Mục Lục
ToggleNgười phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng ngày 23/4 dẫn thông tin từ Đại sứ quán Việt Nam tại Mexico, cho biết đại sứ quán đang phối hợp chặt chẽ với chính quyền sở tại để triển khai tôn tạo tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trung tâm lịch sử của thành phố Mexico City.
“Đây là một công trình có ý nghĩa rất quan trọng, tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới. Đồng thời đây cũng là biểu tượng của tình hữu nghị tốt đẹp giữa Việt Nam và Mexico”, bà Hằng nói.
Theo người phát ngôn, với sự giám sát và bảo đảm an ninh, an toàn của chính quyền thành phố Mexico City cũng như Đại sứ quán Việt Nam tại Mexico, tượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được di dời tới nơi duy tu và bảo dưỡng.
Mexico là một trong những nước Mỹ Latin đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, vào ngày 19/5/1975. Bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng năm 2009, phỏng theo tấm ảnh do nghệ sĩ Đinh Đăng Định chụp khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch. Trên bức tường đằng sau bức tượng ghi dòng chữ vàng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây Ban Nha.
Tin Gốc: Vnexpress

Ngày Người khuyết tật Việt Nam (18-4) ghi nhận một dấu mốc quan trọng và đầy ý nghĩa. Lần đầu tiên, một đại diện do cộng đồng người khuyết tật đề cử đã được bầu vào Quốc hội khóa XVI.
Thành tựu này thể hiện rõ tinh thần của chủ đề năm nay: "Thúc đẩy quyền tham gia của người khuyết tật - Kiến tạo đột phá phát triển".
Đây không chỉ là niềm tự hào, mà còn là một bước tiến quan trọng. Bởi lẽ, đột phá thực sự không chỉ nằm ở sự đại diện, mà ở cách sự đại diện đó có thể thúc đẩy những thay đổi trong các hệ thống, thể chế và toàn xã hội.
Cuộc bầu cử này phản ánh hành trình bền bỉ của Việt Nam trong việc thúc đẩy hòa nhập. Những định hướng chính sách gần đây đã từng bước mở rộng không gian để người khuyết tật tham gia trực tiếp vào quá trình ra quyết định công - điều mà trước đây chưa được xác định rõ ràng.
Bước tiến này cho thấy một sự chuyển dịch rộng hơn hướng tới mô hình phát triển bao trùm hơn, nơi các tiếng nói đa dạng cùng tham gia định hình luật pháp và các ưu tiên phát triển.
Trong tầm nhìn đó, người khuyết tật không chỉ được bảo vệ và hỗ trợ, mà còn được trao quyền để đóng góp, lãnh đạo và cùng kiến tạo các thể chế phục vụ chính mình.
Đạt được cột mốc này là cả một hành trình đòi hỏi sự kiên trì và dũng cảm.
Những nỗ lực ban đầu đã góp phần đặt nền móng. Năm 2011, ông Nguyễn Công Hùng, một chuyên gia công nghệ thông tin trẻ với khuyết tật nặng, đồng thời là Giám đốc Công ty cổ phần "Nghị lực sống", đã tiên phong ứng cử vào Quốc hội - cơ quan lập pháp cao nhất của đất nước. Dù chưa trúng cử, việc ông tham gia ứng cử vẫn đánh dấu một bước tiến quan trọng.
Sau đó, bà Thạch Thị Dân, một phụ nữ Khmer có khuyết tật vận động, đã đảm nhiệm vai trò đại biểu Quốc hội trong các khóa XII và XIII.
Mặc dù bà được đề cử với tư cách đại diện cho phụ nữ dân tộc thiểu số, chứ chưa phải là đại diện chính thức của người khuyết tật, nhưng những đóng góp của bà trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật quan trọng, như Luật Người khuyết tật (2010) và Bộ luật Lao động (2012), đã cho thấy rõ giá trị và chuyên môn mà người khuyết tật có thể mang lại trong thảo luận chính sách.
Khát vọng được đại diện từ lâu đã rất rõ ràng. Một khảo sát nhanh của UNDP năm 2021 cho thấy 98,2% người khuyết tật được hỏi trên toàn quốc mong muốn tiếng nói của mình được phản ánh trong các cơ quan dân cử.
Tuy nhiên, việc chuyển hóa khát vọng đó thành sự tham gia rộng rãi hơn với vai trò là ứng cử viên và đại biểu dân cử cần thêm thời gian.
