Chương trình nghệ thuật chính luận với chủ đề “Nhân dân khỏe mạnh – Đất nước phát triển” được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1 tối 5.4, do Bộ Y tế, Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện, khẳng định thông điệp nhất quán: “Sức khỏe nhân dân là trụ cột của phát triển quốc gia”.
Sự kiện có sự tham dự của bà Nguyễn Thị Thanh, Phó chủ tịch Quốc hội; ông Phạm Tất Thắng, Phó trưởng ban Thường trực, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.
Phát biểu tại sự kiện, bà Nguyễn Thị Thanh nêu rõ, Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị đã thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược: chuyển mạnh từ tư duy khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh; lấy phòng bệnh làm ưu tiên hàng đầu; bảo đảm chăm sóc sức khỏe từ sớm, từ xa; lấy người dân làm trung tâm và huy động sự tham gia của toàn xã hội trong xây dựng hệ thống y tế công bằng, hiệu quả, hiện đại.
Theo Phó chủ tịch Quốc hội, mỗi gia đình là tuyến phòng thủ đầu tiên bảo vệ sức khỏe. Mỗi cộng đồng là môi trường nuôi dưỡng những giá trị sống tích cực. Mỗi người dân phải trở thành chủ thể trung tâm, chủ động chăm lo sức khỏe của chính mình. Chúng ta cần tiếp tục quán triệt sâu sắc, đầy đủ Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị và tổ chức thực hiện hiệu quả trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức…
Quốc hội đang ưu tiên hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế, đặc biệt trong lĩnh vực phòng bệnh và bảo hiểm y tế, hướng tới một hệ thống y tế toàn dân, công bằng, hiệu quả, bảo đảm mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, không ai bị bỏ lại phía sau.
Phó chủ tịch Quốc hội cũng nhấn mạnh: không ai có thể thay chúng ta gìn giữ, bảo vệ sức khỏe của chính mình, và cũng không ai có thể xây dựng một quốc gia khỏe mạnh nếu mỗi người dân không khỏe mạnh.
Hãy bắt đầu từ những việc rất nhỏ: sống lành mạnh hơn, rèn luyện mỗi ngày, ăn uống khoa học, chủ động phòng bệnh, quan tâm đến sức khỏe của bản thân và gia đình.
Tại sự kiện, chia sẻ về các giải pháp tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế ngay tại tuyến cơ sở, bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế, cho biết, thực hiện Nghị Quyết 72, ngành y tế trước hết nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cung cấp cho người dân, tăng tối đa các quyền lợi, bảo đảm cung ứng đủ thuốc, thiết bị y tế, cải thiện chất lượng dịch vụ y tế, nâng dần phạm vi quyền lợi được hưởng của người bệnh bảo hiểm y tế.
Từng bước giảm tỷ lệ đồng chi trả của người bệnh, hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế để mọi người đều được tham gia bảo hiểm y tế và được bảo vệ sức khỏe.
Bà Trang cho biết: “Chúng tôi đang cố gắng nâng cao chất lượng dịch vụ, bao phủ những dịch vụ cơ bản nhưng đảm bảo chất lượng, và tiến tới miễn viện phí toàn dân ở mức cơ bản”.
Miễn viện phí phải xác định chất lượng là ưu tiên; đồng thời lựa lựa chọn dịch vụ dự phòng, để từng bước đưa vào bảo hiểm y tế chi trả, trên cơ sở cân đối quỹ; tăng cường đầu tư nguồn lực cho y tế cơ sở để người dân tin tưởng.
Vi khuẩn này lây truyền qua đường miệng - miệng là chủ yếu, trong khi người Việt Nam còn thói quen khá phổ biến dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung và gắp thức ăn cho người khác, chấm chung một chén nước chấm, uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…
Vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) dân gian gọi là HP, sống ở phần sâu lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, và ở các vùng nối giữa các tế bào này.
Trong các nghiên cứu được công bố gần đây, khoảng một nửa dân số trên thế giới bị nhiễm vi khuẩn H. pylori nhưng hầu hết không có biểu hiện triệu chứng, trong số này chỉ có khoảng 1-2% dân số bị nhiễm sẽ tiến triển thành ung thư dạ dày.
