm soát được rủi ro”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói và nhấn mạnh Hà Nội cần trở thành hình mẫu về quản trị hiện đại, kỷ luật nghiêm minh và trách nhiệm, từ đó lan tỏa kinh nghiệm cho cả nước.
Đại biểu Trịnh Xuân An, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại, cho rằng việc sửa đổi Luật Thủ đô cần đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật hiện hành, khi nhiều luật đã được Quốc hội khóa trước thông qua với các cơ chế, chính sách vượt trội. Cơ quan soạn thảo cần rà soát các quy định ưu đãi ở các luật liên quan để bảo đảm thống nhất, tránh tình trạng chồng chéo.
Ông cũng đề nghị đối chiếu dự thảo với các nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị như về kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa…, bảo đảm cùng một hướng phát triển và không tạo ra độ vênh chính sách. “Dự thảo chưa thể hiện đầy đủ nội dung về quốc phòng, an ninh, trong khi đây là yêu cầu đặc thù của Thủ đô”, ông nói, cho rằng cần bổ sung cơ chế bảo vệ, đầu tư ngân sách cho lực lượng vũ trang và gắn với không gian vùng để bảo đảm an ninh tổng thể.
Liên quan phát triển đô thị, ông cho rằng các cơ chế về nhà ở và cải tạo đô thị chưa phản ánh đầy đủ tinh thần các nghị quyết đã ban hành. Hai vấn đề lớn là giao thông và nhà ở cần có giải pháp cụ thể, đủ mạnh để tạo chuyển biến thực tế, trong đó có thể xem xét lại điều kiện đồng thuận của người dân khi triển khai các dự án cải tạo để tránh tình trạng kéo dài, không thực hiện được.
Ông Trịnh Xuân An đánh giá các khái niệm không gian tầm cao và không gian ngầm là hướng tiếp cận mới, nhưng hiện chưa có nền tảng pháp lý đầy đủ. Do đó, ông đề xuất nghiên cứu quy định cụ thể hơn, thậm chí xây dựng khung pháp lý riêng, để bảo đảm có thể triển khai đồng bộ, tránh vướng mắc khi thực hiện.
“Cần làm rõ mối quan hệ giữa Luật Thủ đô với các nghị quyết đặc thù đang áp dụng cho thành phố, cũng như cơ chế chuyển tiếp khi luật có hiệu lực, nhằm tránh xung đột pháp lý và bảo đảm tính thống nhất, khả thi”, đại biểu nhấn mạnh.
Chiều 19.4, tại phiên họp toàn thể lần 2 Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Bộ VH-TT-DL đề xuất nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi để phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó có nội dung Nhà nước sẽ bảo đảm chi ngân sách cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước.
Theo Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL Trịnh Thị Thủy, một trong những nội dung nổi bật của dự thảo nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam của Quốc hội mà Bộ này soạn thảo là bảo đảm chi ngân sách và ưu đãi thuế mạnh mẽ cho ngành văn hóa. Cụ thể, các hoạt động sản xuất, phát hành và phổ biến phim, triển lãm, thể dục, thể thao, biểu diễn nghệ thuật dự kiến được hưởng thuế suất thuế giá trị gia tăng 5%.
Tổ chức, cá nhân đầu tư hạ tầng số và giải pháp công nghệ cao cho các ngành công nghiệp văn hóa (như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử...) sẽ được hưởng nhiều ưu đãi về thuế. Chẳng hạn, các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo. Chuyên gia, nhà khoa học làm việc cho doanh nghiệp cũng được miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân với mức tương tự.
Ngành văn hóa cũng được khuyến khích phát triển thông qua chính sách quỹ đất và mặt bằng. Theo dự thảo, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm ưu tiên bố trí quỹ đất công dôi dư để thu hút các dự án đầu tư hoặc cho thuê làm không gian hoạt động văn hóa, thể thao.
Đặc biệt, dự thảo đề xuất miễn, giảm tiền thuê đất, tiền thuê bất động sản thuộc sở hữu nhà nước đối với nhà xuất bản, cơ sở sản xuất phim tài liệu và khoa học 100% vốn nhà nước.
Một điểm mới đáng chú ý trong dự thảo là việc thí điểm thành lập quỹ văn hóa, nghệ thuật hoạt động theo mô hình hợp tác công tư. Quỹ này hoạt động như một quỹ đầu tư mạo hiểm, chấp nhận rủi ro theo nguyên tắc thị trường để tài trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và các dự án văn hóa có tính đột phá.
