NASA vừa công bố Cẩm nang hướng dẫn căn cứ Mặt Trăng (MBUG) gồm 9 trang, nêu chi tiết những công việc mà cơ quan này cần thực hiện để xây dựng căn cứ hoạt động lâu dài ở cực nam Mặt Trăng. Theo MBUG cùng một số tài liệu cũ, NASA sẽ thực hiện hàng chục vụ phóng tàu và đổ bộ, triển khai thành ba giai đoạn. Cơ quan này chưa tiết lộ bao nhiêu trong số đó có phi hành đoàn, nhưng cho biết sẽ bắt đầu với chuỗi nhiệm vụ không người lái.
Giai đoạn 1 gồm 25 vụ phóng và 21 lần hạ cánh nhằm thiết lập khả năng tiếp cận thường xuyên và ổn định đến bề mặt Mặt Trăng. Theo kế hoạch Xây dựng Căn cứ Mặt Trăng do NASA công bố ngày 24/3, giai đoạn này dự kiến hoàn thành năm 2029.
Giai đoạn 2, dự kiến diễn ra năm 2029-2032, gồm 27 vụ phóng và 24 lần hạ cánh, hướng đến xây dựng hạ tầng ban đầu cho căn cứ Mặt Trăng và các nhiệm vụ chở người hai lần mỗi năm.
Giai đoạn 3, từ năm 2032 đến một thời điểm chưa xác định, sẽ có thêm 29 vụ phóng và 28 lần hạ cánh để thiết lập công nghệ vận chuyển hàng hóa qua lại, đồng thời duy trì sự hiện diện liên tục của con người trên Mặt Trăng.
NASA nổi tiếng với thành tựu đưa con người đổ bộ Mặt Trăng trong chương trình Apollo 54 năm trước. Tuy nhiên, việc xây căn cứ ở cực nam thiên thể này đi kèm với nhiều thách thức hơn, bắt đầu từ những điều cơ bản như nguồn điện ổn định.
Theo MBUG, cực nam Mặt Trăng có môi trường ánh sáng khác biệt đáng kể so với những cao nguyên và đồng bằng gần xích đạo mà phi hành gia Apollo từng ghé thăm. Tại đây, Mặt Trời sẽ luôn ở vị trí thấp so với đường chân trời và tạo bóng đổ dài. Điều này gây khó khăn cho quá trình sản xuất điện, đồng thời khiến các hệ thống phải trải qua những khoảng thời gian dài rất lạnh và tối.
NASA cần nắm thông tin chính xác về điều kiện ánh sáng và hiệu suất của pin quang điện để chọn các thiết bị năng lượng phù hợp. Chúng cũng cần đủ bền để chịu được việc tiếp xúc với bụi Mặt Trăng tích điện sắc nhọn. Bên cạnh đó, NASA cần hiểu rõ môi trường Mặt Trăng để vận hành máy phát nhiệt đồng vị phóng xạ – loại pin hạt nhân tạo ra nhiệt và điện. Kế hoạch dài hạn của cơ quan này về năng lượng bao gồm việc xây lò phản ứng hạt nhân trên Mặt Trăng.
Việc đổ bộ Mặt Trăng với tần suất dày như kế hoạch mới sẽ gặp nhiều trở ngại. MBUG lưu ý rằng NASA cần phát triển hệ thống hạ cánh chính xác có thể hoạt động ở địa hình với tầm nhìn kém và hệ thống tránh chướng ngại vật.
Ngoài ra, còn nhiều ẩn số ít được đề cập trong tài liệu như phản ứng của cơ thể người khi sống dài ngày trong môi trường Mặt Trăng. Điều này bao gồm tác động của bụi Mặt Trăng, trọng lực nhỏ, tia vũ trụ gây ung thư cùng với những thách thức liên quan đến duy trì sự sống, tập thể dục, dinh dưỡng.
NASA cho biết, họ đang nỗ lực lấp đầy nhiều khoảng trống về công nghệ và dữ liệu, đồng thời chú ý đến những yếu tố cần phát triển trong chương trình Mặt Trăng để phục vụ mục tiêu xa hơn là đưa người lên Sao Hỏa. Những yếu tố này gồm dữ liệu về sức khỏe phi hành gia trong không gian sâu và phát triển hệ thống năng lượng hạt nhân trên bề mặt Mặt Trăng.
Ngoài công nghệ, một vấn đề lớn khác là chi phí. Vài năm qua, NASA đã gặp khó khăn trong việc đưa con người trở lại Mặt Trăng. Bất chấp thành công của Artemis II, chương trình Artemis đang đội ngân sách (tiêu tốn hơn 100 tỷ USD đến nay) và chậm tiến độ so với mục tiêu ban đầu là đưa người đổ bộ Mặt Trăng năm 2024.
