Theo tiến sĩ – bác sĩ Ketan Bulsara, Giám đốc Trung tâm Đột quỵ tại Cleveland Clinic (Mỹ), cơ chế liên quan giữa nắng nóng và đột quỵ là rất thực tế. Trong điều kiện nhiệt độ cao, cơ thể mất nước và muối khoáng nhanh chóng. Khi đó, máu trở nên cô đặc hơn, tâm thất và mạch máu phải làm việc nhiều hơn, làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông – nguyên nhân chính gây ra đột quỵ thiếu máu cục bộ.
Một nghiên cứu đăng trên Harvard Health Publishing (Mỹ) cũng ghi nhận rằng môi trường nhiệt độ cao có thể tác động xấu đến hệ tuần hoàn. Dữ liệu lớn được thu thập từ các bệnh viện trên khắp nước Mỹ cho thấy nguy cơ nhập viện vì đột quỵ tăng lên trong những ngày nắng nóng, đặc biệt ở người cao tuổi, người có bệnh nền tim mạch, huyết áp cao hoặc tiểu đường.
Bên cạnh đó, tiến sĩ – bác s Rebecca Fieles, chuyên gia thần kinh của University of Maryland Medical Center (Mỹ), cho biết nắng nóng còn có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết não – một dạng đột quỵ nghiêm trọng khác.
Nhiệt độ cao khiến các mạch máu bị giãn nở và áp lực tuần hoàn thay đổi thất thường, nhất là ở người có vữa xơ động mạch. Sự mất cân bằng này có thể dẫn tới vỡ mạch, gây xuất huyết trong não.
Một tổng quan đăng tải trên tạp chí Frontiers in Neurology cũng chỉ ra rằng nhiệt độ thời tiết cực đoan (quá nóng hoặc quá lạnh) đều liên quan tới nguy cơ đột quỵ tăng lên, đặc biệt ở những người có bệnh nền từ trước. Sự mất nước, rối loạn điện giải và thay đổi huyết áp thất thường khi thời tiết nóng là những yếu tố làm não thiếu oxy nhanh hơn, từ đó tác động tới nguy cơ tai biến.
Không chỉ vậy, điều mà nhiều người hay bỏ qua là ”đột quỵ nhiệt” – tình trạng đột ngột suy giảm chức năng não do nhiệt độ cơ thể quá cao (trên 40 °C). Biến chứng này có thể xảy ra khi cơ thể không kịp thích nghi với nhiệt độ cao, dẫn đến tổn thương tế bào não và hệ thần kinh nếu không được sơ cứu kịp thời.
Các chuyên gia đều nhấn mạnh rằng nắng nóng không trực tiếp “gây” đột quỵ đối với người hoàn toàn khỏe mạnh, nhưng ở những người có yếu tố nguy cơ (cao huyết áp, rối loạn mỡ máu, tiểu đường, tiền sử tim mạch hoặc đột quỵ), nhiệt độ cao là “chất xúc tác” nguy hiểm khiến bệnh tiến triển nhanh và biến chứng nặng.
Do đó, phòng ngừa đột quỵ mùa nắng nóng – đặc biệt ở người cao tuổi – cần chú trọng:
Thạc sĩ - bác sĩ nội trú Ngô Thanh Hùng,Trường đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết đi bộ, chạy bộ đều thuộc nhóm bài tập hiếu khí (aerobic), nhưng chúng khác biệt rõ rệt về động lực học, cường độ trao đổi chất và áp lực lên hệ cơ xương khớp. Sự lựa chọn giữa đi bộ và chạy bộ không đơn thuần là một câu hỏi về sở thích, mà là một quyết định lâm sàng dựa trên tình trạng sinh lý, mục tiêu chuyển hóa và khả năng chịu đựng chấn thương của từng cá nhân.
Sự khác biệt cơ bản nhất về mặt lâm sàng nằm ở giai đoạn bay (flight phase). Trong đi bộ, luôn có ít nhất 1 chân tiếp xúc với mặt đất tại mọi thời điểm, trong khi chạy bộ bao gồm một khoảng thời gian ngắn mà 2 chân đều rời khỏi mặt đất. Khi chân tiếp đất sau giai đoạn bay, cơ thể phải hấp thụ một lực phản hồi từ mặt đất cực lớn. Nghiên cứu cho thấy lực này trong đi bộ chỉ dao động từ 1 đến 1,5 lần trọng lượng cơ thể, nhưng trong chạy bộ, nó có thể tăng vọt lên mức 2,5 đến 3,5 lần trọng lượng cơ thể. Áp lực này tác động trực tiếp lên sụn khớp, dây chằng và cấu trúc xương, tạo ra cả những kích thích sinh học tích cực lẫn những rủi ro chấn thương tiềm tàng.