Không phải do họ thiếu quan tâm hay năng lực, mà bởi các rào cản mang tính cấu trúc vẫn còn tồn tại.
Những rào cản này bao gồm định kiến xã hội về năng lực của người khuyết tật, các khuôn khổ pháp lý chưa thực sự thúc đẩy sự tham gia, cũng như các quy trình chính trị còn thiếu tính tiếp cận.
Các điểm bỏ phiếu và hội trường có thể chưa thân thiện với người sử dụng xe lăn. Tài liệu bầu cử thường chưa dễ tiếp cận với người khiếm thị.
Bên cạnh đó, sự tham gia và kết nối của các tổ chức đại diện người khuyết tật vẫn còn hạn chế.
Giải quyết những thách thức này đòi hỏi nỗ lực bền bỉ và sự chung tay của nhiều bên - từ các cơ quan nhà nước, các tổ chức của người khuyết tật đến toàn xã hội. Bởi lẽ, sự đại diện không tự nhiên mà có. Nó đòi hỏi các hệ thống phải được thiết kế để bảo đảm mọi người đều có thể tham gia.
Trong bối cảnh đó, việc PGS.TS Trần Mạnh Huy được bầu vào năm 2026 đánh dấu một bước tiến có ý nghĩa quan trọng. Ý nghĩa của sự kiện này không chỉ nằm ở kết quả, mà còn ở điều nó phản ánh: một hệ thống đang dần thay đổi và phát triển.
Được đề cử bởi Liên hiệp Hội về Người khuyết tật Việt Nam, việc ông Huy trúng cử cho thấy nhận thức và sự tự tin của cộng đồng người khuyết tật ngày càng tăng lên, đồng thời phản ánh sự cởi mở hơn đối với tính đa dạng trong hệ thống chính trị.
Con đường ứng cử của ông cũng được tạo điều kiện thuận lợi hơn nhờ các định hướng trong thông báo Kết luận 444-TB/VPTW, cho thấy cách tiếp cận chủ động hơn trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trị của người khuyết tật.
Đây chính là cách mà sự thay đổi diễn ra: khi sự cởi mở của thể chế giúp chuyển hóa khát vọng thành sự đại diện.
Tiến bộ của Việt Nam cũng phản ánh xu hướng chung trên thế giới.
Ở nhiều quốc gia, sự hiện diện của người khuyết tật trong cơ quan lập pháp không chỉ nhằm bảo đảm tính đa dạng, mà còn là động lực thúc đẩy một nền quản trị hiệu quả và bao trùm hơn.
Khi các nhóm dễ bị tổn thương và thiểu số tham gia vào quá trình ra quyết định, chính sách và hệ thống sẽ dần được hoàn thiện để phục vụ tốt hơn cho tất cả mọi người.
Tại Úc, bà Kelly Vincent - một chính trị gia có khuyết tật vận động - đã thúc đẩy các chính sách bảo vệ phụ nữ trước bạo lực trên cơ sở giới, góp phần thúc đẩy các cải cách bảo vệ tất cả phụ nữ, dù họ có khuyết tật hay không.
Ở cấp độ quốc tế, bà Helga Stevens, một nghị sĩ Nghị viện châu Âu là người điếc, đã góp phần thúc đẩy việc công nhận ngôn ngữ ký hiệu và quyền của người khuyết tật. Bà đã giúp cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ công và hệ thống an sinh xã hội cho cộng đồng người điếc trên toàn Liên minh châu Âu.
Những ví dụ này minh họa một bài học chung: khi các góc nhìn đa dạng được bao hàm, quản trị sẽ trở nên hiệu quả hơn.
Việc có một đại biểu Quốc hội đại diện cho người khuyết tật mở ra một cơ hội mới cho Việt Nam: cơ hội lồng ghép tính tiếp cận vào quy trình lập pháp; đưa trải nghiệm thực tiễn trực tiếp vào quá trình xây dựng chính sách; và bình thường hóa sự tham gia của người khuyết tật trong đời sống xã hội.
Điều này đánh dấu một chuyển dịch quan trọng, từ việc nói về người khuyết tật sang cùng quản trị với họ.
Trong thời gian tới, dấu mốc này cần được chuyển hóa thành những thay đổi mang tính cấu trúc và bền vững: xây dựng quy trình ứng cử bao trùm hơn, bảo đảm quy trình bầu cử có tính tiếp cận, và hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện để không ai có năng lực bị bỏ lại phía sau.
Nhân Ngày Người khuyết tật Việt Nam, UNDP xin gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhất tới cộng đồng người khuyết tật trên cả nước.