Chỉ hai ngày sau vụ phóng tàu chở phi hành đoàn Artemis II, Nhà Trắng đã đề xuất cắt giảm 23% ngân sách của NASA, tương đương khoảng 5,6 tỷ USD. Dù NASA tuyên bố sẽ xây căn cứ Mặt Trăng với chi phí 20 tỷ USD, chỉ riêng chi phí ước tính cho một tên lửa Hệ thống Phóng Không gian (SLS), tên lửa mạnh nhất của NASA, đã là 2,5 tỷ USD.
Dù vậy, Jared Isaacman, Giám đốc NASA, vẫn đang nỗ lực đẩy mạnh các hoạt động Mặt Trăng nhằm hiện thực hóa mục tiêu của NASA với Mặt Trăng và Sao Hỏa. Tại Hội nghị chuyên đề Vũ trụ 2026 diễn ra ở Colorado Springs ngày 14/4, Isaacman nói NASA làm tốt nhất khi “theo đuổi và đạt được những điều gần như bất khả thi”. Ông nói: “Chúng tôi muốn đưa nhiều thứ đáp xuống Mặt Trăng, nếu một số thất bại thì cũng không sao. Chúng tôi sẽ học hỏi từ đó”.
Ngày 17-4, Bộ Y tế tổ chức hội thảo góp ý Đề án Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 - 2030.
Chia sẻ tại hội thảo, thượng tá Phạm Hữu Phúc, Phó chánh Văn phòng Bộ Công an, cho hay hiện nay nước ta sử dụng 3 đầu số khẩn cấp 113, 114, 115 trong an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, cấp cứu.
Ngoài ra còn các đầu số 111 - bảo vệ trẻ em; 112 - gọi tìm kiếm, cứu nạn và sự cố thiên tai, thảm họa. Dự kiến tới đây số 117 là số dịch vụ gọi xử lý bạo lực gia đình.
Trong khi đó nhiều quốc gia hiện đã sử dụng mô hình một đầu số hoặc hợp nhất đầu số khẩn cấp. Như Mỹ dùng đầu số 911; Úc dùng 000; Liên minh châu Âu (EU) dùng 112 hay Hàn Quốc 119.
Nguyên tắc cốt lõi là "một cửa - nhiều lực lượng phối hợp", trong đó mọi cuộc gọi khẩn cấp dù liên quan đến cháy, tai nạn hay cứu hộ đều được tiếp nhận ở cùng một đầu mối, sau đó phân loại và điều phối ngay lập tức đến các đơn vị chuyên trách (cảnh sát, y tế, điện lực, cứu hộ).
"Từ đó cho thấy việc sử dụng duy nhất một đầu số tiếp nhận xử lý thông tin khẩn cấp về an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ, cấp cứu y tế ngoại viện là phù hợp với xu thế quản lý hiện nay là tinh gọn.
Mô hình này sẽ hạn chế tốn kém nguồn lực khi phải đầu tư cho nhiều đầu mối quản lý, vận hành hệ thống khẩn cấp khác nhau; phù hợp thực tế, xu thế, kinh nghiệm quốc tế của một số quốc gia...", thượng tá Phúc cho hay.
Theo đó, đề án "Tích hợp các đầu số 113, 114, 115 và tổ chức hệ thống thông tin liên lạc trong trường hợp khẩn cấp thành Trung tâm Tiếp nhận, Xử lý thông tin khẩn cấp quốc gia" do Bộ Công an chủ trì, đang được xây dựng theo hướng tích hợp các đầu số 113, 114, 115 thành một đầu số 113 sử dụng trên toàn quốc và đặt tại Trung tâm Thông tin chỉ huy công an 34 tỉnh, thành phố…
Quá trình thực hiện tích hợp các đầu số này sẽ được triển khai theo 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, sẽ tích hợp các đầu số 113, 114, 115 thành một đầu số 113 sử dụng trên toàn quốc và đặt tại Trung tâm Thông tin chỉ huy công an 34 tỉnh, thành phố.
Giai đoạn 2, tổ chức sơ kết, đánh giá để tính toán xây dựng mô hình Trung tâm 113 quốc gia sau khi triển khai từ 6 tháng đến 1 năm. Giai đoạn này dự kiến có thể nghiên cứu tích hợp cả đầu số 111, 117 theo ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Dự kiến từ quý 3-2027 sẽ thức ra mắt hệ thống 113 đi vào hoạt động.
Chia sẻ tại hội thảo, ông Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết Bộ Y tế đang phối hợp Bộ Công an xây dựng hệ thống tổng đài tiếp nhận và điều phối cấp cứu thống nhất trên toàn quốc.
"Đặc biệt, với các cuộc gọi ngoại viện yêu cầu hỗ trợ, trong tương lai chúng tôi sẽ ứng dụng AI để tư vấn và phân loại tình trạng bệnh nhân ngay khi gọi điện.