Tại Việt Nam, tỉ lệ người nhiễm H. pylori ở các lứa tuổi khác nhau còn rất cao, trên 80%. Nếu cha mẹ bị nhiễm H. pylori, các con có tỉ lệ nhiễm trên 90%, riêng trẻ < 8 tuổi là 98,6%.Những thói quen ăn uống chưa đúng của chúng ta làm tăng nguy cơ lây nhiễm như dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung, chấm chung một chén nước chấm, dùng đũa/muỗng đang ăn trong miệng của mình để gắp/lấy thức ăn cho người khác; uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…Các thói quen khác như nhai cơm nát đút cho con ăn, dùng nước bọt đếm tiền, lật xem tài liệu... cũng làm tăng nguy cơ nhiễm H. pylori.Nhiễm H. pylori được coi là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày, loét dạ dày, loét tá tràng và bệnh ác tính ở dạ dày bao gồm: ung thư dạ dày, và u lymphoma.Các yếu tố nguy cơ khác như tình trạng viêm teo niêm mạc dạ dày, viêm teo kèm dị sản ruột (chuyển sản ruột), loạn sản (nghịch sản) có thể được coi là thương tổn tiền ung thư dạ dày.Giả thuyết về nguyên nhân sinh bệnh ung thư dạ dày là sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của vi khuẩn H. pylori cùng với các thương tổn tiền ung thư, yếu tố môi trường, chế độ ăn có chứa các chất sinh ung, các đột biến gene…Các yếu tố nguy cơ được chia thành 4 nhóm khác nhau, bao gồm: môi trường, chế độ ăn uống - dinh dưỡng, tại chỗ và di truyền.Liên quan đến chế độ ăn uống và môi trường: thói quen ăn mặn, ăn nhiều thực phẩm như thịt, cá hun khói chứa hàm lượng nitrate cao, nguồn nước không sạch, hút thuốc lá... đều làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.Các yếu tố tại chỗ “đóng vai trò quan trọng”, đặc biệt là nhiễm vi khuẩn H. pylori, cùng với các tình trạng bệnh mạn tính như viêm, viêm teo niêm mạc dạ dày, dị sản ruột, loạn sản, polyp tuyến dạ dày kích thước lớn hơn 2cm, hoặc tiền sử cắt dạ dày trên 15-20 năm. Nam có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với nữ.Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn khoảng ba lần, và tỉ lệ ung thư dạ dày có tiền sử gia đình ở các nước châu Á cao hơn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bệnh viêm dạ dày phì đại, polyp tuyến dạ dày lớn hơn 2cm có nguy cơ ung thư từ 10 - 20%.Liên quan giữa ung thư dạ dày và các gene bao gồm sự kích hoạt các gene sinh ung thư và đột biến gây bất hoạt các gene áp chế ung thư có vai trò quan trọng, và có liên quan đến việc biến đổi gene ở người.Vi khuẩn H. pylori gây nhiều bệnh ở dạ dày, lây chủ yếu qua đường ăn uống và hiện chưa có vắc xin phòng ngừa, nên phát hiện và điều trị sớm là cần thiết.Theo các đồng thuận thế giới và Việt Nam năm 2024, cũng như tại Hội nghị đồng thuận châu Á - Thái Bình Dương từ năm 2009 đưa ra ba chỉ định điều trị H. pylori liên quan đến ung thư dạ dày gồm: tầm soát và điều trị tiệt trừ H. pylori trong cộng đồng có tần suất ung thư dạ dày cao, tiền sử gia đình có người bị ung thư dạ dày, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Nhiễm H. pylori không triệu chứng hiện nay cũng cần điều trị do liên quan đến ung thư dạ dày, nhất là người sống ở vùng dịch tễ nhiễm H. pylori, tỉ lệ ung thư dạ dày cao hoặc gia đình có người ung thư dạ dày…