Đơn vị tương đương chuyển hóa (MET) là một công cụ hữu hiệu để so sánh cường độ. Đi bộ nhanh (khoảng 5 - 6 km/giờ) tiêu tốn khoảng 3,5 đến 5 METs; trong khi chạy bộ (tốc độ > 8 km/ giờ) bắt đầu từ 8,0 METs và có thể vượt quá 15 METs ở các vận động viên chuyên nghiệp. Điều này giải thích tại sao chạy bộ có thể đốt cháy lượng calo gấp đôi hoặc gấp 3 lần đi bộ trong cùng một khoảng thời gian.
Việc lựa chọn đi bộ hay chạy bộ cần được cá nhân hóa dựa trên đánh giá chi tiết về tình trạng bệnh lý của người bệnh.
Người bệnh béo phì và hội chứng chuyển hóa. Đối với những người có BMI > 30, chạy bộ không phải là lựa chọn ưu tiên ban đầu do áp lực lên khớp gối và cổ chân quá lớn. Đi bộ nhanh trên mặt phẳng nghiêng là một giải pháp thay thế tốt, giúp tăng nhịp tim và tiêu thụ năng lượng như chạy bộ nhưng vẫn giữ được cơ chế tác động thấp của đi bộ. Người bệnh nên bắt đầu với 10 - 15 phút mỗi ngày và tăng dần lên 30 - 60 phút trước khi cân nhắc chuyển sang chạy bộ nhẹ nhàng.
Người cao tuổi (trên 60 tuổi). Đi bộ là tiêu chuẩn vàng cho nhóm người này. Nó không chỉ cải thiện sức khỏe tim mạch mà còn tăng cường sự thăng bằng và khả năng phối hợp, từ đó giảm nguy cơ té ngã - một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở người cao tuổi. Khuyến nghị tối thiểu là 150 phút đi bộ ở cường độ trung bình mỗi tuần, kết hợp với các bài tập sức mạnh và thăng bằng ít nhất 2 ngày mỗi tuần.
Người bệnh có bệnh lý tim mạch ổn định. Sau khi được bác sĩ chuyên khoa sàng lọc và đánh giá nguy cơ, người bệnh nên thực hiện các bài tập hiếu khí mức độ nhẹ đến trung bình. Đi bộ nhanh thường được ưu tiên vì tính an toàn và khả năng kiểm soát nhịp tim dễ dàng. Tuy nhiên, cần tham vấn y tế nếu có các dấu hiệu như đau thắt ngực không ổn định, suy tim mất bù hoặc rối loạn nhịp tim phức tạp khi có vận động thể lực ở cường độ trung bình - cao.
Người khỏe mạnh nhưng thiếu thời gian. Đối với những người trẻ bận rộn, chạy bộ là lựa chọn tối ưu về mặt hiệu suất. Chỉ cần 75 phút chạy bộ mỗi tuần có thể mang lại lợi ích sức khỏe tương đương với 150 phút đi bộ. Việc kết hợp các khoảng chạy nhanh ngắn (HIIT) vào thói quen đi bộ cũng là một cách hiệu quả để nâng cao thể tích khí lưu thông và sức bền tim phổi.
Tiến sĩ Aravind Badiger, Giám đốc kỹ thuật của Công ty Dược Phẩm BDR Pharmaceuticals (Ấn Độ), cho biết: Trái cây có thể được xem là một lựa chọn tuyệt vời để duy trì sức khỏe tốt, vì nó chứa nhiều chất dinh dưỡng, bao gồm cả chất chống oxy hóa. Nhưng nước ép của chúng có thể gây tác động đáng lo ngại đến việc điều chỉnh lượng đường trong máu.
Nghiên cứu quy mô lớn tại Mỹ, kéo dài hơn 20 năm, được công bố trên các tạp chí y khoa JAMA Pediatrics, The Journal of Nutrition và The Lancet, đã khẳng định thói quen uống nước ép thay vì ăn trái cây nguyên quả từ nhỏ có thể để lại hệ lụy sức khỏe lâu dài cho trẻ em khi trưởng thành.
Nghiên cứu do các nhà khoa học tại Đại học Y Harvard (Mỹ), dẫn đầu, bao gồm 2.128 phụ nữ mang thai và hơn 1.000 trẻ em được sinh ra từ các bà mẹ này. Các đối tượng được theo dõi từ khi còn trong bụng mẹ, qua các giai đoạn sơ sinh, nhi đồng và cho đến độ tuổi thanh thiếu niên (17 - 20 tuổi).
Kết quả đã phát hiện: Tiêu thụ thường xuyên nước ép trái cây và đồ uống có đường trong suốt thời thơ ấu làm tăng nguy cơ tiểu đường ở tuổi thiếu niên.
Cụ thể, mỗi khẩu phần đồ uống có đường hằng ngày trong thời thơ ấu làm tăng 34% tình trạng kháng insulin. Đồng thời, tăng đường huyết lúc đói lên 5,6 mg/dL lượng và tăng chỉ số đường huyết trung bình HbA1c lên 0,12% ở giai đoạn cuối tuổi vị thành niên, theo tờ Times Of India.