Đối với điều phối giao thông, có thể kết nối với hệ thống camera AI của cảnh sát giao thông để ưu tiên đèn xanh cho xe cứu thương khi đang làm nhiệm vụ (đặc biệt quan trọng với bệnh nhân đột quỵ)", lãnh đạo Cục Quản lý khám chữa bệnh chia sẻ.
Bên cạnh đó thông qua dữ liệu y tế, ứng dụng AI sẽ hỗ trợ cán bộ trên xe cấp cứu truy cập nhanh hồ sơ sức khỏe điện tử của bệnh nhân để biết tiền sử bệnh, hỗ trợ xử lý chính xác ngay trên đường đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế.
Khi Artemis II bắt đầu hành trình 10 ngày tính từ 1/4, Koch trở thành nữ phi hành gia đầu tiên đi vào không gian sâu. Ngày 6/4 (7/4 theo giờ Hà Nội) tiếp tục ghi nhận cô là người phụ nữ đầu tiên bay quanh Mặt Trăng.
Sau khi bay vòng ra phía xa thiên thể này và gián đoạn liên lạc khoảng 40 phút, Christina Koch chia sẻ: "Thật tuyệt khi được nghe tin từ Trái Đất một lần nữa. Gửi đến châu Á, châu Phi, châu Đại Dương, chúng tôi đang ngắm nhìn và lắng nghe các bạn. Mọi người có thể ngước lên và thấy Mặt Trăng lúc này, chúng tôi cũng nhìn thấy các bạn".
Koch, sinh năm 1979, là chị cả trong gia đình có ba anh chị em. "Chị ấy muốn trở thành phi hành gia từ khi học mẫu giáo", em gái Denise Clayton, cho biết trên News & Observer năm 2023.
Từ khi thành lập, NASA đã lựa chọn 370 phi hành gia, với 61 nữ, chiếm 16%. Tỷ lệ giới tính đã dần cân bằng hơn những năm gần đây, nhưng do các tiêu chí cũ kéo dài trong nhiều năm, nam giới vẫn chiếm đa số. Trong 7 khóa đào tạo phi hành gia đầu tiên từ 1959 đến 1969, họ chọn ra 73 phi hành gia, đều là nam giới, chủ yếu đến từ các nhóm phi công quân sự. Phải đến khóa thứ 8 năm 1978, giới nữ mới được tuyển.
Christina Koch tham gia khóa thứ 21 năm 2013. Trước đó, cô học vật lý và kỹ thuật điện tại Đại học bang North Carolina, rồi lấy bằng thạc sĩ kỹ thuật điện. Sau khi tốt nghiệp, Koch từng là kỹ sư điện cho dự án khoa học không gian tại NASA hai năm nhưng nghỉ công việc cô gọi là "hoàn hảo" để đi nghiên cứu tại Nam Cực.
"Rời bỏ là một quyết định khó khăn. Nhưng ý tưởng về khoa học và khám phá những vùng đất mới đã thu hút tôi đến Nam Cực và không gian", Koch nói trong phỏng vấn với WUNC News.
Chính trải nghiệm đó, cùng với những chuyển dịch trong ngành hàng không vũ trụ, đưa Koch trở về "quỹ đạo" khám phá không gian. NASA xem kinh nghiệm ở các môi trường xa xôi là một năng lực quan trọng trong quá trình tuyển chọn cho chương trình đào tạo phi hành gia năm 2013.
Trước khi tham gia Artemis II, cô đã có chuyến thám hiểm không gian trên Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) vào tháng 3/2019. Khi NASA yêu cầu kéo dài thời gian nhằm thực hiện các nhiệm vụ khoa học, cô đồng ý và ở đây trong 328 ngày liên tục, lập kỷ lục về số ngày một nữ phi hành gia ở trong vũ trụ.
Khi đó, cô và các đồng đội đã đóng góp vào hàng trăm thí nghiệm trong các lĩnh vực sinh học, khoa học Trái Đất, nghiên cứu con người, khoa học vật lý và phát triển công nghệ. Một số thành tựu khoa học nổi bật từ nhiệm vụ bao gồm cải tiến máy quang phổ từ tính Alpha, dùng để nghiên cứu vật chất tối, nuôi cấy tinh thể protein cho nghiên cứu dược phẩm và thử nghiệm máy in sinh học 3D để in mô trong môi trường không trọng lực.
Koch cũng tham gia chuyến đi bộ ngoài không gian toàn nữ đầu tiên của NASA vào tháng 10/2019. Dấu mốc này, cùng với nhiệm vụ 328 ngày, đưa cô trở thành một trong những phi hành gia nổi tiếng nhất ở thế hệ hiện tại, trước khi bước vào Artemis II.