Những người bệnh bắt buộc phải điều trị gồm: viêm dạ dày do nhiễm H. pylori, loét dạ dày - tá tràng do nhiễm H. pylori, sau điều trị các biến chứng của bệnh loét như thủng và chảy máu, u limphoma (MALTs), ung thư dạ dày, gia đình cùng huyết thống có người bị ung thư dạ dày nhiễm H. pylori, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Về điều trị, các phương pháp tiệt trừ H. pylori được đánh giá có hiệu quả và được khuyến cáo chỉ khi đạt tỉ lệ tiệt trừ thành công tối thiểu là 80% (theo ý định điều trị). Để đảm bảo hiệu quả điều trị, cần tuân theo các phác đồ đã được khuyến cáo, uống đủ liều, bác sĩ giải thích tác dụng phụ của thuốc... Sau điều trị kiểm tra lại bằng hơi thở hoặc nội soi dạ dày.Trong trường hợp uống thuốc nhưng không tiệt trừ được vi khuẩn (có thể do uống không đủ liều, cách uống khó khăn, tác dụng phụ của thuốc...), trong đó nguy cơ kháng các thuốc kháng sinh là quan trọng nhất.Về tình trạng tái nhiễm sau khi điều trị sạch vi khuẩn, một thời gian sau người bệnh đau bụng, đầy hơi thì cần kiểm tra nhiễm lại H. pylori. Nguyên nhân thường do tiếp tục ăn uống chung, nhai cơm mớm cho con, dùng tay thấm nước bọt khi đếm tiền hoặc lật tài liệu…Ngoài ra, những người làm nghề đặc thù như bác sĩ nội soi, nha sĩ... cũng có nguy cơ nhiễm và tái nhiễm H. pylori cao hơn do thường xuyên tiếp xúc với mầm bệnh.Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Làn da có thể phản ánh tình trạng bên trong cơ thể, bao gồm sức khỏe của gan. Nếu da thay đổi bất thường mà không rõ nguyên nhân, đó có thể là dấu hiệu liên quan đến gan, đặc biệt khi tình trạng này xuất hiện nhanh hoặc kéo dài.
Gan đóng vai trò quan trọng trong việc thải độc, chuyển hóa dinh dưỡng và duy trì cân bằng nội môi. Khi chức năng của cơ quan này suy giảm, nhiều thay đổi có thể xuất hiện trên da. Những biểu hiện này không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với bệnh gan nghiêm trọng, nhưng nếu kéo dài hoặc nặng lên, người bệnh nên đi khám. Phát hiện sớm, kết hợp chế độ ăn lành mạnh, tập luyện đều đặn và hạn chế rượu bia có thể giúp bảo vệ gan hiệu quả. Dưới đây là 5 thay đổi trên da mà mọi người cần đặc biệt lưu ý.
Vàng da, mắt
Một trong những dấu hiệu điển hình là vàng da, xảy ra khi da và mắt chuyển sang màu vàng. Khi gan không thể xử lý hiệu quả, bilirubin tích tụ trong máu và lắng đọng ở các mô, ban đầu là da rồi đến mắt. Tình trạng này không phải lúc nào cũng biểu hiện rõ rệt. Dưới ánh sáng tự nhiên, nhiều người bệnh chỉ nhận thấy da có ánh vàng nhạt thay vì màu vàng đậm. Tuy nhiên, dù mức độ da vàng nhẹ cũng cần được kiểm tra sớm.
Ngứa kéo dài không kèm phát ban
Người mắc bệnh gan có thể cảm thấy châm chích, như có gì đó bò dưới da. Thuốc kháng histamine thường không hiệu quả, kem dưỡng ẩm cũng ít cải thiện trong trường hợp này và không có phát ban rõ ràng. Nguyên nhân là do dòng chảy mật bị chậm, khiến muối mật tích tụ dưới da gây ngứa. Triệu chứng ngứa da có xu hướng nặng hơn vào ban đêm và có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ.
Các mạch máu đỏ giống hình mạng nhện
Một dấu hiệu khác là sự xuất hiện của các mạch máu nhỏ hình mạng nhện, thường thấy ở cổ, mặt hoặc ngực, đặc biệt ở những người mắc bệnh gan mạn tính.
Mặc dù một vài tổn thương có thể không đáng lo, nhưng nếu xuất hiện nhiều, đặc biệt ở người trưởng thành, bác sĩ thường sẽ kiểm tra chức năng gan vì rối loạn nội tiết do bệnh gan có thể ảnh hưởng đến hoạt động của mạch máu.
Da sẫm màu ở các nếp gấp
Nhiều người cho rằng vùng da sẫm màu dần ở cổ, bẹn hoặc nách là do cháy nắng hoặc ma sát. Tuy nhiên, nếu sắc tố xuất hiện đột ngột hoặc tiến triển nhanh, nên khám da liễu để kiểm tra kỹ hơn.