Quản trị bao trùm không tự nhiên mà có. Nó cần được thiết kế và xây dựng một cách có chủ đích trong các hệ thống. UNDP cam kết tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong việc thúc đẩy các cải cách cần thiết, nhằm đưa sự tham gia của các nhóm dễ bị tổn thương trở thành điều bình thường, chứ không phải là ngoại lệ.
Chúng tôi kỳ vọng hệ thống quản trị đang ngày càng hoàn thiện của Việt Nam sẽ tiếp tục phản ánh và tận dụng tốt hơn các góc nhìn đa dạng trong quá trình hoạch định chính sách.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Con sói đực còn non, tên Neukgu, nặng khoảng 30 kg, hôm 8.4 đã đào thoát khỏi chuồng ở một sở thú và chạy trốn suốt những ngày qua. Giới hữu trách đã triển khai hàng trăm cảnh sát, binh sĩ, thiết bị bay không người lái (drone) và camera hồng ngoại để lần theo dấu vết của con sói xổng chuồng.
Không ít lần tung tích của con sói được phát hiện, nhưng con vật vẫn xoay xở chạy thoát.
Cuối cùng, con sói cũng bị bắt lại vào rạng sáng 17.4, với thông báo của chính quyền thành phố Daejeon viết trên mạng xã hội X: "Chào mừng trở lại, #Neukgu!"
Hãng thông tấn Yonhap News dẫn lời giới chức thành phố cho biết lực lượng chức năng lần ra dấu vết con sói sau khi nhận được tin trình báo rằng con vật đang ở trong một công viên tại Daejeon.
Giới chức đã bắn thuốc mê và thành công hạ gục Neukgu. Chính quyền thành phố đăng một đoạn video cho thấy lực lượng cứu hộ đưa con vật trong trạng thái bị chuốc thuốc mê vào lồng.
Kết quả kiểm tra của phía thú y cũng xác nhận nhịp tim và thân nhiệt của con sói đều trong ngưỡng bình thường.
Sói Neukgu ( 2 tuổi) đã đào thoát khỏi sở thú bằng cách dùng móng vuốt đào hang chui khỏi chuồng và làm hư hại hàng rào.
Vụ việc đã buộc một trường tiểu học địa phương phải đóng cửa vì lo ngại an toàn.
Một con sư tử núi tên Bborong bị bắn chết sau khi xổng khỏi chuồng tại cùng một sở thú hồi năm 2018.
Tin Gốc: Thanh Niên

Giữa thập niên 1990, Chiến tranh Bosnia bước vào thời kỳ căng thẳng nhất. Đây là cuộc xung đột nổ ra sau khi Nam Tư tan rã, với sự đối đầu giữa các cộng đồng sắc tộc tại Bosnia và Herzegovina, khiến đất nước này bị chia cắt và chìm trong bạo lực kéo dài. Phương Tây ban đầu can thiệp thông qua lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Chiến sự sau đó leo thang, NATO bắt đầu áp đặt vùng cấm bay trên không phận Bosnia nhằm ngăn các bên sử dụng máy bay quân sự.
Tuy nhiên, vùng cấm bay không đồng nghĩa kiểm soát hoàn toàn bầu trời. Lực lượng Serb ở Bosnia vẫn duy trì hệ thống radar và tên lửa phòng không từ mặt đất, đủ khả năng phát hiện và bắn hạ máy bay bay qua khu vực. Vì vậy, các chuyến tuần tra của NATO vẫn hoạt động trong môi trường rủi ro cao.
Ngày 2/6/1995, đại úy Scott O'Grady, phi công F-16 của Không quân Mỹ, đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên không phận Bosnia thì tiêm kích trúng tên lửa đất đối không. Máy bay nhanh chóng bị phá hủy, buộc anh phải kích hoạt ghế phóng để thoát hiểm.
Anh bung dù và tiếp đất trong khu vực rừng núi do lực lượng Serb kiểm soát, nơi nguy cơ bị phát hiện và bắt giữ luôn thường trực.
6 ngày sinh tồn trong im lặng
Sau khi O'Grady chạm đất, những gì anh có là một bản đồ dành cho vùng tây bắc Bosnia có ảnh các loài thực vật ăn được, radio PRC-112 nặng gần 800 gr, bộ dụng cụ sinh tồn gắn dưới ghế chiếc F-16, gồm túi sơ cứu, vài quả pháo sáng, một súng ngắn 9 mm, pin.