Theo NASA, sống và làm việc lâu ngày trên ISS đòi hỏi sức bền thể chất, kỷ luật và khả năng giữ bình tĩnh ở môi trường khép kín. Artemis II đòi hỏi những phẩm chất tương tự, và với khoảng cách xa Trái Đất hơn cũng như ít phương án ứng phó tức thời hơn, Koch trở thành ứng viên sáng giá.
Trong video của NASA năm 2020, Koch nói sự nghiệp của mình được thúc đẩy bởi "những điều khiến tôi cảm thấy mình nhỏ bé, khiến tôi suy ngẫm về kích thước của vũ trụ, vị trí của tôi trong đó và mọi thứ có thể khám phá ngoài kia".
Với cô, Mặt Trăng không chỉ là thám hiểm không gian sâu. "Nó thực sự là ngọn hải đăng cho khoa học", cô nói trong video giới thiệu các phi hành gia Artemis II năm 2023. "Nó là ngọn hải đăng giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc của mình".
"Tôi luôn nói với mọi người rằng, hãy làm những điều khiến bạn sợ hãi", cô chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn trước nhiệm vụ Artemis. "Với tôi, làm điều sợ hãi nghĩa là lên máy bay đến Nam Cực, đăng ký trở thành phi hành gia, ngồi vào tên lửa, mở cửa khoang ISS và bước ra ngoài không gian".
Theo Digitaltrends, từ các câu lạc bộ ăn tối sang trọng đến những quán bar cocktail trong khu phố, nhiều cơ sở kinh doanh đã đưa ra các chính sách hạn chế sử dụng điện thoại hoặc khuyến khích khách hàng cất thiết bị của họ đi.
Xu hướng này xuất phát từ nhận thức ngày càng tăng về những tác động tiêu cực mà smartphone và mạng xã hội có thể gây ra đối với sự tập trung, trí nhớ và các mối quan hệ giữa người với người. Các nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thiết bị kỹ thuật số liên tục ảnh hưởng đến việc học tập, giao tiếp xã hội và lòng tự trọng.
Theo thống kê, người Mỹ kiểm tra điện thoại khoảng 144 lần mỗi ngày và dành gần 4,5 giờ cho các thiết bị của họ, dẫn đến sự phản đối ngày càng mạnh mẽ đối với chứng nghiện màn hình, đặc biệt từ thế hệ trẻ như Gen Z.
Nhu cầu về các trải nghiệm "analog" đang ảnh hưởng đến ngành công nghiệp khách sạn theo những cách đáng chú ý. Ít nhất 11 tiểu bang của Mỹ đã áp dụng một số hình thức hạn chế sử dụng điện thoại tại các nhà hàng và quán bar. Một số cơ sở áp dụng biện pháp nghiêm ngặt như khóa điện thoại trong túi an toàn trong suốt thời gian khách đến, trong khi những nơi khác đưa ra các ưu đãi nhẹ nhàng hơn như tặng món tráng miệng miễn phí cho thực khách không sử dụng thiết bị điện tử trên bàn.
Lý do đằng sau những chính sách này rất đơn giản: loại bỏ điện thoại giúp tăng cường tương tác giữa người với người. Chủ doanh nghiệp và các chuyên gia trong ngành cho rằng, khi không bị phân tâm bởi các thiết bị kỹ thuật số, khách hàng sẽ gắn bó hơn với người đi cùng, môi trường xung quanh và cả món ăn của họ. Các đầu bếp cũng nhận thấy điện thoại có thể làm giảm trải nghiệm ăn uống, khiến bữa ăn trở nên kém đáng nhớ hơn.
Nhiều khách hàng cho biết họ cảm thấy hiện diện trọn vẹn hơn và kết nối cảm xúc mạnh mẽ hơn trong những chuyến đi không dùng điện thoại. Những trải nghiệm vốn bị gián đoạn bởi các thông báo trở nên sống động và ý nghĩa hơn. Dự kiến, xu hướng này sẽ mở rộng ra ngoài các địa điểm độc lập, khi sự mệt mỏi vì thiết bị kỹ thuật số gia tăng và nhận thức về tác hại của thời gian sử dụng màn hình ngày càng cao.
Mặc dù không phải ai cũng sẵn sàng từ bỏ điện thoại khi đi chơi tối, nhưng sự gia tăng của xu hướng ăn uống không dùng điện thoại cho thấy một sự thay đổi rõ rệt: mọi người đang bắt đầu coi trọng sự hiện diện hơn là kết nối liên tục. Cuối cùng, các nhà hàng đang dần thay đổi thói quen sử dụng màn hình điện thoại tại bàn ăn, khôi phục lại những cuộc trò chuyện thực sự, sự chú ý và sự hiện diện trọn vẹn mà chúng ta đã âm thầm đánh mất.