Thủ tướng Hungary Viktor Orban đã phải nhận thất bại nặng nề nhất trong cuộc bầu cử cuối tuần trước, khi đảng trung hữu đối lập Tisza của chính trị gia Peter Magyar giành được 138 trong tổng số 199 ghế tại quốc hội, trong khi đảng Fidesz của ông Orban chỉ giành khoảng 55 ghế.
Điều này đồng nghĩa Tisza sẽ tự thành lập chính phủ mới với Magyar, 45 tuổi, làm Thủ tướng, chấm dứt 16 năm cầm quyền của Orban, chính trị gia nổi tiếng với tư tưởng cánh hữu dân túy.
“Đây là kết quả đau đớn nhưng không thể phủ nhận: Chúng tôi không còn được người dân tin tưởng giao phó trách nhiệm và cơ hội lãnh đạo”, ông Orban hôm 12/4 phát biểu thừa nhận thất bại.
Tibor Dessewffy, giám đốc trung tâm nghiên cứu xã hội học kỹ thuật số tại Đại học Eotvos Lorand, Budapest, đồng thời là thành viên Hội đồng châu Âu về Quan hệ Đối ngoại, nhận định thất bại này cho thấy ông Orban đã trở thành nạn nhân của chính hệ thống do mình tạo ra.
Năm 2010, khi đảng Fidesz lần đầu lên nắm quyền, họ nhận được 53% phiếu bầu và giành được 2/3 số ghế tại quốc hội, giúp đảng này có thể thay đổi các quy định quan trọng về bầu cử.
Tận dụng lợi thế này, ông Orban đã thiết kế một hệ thống bầu cử giúp tối đa hóa số ghế tại quốc hội mà đảng Fidesz giành được. Fidesz đã chia lại các khu vực bầu cử theo hướng có lợi cho mình, mở rộng quyền bỏ phiếu cho những người Hungary sống ở nước ngoài vốn đa phần có tư tưởng bảo thủ.
Họ cũng thiết lập một hệ thống bỏ phiếu hỗn hợp nhằm phân bổ số ghế áp đảo cho đảng giành được tỷ lệ phiếu bầu cao nhất, ngay cả khi đảng đó chỉ đạt được đa số tương đối chứ không phải đa số tuyệt đối.
Nhờ những thay đổi này, đến cuộc bầu cử năm 2014, đảng Fidesz chỉ nhận được 45% số phiếu bầu, nhưng tỷ lệ đa số tuyệt đối tại quốc hội của họ về cơ bản vẫn không thay đổi.
Điều đó cho phép Fidesz tiếp tục thông qua các đạo luật, sửa đổi hiến pháp và bổ nhiệm những người trung thành với đảng vào các vị trí quan trọng mà không cần phải tham khảo ý kiến từ các đảng đối lập.
Ông Orban thời gian này cũng thành công trong nỗ lực tăng cường kiểm soát truyền thông. Đảng Fidesz đã phủ kín các kênh truyền thông bằng vô số thông điệp báo động về những thế lực “đang tấn công Hungary”.
Họ cho rằng Hungary đang bị bao vây, công kích bởi người nhập cư trái phép, các nhóm thiểu số về giới, những chính trị gia quan liêu tại Liên minh châu Âu (EU) và cả chính phủ Ukraine.
Những thông điệp đó đã tạo nên cảm giác bất an trong công chúng và giúp Fidesz giữ vững thành trì của mình ở phe cánh hữu, thường xuyên lôi kéo được ủng hộ từ các đảng cực hữu khác. Khi phản hồi lại những thông tin này, các đảng đối lập bị buộc phải bảo vệ những quan điểm vốn không nhận được đồng thuận từ đại đa số người dân Hungary, như ủng hộ quyền LGBTQ+, thể hiện đồng cảm với người nhập cư Hồi giáo và lặp lại những lời chỉ trích chính phủ Hungary từ EU.
Trong hơn một thập kỷ, chiến thuật của Fidesz đã đem lại nhiều thành công về mặt bầu cử. Ông Orban tái đắc cử vào năm 2014, 2018 và 2022, trở thành thủ tướng tại vị lâu nhất ở châu Âu.