Trong suốt gần một tuần, O'Grady áp dụng kỹ năng sinh tồn được huấn luyện. Ban ngày, nam phi công nằm im trong bụi rậm hoặc dưới tán cây, tránh mọi chuyển động có thể bị phát hiện. Ban đêm, anh di chuyển thận trọng để tìm nơi trú ẩn mới.
O'Grady phải ăn côn trùng, cây dại và tận dụng khẩu phần khẩn cấp mang theo. Khi nước dự trữ cạn, anh hứng nước mưa từ lá cây để duy trì sự sống. Anh không sử dụng radio trong nhiều ngày vì lo ngại bị phát hiện.
"Sử dụng thiết bị liên lạc có thể đồng nghĩa với việc tự lộ vị trí", một quan chức quân sự Mỹ cho biết.
Trong thời gian đó, lực lượng Serb liên tục rà soát khu vực. Có thời điểm, trực thăng tìm kiếm bay rất thấp, đến mức O'Grady có thể nhìn thấy rõ phi hành đoàn. Đến ngày thứ 6, khi thể lực suy giảm và nguy cơ bị phát hiện gia tăng, O'Grady quyết định bật radio trong thời gian ngắn.
"Đây là Basher-52. Tôi còn sống và cần trợ giúp", anh nói qua radio 2h08 CET ngày 8/6/1995, sử dụng mật danh cá nhân.
Thông tin này được phi cơ tuần tra của NATO thu thập, lập tức kích hoạt một chuỗi quyết định khẩn cấp. Các chỉ huy nhận định rằng cơ hội cứu hộ có thể biến mất nhanh chóng nếu chậm trễ. O'Grady đang ở sâu trong vùng kiểm soát của đối phương, và việc kéo dài thời gian chỉ làm tăng rủi ro.
Chiến dịch 5 giờ
7 phút sau khi thu được tín hiệu, chiến đấu cơ AC-130 mật danh Ghost 45 xác nhận người cầu cứu là O'Grady. Các sĩ quan trên một máy bay cảnh báo sớm (AWACS) báo tin về sở chỉ huy rằng O'Grady vẫn ổn, nhưng thêm rằng "cậu ấy thực sự cần được giải cứu trong đêm nay và tín hiệu radio ngày càng yếu".
Thông tin về O'Grady được chuyển tới Đô đốc Leighton Smith tại Anh, chỉ huy lực lượng NATO ở miền nam châu Âu.
"Basher-52 vừa liên lạc", một quan chức thuật lại nội dung tin nhắn. "Đô đốc Smith bật dậy, dồn toàn bộ tập trung vào tình huống". Các phương án hành động nhanh chóng được cân nhắc. Lệnh TRAP (triển khai chiến dịch thu hồi máy bay hoặc nhân sự) được ban hành.
Tại Washington lúc này là khoảng 21h30 ngày 7/6/1995. Cố vấn an ninh quốc gia Anthony Lake báo tin cho tổng thống Bill Clinton.
Kế hoạch được xây dựng theo mô hình nhiều lớp. Trực thăng đưa lực lượng đổ bộ vào điểm tiếp cận. Tiêm kích và trực thăng tấn công yểm trợ trên không, sẵn sàng phản ứng nếu bị tấn công. Máy bay tác chiến điện tử gây nhiễu radar nhằm giảm khả năng phát hiện.
Lực lượng đặc nhiệm được huy động từ tàu tấn công đổ bộ USS Kearsarge, đang hoạt động ngoài khơi biển Adriatic. Đây là căn cứ gần nhất có đủ trực thăng và lính thủy đánh bộ để thực hiện nhiệm vụ.
Khoảng 40 lính thủy đánh bộ trên tàu Kearsarge lập tức chuẩn bị cho đợt triển khai lúc rạng sáng vào khu vực sâu gần 100 km trong đất liền. Mục tiêu của chiến dịch rất rõ ràng: tiếp cận nhanh, cứu phi công và rút lui trước khi đối phương kịp phản ứng mạnh.
Các lính thủy đánh bộ lên hai trực thăng CH-53E Super Stallion. Hộ tống các trực thăng Stallion là hai trực thăng tấn công AH-1W SuperCobra cùng cặp tiêm kích cất hạ cánh thẳng đứng AV-8B Harrier. Đội bay này còn được yểm trợ bởi các biên đội trực thăng và tiêm kích dự bị cùng loại. Toàn bộ "hạm đội trên không" gồm khoảng 40 phi cơ, được điều phối từ một máy bay AWACS.