Để thu hút các dự án điện ảnh quốc tế, dự thảo quy định Nhà nước có chính sách hoàn trả chi phí hợp lệ (như thuê bối cảnh, thiết bị, nhân lực, hậu kỳ...) phát sinh tại Việt Nam của các tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Dự thảo cũng cho phép thí điểm áp dụng cơ chế khoán chi kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với một số hoạt động sáng tạo sản phẩm văn hóa, áp dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hoặc khoán chi từng phần. Mặc dù tán thành chủ trương này nhằm tăng tính linh hoạt, cơ quan thẩm tra cũng lưu ý cần quy định nguyên tắc thanh toán trong trường hợp phát sinh yếu tố khách quan dẫn đến không hoàn thành sản phẩm cuối cùng, nhằm bảo đảm quản lý chặt chẽ ngân sách.
Theo ông Đặng Xuân Phương, Ủy ban Văn hóa và Xã hội, Ủy ban nhận thấy, dự thảo nghị quyết quy định nhiều cơ chế, chính sách sẽ phát sinh nguồn lực tài chính lớn khi triển khai. Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với Bộ Tài chính phân tích, đánh giá tổng thể nguồn lực tài chính cần thiết để bảo đảm tính khả thi của các chính sách; tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù, đột phá nhằm thu hút nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển văn hóa.
Bộ Y tế đang dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều nghị định 20/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, được sửa đổi, bổ sung bởi nghị định 76/2024.
Theo Bộ Y tế, hiện nay mức chuẩn trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội 500.000 đồng/tháng là mức thấp nhất trong hệ thống an sinh xã hội.
Nếu chỉ điều chỉnh tăng 8% (lên 540.000 đồng/tháng), mức trợ cấp này vẫn chưa đạt tới 25% chuẩn nghèo nông thôn và chưa đầy 20% chuẩn nghèo đô thị.
Tại dự thảo nghị định, Bộ Y tế đề xuất nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ cấp hưu trí xã hội từ 500.000 đồng/tháng lên 600.000 đồng/tháng (tăng 20%).
Tùy theo khả năng cân đối của ngân sách, tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình đời sống của đối tượng bảo trợ xã hội, cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội cho phù hợp, bảo đảm tương quan chính sách đối với các đối tượng khác.
Mức chuẩn 600.000 đồng/tháng giúp tỉ lệ đáp ứng chuẩn nghèo tăng lên đáng kể (đạt 27,3% chuẩn nghèo nông thôn và 21,4% chuẩn nghèo đô thị).
Phương án này giúp đảm bảo an sinh xã hội, giúp đối tượng đủ khả năng chi trả các nhu cầu thiết yếu, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các nhóm chính sách an sinh.
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vừa ký ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán với Công ty cổ phần Chứng khoán Tân Việt (TVSI).
Theo đó, công ty này bị phạt 125 triệu đồng do có hành vi bố trí người chưa có chứng chỉ hành nghề chứng khoán thực hiện nghiệp vụ, vị trí mà theo quy định pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
Cụ thể từ ngày 19-5-2021 đến ngày 20-1-2026, TVSI bố trí nhân viên môi giới tại chi nhánh Hải Phòng chưa có chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
Được biết, TVSI từng là tổ chức có liên quan mật thiết tới hệ sinh thái Vạn Thịnh Phát khi bà Trương Mỹ Lan nắm quyền chi phối 91,54% vốn thông qua 6 cá nhân và 4 pháp nhân đứng tên hộ.
Theo Hội Nghiên cứu thị trường liên ngân hàng Việt Nam, lãi suất liên ngân hàng bằng VND bật tăng mạnh ở các kỳ hạn ngắn phiên 6-4.
Cụ thể, lãi suất bình quân liên ngân hàng VND tăng từ 0,45 đến 3,1 điểm phần trăm ở các kỳ hạn qua đêm đến 2 tuần so với phiên cuối tuần trước, trong khi giảm nhẹ 0,2 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 tháng. Kết thúc phiên, lãi suất giao dịch ở mức cao: qua đêm 8,6%, 1 tuần 8,5%, 2 tuần 7,35% và 1 tháng 7,6%.
Về hoạt động thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu trên kênh cầm cố với tổng quy mô 37.000 tỉ đồng, chia đều cho các kỳ hạn 14, 35 và 56 ngày, lãi suất giữ ở mức 4,5%/năm. Kết quả, lượng trúng thầu đạt gần 30.400 tỉ đồng, trong đó kỳ hạn 35 ngày chiếm tỉ trọng lớn nhất.
Trong phiên có tới 44.756 tỉ đồng đáo hạn, trong khi Ngân hàng Nhà nước không phát hành tín phiếu mới. Tính chung, cơ quan điều hành đã hút ròng 14.387 tỉ đồng khỏi hệ thống.
Hiện tổng khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố đạt hơn 340.437 tỉ đồng, cho thấy Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì trạng thái hỗ trợ thanh khoản nhất định, nhưng đồng thời linh hoạt điều tiết để kiểm soát áp lực lãi suất ngắn hạn.