Trong suốt thời gian đó, ông lãnh đạo chính phủ với thế đa số tuyệt đối tại quốc hội, giúp ông xây dựng các thiết chế kinh tế, chính trị, tư pháp và thậm chí là văn hóa của Hungary mà không gặp phải bất kỳ kiểm soát hay đối trọng nào.
Trụ cột suy yếu
Hệ thống mà đảng Fidesz dày công xây dựng đã trở thành trụ cột đảm bảo rằng đảng lớn nhất đất nước có thể lãnh đạo với quyền lực gần như tuyệt đối, nhờ vào việc dễ dàng chiếm được đa số áp đảo tại quốc hội. Nó đã vận hành trơn tru qua ba cuộc bầu cử liên tiếp, cho đến khi một lực lượng mới là đảng Tisza xuất hiện và tỏ ra được lòng dân hơn cả Fidesz.
Là một chính trị gia trẻ tuổi, Magyar đã thích nghi nhanh chóng với môi trường truyền thông mới, nơi Fidesz bấy lâu nay dường như không có đối thủ. Ông đã nhanh chóng xây dựng Tisza thành một lực lượng chính trị lớn, kết hợp giữa việc kiện toàn tổ chức đảng, vận động không ngừng nghỉ và tạo tầm ảnh hưởng sâu rộng trên mạng xã hội để thu hút cử tri trẻ tuổi.
Ông thu hút sự ủng hộ trong bối cảnh kinh tế trì trệ, tìm cách kết nối với cử tri khi liên tục đến thăm các thị trấn và thành phố, đồng thời thường ở lại hàng giờ sau bài phát biểu để gặp gỡ người dân địa phương.
Trong chiến dịch tranh cử, trong khi Thủ tướng Orban chủ yếu tập trung vào chính sách đối ngoại và quan hệ với các lãnh đạo thế giới. Magyar lại chú trọng vào các vấn đề trong nước như kinh tế và tham nhũng.
Trong các cuộc bầu cử trước đây, Fidesz giành chiến thắng dựa trên việc phe đối lập bị phân mảnh, chia rẽ. Năm nay, Tisza là lực lượng chính trị đầu tiên hợp nhất được các đảng đối địch thành một phong trào duy nhất.
Điểm gây chú ý là tổng số phiếu bầu ngày 12/4 dành cho tất cả các đảng dân chủ ngoài Tisza chỉ chiếm chưa đầy 2%. Điều này có nghĩa bất kể những khác biệt về chính trị và tư tưởng, cử tri đã đoàn kết lại để ủng hộ ông Magyar.
Mối đoàn kết này là kết quả từ tình trạng phân cực sâu sắc trong xã hội Hungary. Chiến thuật của ông Orban khi xoáy sâu vào các vấn đề gây chia rẽ như nhập cư hay mối nguy từ cuộc xung đột Ukraine đã tạo ra một môi trường chính trị rạn nứt nghiêm trọng.
Nhưng khi những mối đe dọa thực tế mà ông Orban đưa ra không bao giờ thành hiện thực, niềm tin của cử tri với Fidesz cũng bắt đầu lung lay, theo Jorn Fleck, giám đốc điều hành Trung tâm châu Âu thuộc Hội đồng Đại Tây Dương.
Chiến lược của ông Orban khi đổ lỗi cho EU và Ukraine về những vấn đề nội tại mà Hungary đối mặt đã không còn thuyết phục được đa số cử tri. Ông Magyar đã thành công khi chỉ ra mối liên hệ giữa chính quyền Orban với tình trạng bệnh viện xuống cấp, cơ sở hạ tầng rệu rã và lạm phát tăng cao, đồng thời vạch trần nạn tham nhũng trong giới lãnh đạo cấp cao của Fidesz.
Trong bối cảnh đó, ranh giới chia rẽ chính trong xã hội Hungary giờ đây chỉ xoay quanh câu hỏi người dân muốn ông Orban ở lại hay ra đi. Lựa chọn mang tính đối đầu trực diện này đã giúp ông Magyar dễ dàng tập hợp cử tri từ nhiều hệ tư tưởng khác nhau về phía mình. Ông đã trở thành gương mặt đại diện cho toàn bộ bộ phận xã hội phản đối Thủ tướng Orban.