Một nghiên cứu khác cho thấy rằng việc thay thế nước ép trái cây bằng 3 phần trái cây nguyên quả mỗi tuần sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường đến 7%.
Tiến sĩ Aravind Badiger giải thích: Mối lo ngại thực sự không phải là bản thân nước ép, mà là thiếu chất xơ. Trong nước ép trái cây, hầu hết chất xơ của trái cây đã bị loại bỏ. Chất xơ rất cần thiết để làm chậm quá trình hấp thụ đường vào máu. Không có chất xơ, đường trong nước ép trái cây được hấp thụ nhanh chóng, do đó lượng đường trong máu tăng lên nhanh hơn.
Việc thiếu chất xơ và việc dễ dàng tiêu thụ nhiều nước ép trái cây gây ra tải lượng đường huyết cao, ảnh hưởng trực tiếp hơn đến lượng đường trong máu. Đây là lý do tại sao các nhà nghiên cứu thường khuyên nên ăn trái cây nguyên quả thay vì uống nước ép, theo Times Of India.
Những người mắc tiểu đường, tiền tiểu đường hoặc các rối loạn chuyển hóa như kháng insulin cần đặc biệt thận trọng trong việc kiểm soát chế độ ăn uống. Ở nhóm này, tình trạng đường huyết tăng cao kéo dài có thể gây nhiều tác động bất lợi đến sức khỏe.
Ngày 10/4, TS.BS.CK2 Nguyễn Minh Hảo Hớn, Trưởng khoa Mũi Xoang, Bệnh viện Tai Mũi Họng TP HCM, cho biết trán bệnh nhân sưng to, đỏ, lan xuống mí mắt, ấn rất đau. Trước đó, người bệnh chảy mũi mủ đục một bên, nhức dữ dội vùng trán, tự mua thuốc uống 4 ngày song tình trạng ngày càng nặng.
Bác sĩ ghi nhận mũi bên phải của bệnh nhân có nhiều mủ đục, niêm mạc sưng. Kết quả chụp CT cho thấy bệnh nhân bị viêm đa xoang ở cả hai bên, lệch vách ngăn mũi. Ổ viêm từ xoang trán phải đã lan ra ngoài làm hỏng một phần xương phía trước trán gây sưng phồng. Đây là biến chứng nặng, còn gọi là hội chứng Pott's Puffy Tumor.
Bệnh nhân được dùng kháng sinh và thuốc kháng viêm để kiểm soát nhiễm trùng trước khi phẫu thuật. Ca mổ khá khó do đường vào xoang bị viêm tắc hoàn toàn. Nhờ hệ thống định vị 3D hỗ trợ, bác sĩ mở thông các xoang và hút sạch mủ. Kết quả xét nghiệm cho thấy vi khuẩn tụ cầu là nguyên nhân gây bệnh.
Sau 3 ngày mổ, bệnh nhân hồi phục tốt, hết sưng trán và mắt, không còn nhức đầu hay chảy mũi.
Giải thích cơ chế gây bệnh, bác sĩ Hớn cho biết xương vùng xoang trán khá mỏng, lại có các mạch máu nối với màng não. Khi xoang bị tắc, mủ tích tụ sẽ tăng áp lực, có thể làm hỏng xương và lan ra ngoài gây sưng. Nguy hiểm hơn, vi khuẩn có thể theo đường máu đi ngược vào não, gây áp xe não hoặc viêm màng não.
PGS.TS.BS.CK2 Lê Trần Quang Minh, Giám đốc Bệnh viện Tai Mũi Họng TP HCM, cho biết Pott's Puffy Tumor là biến chứng hiếm gặp nhưng cực kỳ nguy hiểm. Theo nghiên cứu quốc tế, 72% bệnh nhân trẻ tuổi mắc bệnh này có kèm theo tổn thương lan vào nội sọ, với tỷ lệ tử vong cao.
"Bệnh chủ yếu xảy ra ở người trẻ, nhất là bệnh lý viêm mũi xoang không điều trị đúng mức, khởi phát từ các triệu chứng thông thường như chảy mũi đục, nghẹt mũi, nhức đầu nên dễ bị bỏ qua ở giai đoạn đầu", bác sĩ Minh cảnh báo.
Bác sĩ khuyến cáo không chủ quan với các triệu chứng tai mũi họng. Cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa khi có một trong các dấu hiệu như nhức đầu vùng trán nhiều ngày, không giảm khi uống thuốc giảm đau thông thường; sưng nề, tấy đỏ đột ngột vùng trán, chân mày hoặc quanh mắt; chảy mũi mủ đục một bên kèm sốt, lừ đừ, mệt mỏi. Không tự ý mua thuốc điều trị tại nhà để tránh các biến chứng đe dọa tính mạng.