"Chúng tôi đã huy động toàn bộ hỏa lực cần thiết", ông Smith nói.
6h07 ngày 8/6/1995, các máy bay gây nhiễu EA-6B và EF-111 được thiết kế cho tác chiến điện tử bắt đầu chế áp mạnh hệ thống radar và liên lạc trong khu vực, nhằm làm tê liệt khả năng theo dõi của lực lượng Serb. 6 phút sau, một máy bay báo đã bắt được liên lạc với O'Grady.
Ở bên kia biên giới, trong khu vực Croatia do người Serb kiểm soát, một hệ thống radar bắt đầu theo dõi hoạt động trên không phận Bosnia. Trạm radar tại Knin, mật danh Giraffe, được kích hoạt lúc 6h21, cho thấy nếu ban đầu lực lượng Serb còn bất ngờ, thì lúc này họ không còn "mù thông tin" nữa.
Khoảng 6h35, lực lượng Mỹ tiếp cận khu vực thu được tín hiệu từ O'Grady. Các phi công phát hiện một vệt khói màu vàng bốc lên từ tán cây gần một bãi đất đá. O'Grady đã bắn pháo hiệu.
Chiếc CH-53E đầu tiên, do thiếu tá William Tarbutton điều khiển, tránh những cọc hàng rào gỗ có dây thép gai và hạ cánh. Khoảng 20 lính thủy đánh bộ nhanh chóng lao ra, thiết lập vành đai an ninh.
Chiếc CH-53E thứ hai, do đại tá Martin Berndt chỉ huy, vô tình đáp xuống một đoạn hàng rào, buộc phi công phải đưa máy bay lên rồi hạ xuống lại. Phía trên, hai trực thăng tấn công AH-1W lơ lửng yểm trợ, sẵn sàng khai hỏa. Cao hơn nữa, hai tiêm kích AV-8B sẵn sàng cung cấp hỏa lực mạnh hơn nếu cần.
Berndt nhìn qua buồng lái và bất ngờ thấy một người chạy về phía trực thăng, tay cầm súng ngắn vào lúc 6h44. Sương mù khá dày, nên ban đầu Berndt chưa thể biết đó là ai.
"Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra chỉ có thể là anh ấy", Berndt nhớ lại.
Cửa bên của trực thăng vừa mở được khoảng ba giây thì O'Grady lao thẳng vào khoang. Anh trao khẩu súng cho phi hành đoàn, nhanh chóng khoác áo và đội mũ bảo hiểm bay.
"Thậm chí không ai trong chúng tôi phải rời khỏi trực thăng", Berndt nói thêm.
Ngay sau đó, trực thăng cất cánh. O'Grady được phủ chăn, nhanh chóng ăn khẩu phần khẩn cấp. 0h49 ngày 8/6/1995 tại Washington (6h49 CET), ngay khi trực thăng CH-35E cất cánh, tổng thống Clinton nhận cuộc gọi báo tin từ cố vấn an ninh quốc gia Lake.
"Đã cứu được cậu ấy", Lake nói.
"Tuyệt vời! Đây là một chàng trai phi thường", ông Clinton đáp lại.
Chiến dịch thu hồi, xét về mặt kỹ thuật, diễn ra gần như hoàn hảo trong giai đoạn tiếp cận. Thách thức lớn nhất đến trong giai đoạn rút lui.
Khi đội hình trực thăng rời khỏi khu vực, họ đối mặt với hỏa lực từ mặt đất, bao gồm súng máy và tên lửa vác vai. Một số viên đạn trúng vào thân và cánh quạt trực thăng, nhưng không gây thiệt hại nghiêm trọng.
Lúc 6h58, một sĩ quan trên máy bay gây nhiễu EA-6B đã đề xuất phá hủy trạm radar tại Knin. Tuy nhiên, đề xuất bị bác bỏ do lo ngại leo thang xung đột, bởi khi đó lực lượng Serb đang giữ một số binh sĩ Liên Hợp Quốc làm con tin.
7h07, một trong hai trực thăng cho biết họ bị nhắm bắn bằng tên lửa vác vai nhưng không trúng. Đội hình rút lui an toàn và đưa O'Grady trở lại tàu Kearsarge ngoài khơi.
O'Grady được mọi người chào đón khi trở về Mỹ. Phi công này còn đến thăm Nhà Trắng, được tổng thống Clinton gọi là "một anh hùng nước Mỹ".
Tin Gốc: Vnexpress