Vì hệ thống bầu cử được Fidesz thiết kế để khuếch đại quyền lực ngay cả với thế đa số tương đối nhỏ, đảng Tisza giờ đây cũng được hưởng lợi với đa số 2/3 ghế tại quốc hội, trao cho họ công cụ để xóa bỏ những đạo luật mà ông Orban đã đưa ra trước đây, đảo ngược hoàn toàn di sản chính trị của Fidesz.
“Bộ máy bầu cử của Hungary, vốn được thiết kế để biến thế đa số tương đối thành sức mạnh áp đảo tuyệt đối tại quốc hội, đã vận hành hoàn hảo, nhưng không dành cho ông Orban”, Dessewffy nói.
Theo chuyên gia này, Magyar giành chiến thắng bằng cách hiểu thấu luật chơi và tận dụng nó để đánh bại ông Orban.
“Những đạo luật bầu cử do chính ông Orban ký thông qua nhằm chia rẽ phe đối lập cuối cùng lại trở thành đòn chí mạng cho người tạo ra chúng, khi ông phải đối mặt với một đối thủ nắm rõ cơ chế và biến nó thành lợi thế riêng mình”, Dessewffy cho hay.
Chuyên gia Fleck cho rằng thất bại của Thủ tướng Orban cùng đảng Fidesz đã báo hiệu những cơ hội mới quan trọng không chỉ cho Hungary mà cho toàn bộ châu Âu.
Emma Nix, phó giám đốc tại Trung tâm châu Âu thuộc Hội đồng Đại Tây Dương, kỳ vọng chính phủ do ông Magyar dẫn dắt sẽ rũ bỏ vai trò “kẻ ngoài lề” trên bàn nghị sự EU. Quan trọng nhất, điều này có thể chấm dứt việc Hungary phủ quyết gói hỗ trợ 90 tỷ USD của EU dành cho Ukraine.
“Dù Hungary vẫn giữ quan điểm bảo thủ trong các vấn đề từ nhập cư đến mở rộng liên minh, Budapest sẽ quay lại lập trường mang tính xây dựng hơn đối với các vấn đề châu Âu khác”, Fleck nhận xét. “Người dân Hungary đã bác bỏ việc ông Orban công kích mối quan hệ với Brussels, cho thấy họ hy vọng nước này trở thành một thành viên bình thường của liên minh”.
"Nước Mỹ về cơ bản đã thay đổi chủ trương về thương mại, nâng thuế quan lên cấp độ chúng ta chỉ thấy ở giai đoạn Đại Suy thoái (cuối thập niên 1930). Nhiều điểm mạnh trước đây của Canada, dựa trên mối quan hệ gần gũi với Mỹ, giờ đã trở thành điểm yếu và chúng ta cần khắc phục những điểm yếu này", Thủ tướng Canada Mark Carney bình luận về quan hệ song phương, trong video được công bố ngày 19/4.
Ông cho rằng Canada không thể kiểm soát những gián đoạn từ nước láng giềng, cũng không thể đặt tương lai vào hy vọng tình hình sẽ sớm ổn định trở lại.
Thủ tướng Canada nhận định đất nước cần đặt mục tiêu không cần phụ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào, giữa bối cảnh "thế giới đang trở nên nguy hiểm và chia rẽ hơn". Ông cho biết sẽ thường xuyên cập nhật cho người dân về nỗ lực của chính phủ trong củng cố nền kinh tế và bảo vệ chủ quyền.
Trong video, ông Carney còn cầm mô hình tướng Isaac Brock, người từng dẫn dắt cuộc chiến chống quân Mỹ năm 1812 và đưa ra thông điệp "Trong lịch sử, Canada từng đối mặt những mối đe dọa tương tự hiện nay". Ông cũng nhắc đến thủ lĩnh thổ dân Tecumseh, người đã liên kết các cộng đồng bản địa chống lại sự mở rộng của Mỹ vào thế kỷ 19.
Thủ tướng Canada nhận định việc hy vọng "Mỹ trở lại bình thường" không thể được xem là chiến lược khả thi, thay vào đó Canada cần xây dựng một đất nước đủ mạnh mẽ để chống chọi với những biến động ngoại cảnh.