Các rối loạn chuyển hóa và bệnh lý liên quan đến gan có thể ảnh hưởng đến quá trình hình thành sắc tố, dẫn đến sạm da kéo dài, thường không đáp ứng với các loại kem thông thường.
Vết thương lâu lành, dễ bầm tím
Việc gan giảm sản xuất các protein đông máu có thể khiến những vết cắt nhỏ chảy máu lâu hơn hoặc va chạm nhẹ cũng để lại vết bầm lớn.
Nhiều người mắc bệnh gan xuất hiện các mảng bầm tím mà không rõ nguyên nhân. Theo bác sĩ, đây thường là dấu hiệu rối loạn đông máu chứ không chỉ là vấn đề ngoài da. Dù đôi khi các biểu hiện này có thể do nắng hoặc da khô, nhưng cũng có thể là tín hiệu cảnh báo từ gan, vì vậy nên kiểm tra sớm để đảm bảo an toàn.
Những người ốm nhưng vẫn tích nhiều mỡ bụng thường là do những yếu tố sau:
Không phải ai tăng cân cũng tích mỡ giống nhau. Yếu tố di truyền có tác động quan trọng đến cách cơ thể sẽ tích mỡ ở đâu, chẳng hạn vùng đùi, mông hay bụng. Một số người có xu hướng tích mỡ nội tạng nhiều hơn dù tổng lượng mỡ không cao, theo chuyên trang sức khỏe Verywell Health (Mỹ).
Nghiên cứu đăng trên chuyên san Nature Reviews Endocrinology cho thấy yếu tố gien có ảnh hưởng rõ rệt đến phân bố mỡ trong cơ thể, đặc biệt ở người châu Á. Đây là nhóm có nguy cơ tích mỡ nội tạng cao hơn ngay cả khi BMI bình thường.
Điều này giúp giải thích vì sao có những người ăn uống và sinh hoạt không quá khác biệt nhưng vẫn dễ bị bụng mỡ. Tuy nhiên, di truyền không phải yếu tố quyết định hoàn toàn. Lối sống vẫn có thể làm giảm hoặc khuếch đại thêm tình trạng này.
Một người có cân nặng bình thường chưa chắc đã có cơ thể khỏe mạnh. Điều quan trọng hơn là tỷ lệ giữa cơ và mỡ. Khi cơ bắp thấp, cơ thể đốt calo kém hơn, khiến phần calo dư thừa dễ tích tụ thành mỡ, đặc biệt là mỡ nội tạng.
Không phải cứ có tập thể dục là đủ để thâm hụt calo và giảm mỡ bụng. Nếu cường độ tập quá nhẹ hoặc không đủ kích thích cơ bắp, cơ thể sẽ không tiêu hao nhiều calo và mỡ nội tạng vẫn tích tụ.
Ngoài ra, lối sống ít vận động làm giảm khả năng sử dụng đường glucose của cơ bắp, khiến lượng đường glucose dư thừa dễ chuyển thành mỡ. Những người ngồi nhiều, ít hoạt động trong ngày dù thân hình ốm nhưng nguy cơ tích mỡ bụng cao vẫn cao hơn người vận động đều đặn.
Căng thẳng kéo dài không chỉ ảnh hưởng tâm lý mà còn tác động đến nội tiết. Khi cơ thể bị căng thẳng liên tục, hoóc môn cortisol được tiết ra nhiều hơn. Chúng làm tăng đường huyết và thay đổi cách cơ thể sử dụng calo.
Hệ quả là phần calo dư thừa dễ chuyển thành mỡ và tích tụ ở vùng bụng. Đây là lý do nhiều người dù ăn ở chế độ bình thường nhưng vẫn tăng mỡ bụng.
Nhiều người nghĩ rằng chỉ cần ăn ít hoặc tránh đồ béo là đủ. Tuy nhiên, nếu khẩu phần ăn vẫn chứa nhiều đường hoặc tinh bột trắng thì khả năng tích mỡ nội tạng vẫn cao.
Vấn đề là nhiều người ăn các món này nhưng không nhận thức rõ, chẳng hạn như bánh mì, bánh bao, hủ tiếu, phở hay cà phê sữa. Chúng dễ làm tăng đường huyết, kéo theo sự tăng tiết hoóc môn insulin. Về lâu dài, điều này còn dẫn đến kháng insulin và làm tăng nguy cơ tiểu đường loại 2, theo Verywell Health.