Sáng 9-4, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng thừa ủy quyền của Thủ tướng trình bày trước Quốc hội tờ trình về 4 dự án: Luật Hộ tịch (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý; Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
Ông Tùng cho hay việc xây dựng dự án Luật Hộ tịch (sửa đổi) nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.
Song song đó, khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, phù hợp với việc tổ chức, sắp xếp bộ máy hành chính nhà nước, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp.
Việc sửa luật cũng nhằm đẩy mạnh hiện đại hóa, chuyển đổi số toàn diện công tác đăng ký, quản lý hộ tịch. Tăng cường đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính, thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính, đăng ký hộ tịch trực tuyến toàn trình.
Ngoài ra, bảo đảm phối hợp chặt chẽ, thông suốt giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc chia sẻ, kết nối liên thông dữ liệu để đăng ký, quản lý hộ tịch.
Về các nội dung cơ bản của dự luật, ông Tùng cho biết dự thảo luật sửa đổi nội dung về thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo hướng giao UBND cấp xã thực hiện đăng ký tất cả các sự kiện, thông tin hộ tịch.
Đồng thời, các việc hộ tịch được đăng ký không phụ thuộc nơi cư trú, không phụ thuộc địa giới hành chính.
Về tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch, ông Tùng cho hay dự luật chỉ quy định thẩm quyền, đối tượng, phạm vi của từng thủ tục đăng ký hộ tịch. Các quy định cụ thể về thành phần hồ sơ, thời hạn, trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch - là những nội dung dễ biến động, dự thảo luật giao Chính phủ quy định chi tiết.
Người yêu cầu có quyền lựa chọn nộp hồ sơ, nhận kết quả đăng ký hộ tịch theo phương thức trực tuyến hoặc trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính.
Dự luật cũng giao Chính phủ quy định chi tiết theo hướng trực tuyến toàn trình đối với hầu hết các thủ tục về hộ tịch (trừ thủ tục đăng ký kết hôn, giám hộ phải có mặt tại cơ quan đăng ký hộ tịch khi nhận kết quả - là những việc có điều kiện, cần thể hiện rõ sự tự nguyện, khả năng đáp ứng của các bên).
Về sổ hộ tịch, dự luật quy định chủ yếu sử dụng dữ liệu điện tử. Chỉ có việc đăng ký kết hôn mới sử dụng đồng thời sổ điện tử và sổ giấy (phù hợp với đặc thù, truyền thống hai bên nam, nữ phải có mặt để thể hiện sự tự nguyện, ký vào sổ đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận kết hôn).
Giấy tờ hộ tịch bao gồm: giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, giấy chứng tử và văn bản xác nhận hộ tịch. Chính phủ sẽ quy định cụ thể về việc cấp giấy tờ hộ tịch (bản điện tử, bản giấy, bản chính, bản sao).
Về các nội dung bổ sung, dự luật bổ sung quy định về quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của người gốc Việt Nam chưa xác định quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam. Bổ sung quy định bảo đảm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em được sinh ra tại Việt Nam hoặc sinh sống ổn định trên lãnh thổ Việt Nam.
Bổ sung quy định cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm chủ động khai thác, tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu liên quan (phù hợp với mức độ đáp ứng của cơ sở dữ liệu), chỉ yêu cầu người dân phải nộp, xuất trình giấy tờ nếu không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác.
Ngoài ra, dự luật bổ sung quy định khẳng định giá trị pháp lý của giấy tờ hộ tịch, thông tin hộ tịch, dữ liệu hộ tịch điện tử, xác định dữ liệu hộ tịch điện tử có giá trị như giấy tờ hộ tịch bản giấy khi thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch khác.
Bổ sung thẩm quyền đăng ký giám sát việc giám hộ, chấm dứt giám sát việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của người được giám hộ không phụ thuộc vào nơi cư trú của cá nhân.
Báo cáo thẩm tra sau đó, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu cho biết Ủy ban này tán thành với chính sách đăng ký khai sinh chủ động và đăng ký khai tử chủ động tại dự luật.
Tuy nhiên, dự luật hiện nay giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử chủ động nhưng không xác định các giai đoạn, mức độ hoàn thành từng giai đoạn cũng như thời điểm chậm nhất bắt buộc phải triển khai thực hiện thống nhất trên cả nước.
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp thấy rằng việc giao Chính phủ quy định việc kết nối, chia sẻ, đồng bộ giữa các cơ sở dữ liệu và lộ trình để thực hiện đăng ký khai sinh chủ động, đăng ký khai tử chủ động là cần thiết nhưng cần bổ sung quy định cụ thể thời điểm phải hoàn thành lộ trình này.
"Đồng thời, việc xây dựng lộ trình thực hiện đăng ký khai sinh, khai tử chủ động cũng cần xác định cụ thể lộ trình của việc kết nối cơ sở dữ liệu hộ tịch với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác để bảo đảm luật sớm đi vào cuộc sống", ông Hiếu nói.