"Hy vọng không phải là kế hoạch và hoài niệm không phải là chiến lược. Nước Mỹ đã thay đổi và chúng ta cần phản ứng. Chúng ta cần giành lại kiểm soát an ninh, biên giới và tương lai của chính mình", ông nói.
Ông Carney, người nhậm chức năm 2025 sau chiến dịch tranh cử dựa trên cam kết cứng rắn hơn với Washington, cho biết Ottawa đang thúc đẩy đa dạng hóa quan hệ kinh tế, bao gồm tăng cường hợp tác với các đối tác như Trung Quốc nhằm giảm phụ thuộc vào Mỹ.
Chính phủ Canada cũng đặt mục tiêu thu hút đầu tư mới, mở rộng năng lực năng lượng sạch, giảm rào cản thương mại nội địa, tăng chi tiêu quốc phòng và cải thiện khả năng tiếp cận nhà ở cho người dân.
Quan hệ Mỹ - Canada đang trải qua nhiều biến động sau hàng thập kỷ hội nhập kinh tế sâu rộng, sau khi Tổng thống Donald Trump áp dụng nhiều biện pháp thuế quan với cả đối thủ lẫn đồng minh, làm xáo trộn thương mại toàn cầu.
Các mức thuế này đã ảnh hưởng đến người lao động trong ngành ôtô và thép của Canada, đồng thời khiến doanh nghiệp trì hoãn đầu tư do bất ổn gia tăng. Bên cạnh đó, những phát biểu của ông Trump về khả năng Canada trở thành bang thứ 51 của Mỹ cũng vấp phải nhiều phản đối trong dư luận Canada.
Đảng Tự do của ông Carney gần đây giành được đa số ghế trong quốc hội sau các cuộc bầu cử đặc biệt vào tuần trước, tạo thêm lợi thế về số phiếu để điều chỉnh chính sách, đặc biệt trong quan hệ thương mại với Mỹ. Một cuộc rà soát hiệp định thương mại ba bên giữa Mỹ, Canada và Mexico dự kiến diễn ra vào tháng 7.
Văn phòng Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu ngày 8.4 thông báo ủng hộ quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc tạm ngừng tấn công Iran trong 2 tuần nhưng nhấn mạnh việc ngừng bắn không áp dụng cho Lebanon, theo Reuters.
"Việc ngừng bắn 2 tuần không bao gồm Lebanon", Văn phòng Thủ tướng Israel tuyên bố.
Văn phòng này cho biết ủng hộ động thái của Washington nếu Tehran mở cửa eo biển Hormuz ngay lập tức và ngừng tấn công Mỹ, Israel và các nước khác tại khu vực.
Bên cạnh đó, Israel cũng ủng hộ nỗ lực của Mỹ nhằm đảm bảo Iran không còn gây đe dọa hạt nhân và tên lửa đối với Mỹ, Israel và các đồng minh trong khu vực. Tel Aviv cho biết Mỹ đã đảm bảo sẽ đạt được mục tiêu chung trong cuộc đàm phán sắp tới với Iran.
Lập trường của Israel về Lebanon trái ngược với tuyên bố trước đó của Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif, bên trung gian đàm phán. Ông Sharif cho rằng thỏa thuận ngừng bắn bao trùm tất cả mọi nơi, gồm Lebanon.
Bất chấp tuyên bố đó, tờ The Times of Israel cho rằng chưa có dấu hiệu nào cho thấy Israel đã dừng chiến dịch quân sự chống Hezbollah. Truyền thông khu vực đưa tin lực lượng Israel đã nã pháo về phía thị trấn Baraachit ở miền nam Lebanon sau thông báo của Văn phòng Thủ tướng Netanyahu.
Israel tấn công Lebanon từ đầu xung đột với Iran và các đợt oanh tạc đến nay đã làm ít nhất 1.530 người thiệt mạng, khiến hơn 1 triệu người sơ tán, theo giới chức Lebanon. Chiến dịch quân sự của Israel tại Lebanon được khôi phục sau khi Hezbollah phóng rốc két về phía lãnh thổ Israel nhằm báo thù cho cái chết của cố Lãnh tụ tối cao Iran Ali Khamenei.
Phát biểu tại Islamabad (Pakistan) ngày 12-4, Phó tổng thống Mỹ Vance xác nhận cuộc đàm phán marathon giữa Mỹ và Iran đã không đạt được thỏa thuận chấm dứt xung đột.
"Tin xấu là chúng tôi chưa đạt được thỏa thuận và tôi nghĩ đó là tin xấu đối với Iran nhiều hơn là đối với Mỹ", ông Vance nói và cho biết sẽ rời khỏi Pakistan để quay về Mỹ.
"Chúng tôi đã nói rõ những lằn ranh đỏ của mình, những điều chúng tôi sẵn sàng nhượng bộ và những điều chúng tôi không sẵn sàng nhượng bộ. Chúng tôi đã nói rõ điều đó hết mức có thể, nhưng Iran đã chọn không chấp nhận các điều khoản của Mỹ", Phó tổng thống Mỹ nói thêm.
Ông Vance cho biết hai bên đã thảo luận về một số vấn đề. Khi được hỏi về những điều mà phía Iran đã từ chối, Phó tổng thống Mỹ từ chối đi vào chi tiết song cho hay Washington muốn có sự xác nhận từ Tehran rằng nước này không tìm kiếm vũ khí hạt nhân.
"Đơn giản là chúng tôi cần thấy một cam kết khẳng định rằng Iran sẽ không tìm kiếm vũ khí hạt nhân cũng như tìm kiếm các công cụ cho phép Iran nhanh chóng có được vũ khí hạt nhân. Đó là mục tiêu cốt lõi của Tổng thống Mỹ và đó là điều chúng tôi đã cố gắng đạt được thông qua các cuộc đàm phán này", ông Vance nói.
Tuy nhiên, Phó tổng thống Mỹ cho biết vẫn chưa có tín hiệu nào từ cuộc đàm phán cho thấy Iran thực sự có ý định cam kết không tìm kiếm vũ khí hạt nhân.
"Tôi nghĩ chúng tôi đã khá linh hoạt, thậm chí có phần dễ tính", ông Vance nói tiếp và cho biết Mỹ đã đưa ra một đề xuất "rất đơn giản", "một đề nghị cuối cùng và tốt nhất" đối với Iran.
Vẫn chưa rõ nội dung của những gì ông Vance mô tả là đề nghị cuối cùng của Mỹ nhưng theo những gì ông Vance nói, đó là lựa chọn "chấp nhận hoặc từ chối" đối với Iran.
Phó tổng thống Mỹ cũng không đưa ra bất kỳ thông tin nào về các cuộc đàm phán trong tương lai để thu hẹp khác biệt giữa hai bên.
Giáo sư Mohsen Farkhani tại Đại học Isfahan (Iran) cho biết Iran tham gia đàm phán với "sự hoài nghi sâu sắc" - vì tôn trọng Pakistan, chứ không phải vì tin tưởng Mỹ. Trả lời đài Al Jazeera, ông khẳng định việc kiểm soát eo biển Hormuz vẫn là lằn ranh đỏ của Tehran.
"Việc tuần tra hay tìm kiếm sự hợp tác để kiểm soát eo biển này không phải chuyện của Mỹ. Iran đã phá hủy các căn cứ và công trình của Mỹ trong khu vực để gửi chính xác thông điệp đó", ông Farkhani nêu quan điểm, đồng thời nhấn mạnh Tehran sẽ không thể hiện "bất kỳ sự linh hoạt nào" đối với tuyến đường thủy quan trọng này.
Theo ông, Iran chỉ ngồi vào bàn đàm phán sau khi 10 điều kiện của họ được Mỹ chấp nhận, và chỉ khi phía Mỹ có những cam kết thực tế, từng bước một.
Khi được hỏi về thành phần phái đoàn Iran tại Pakistan, ông Farkhani cho rằng sự chia rẽ phe phái không phải vấn đề cốt lõi. "Hôm nay, vấn đề không phải là cứng rắn hay không - mà là lợi ích quốc gia của Iran, những lợi ích mà hàng trăm quân nhân đã hy sinh để bảo vệ", ông nhấn mạnh.
Một nguồn tin thân cận với phái đoàn đàm phán Iran nói với hãng thông tấn Fars của Iran rằng Mỹ đang "tìm cớ" để rời khỏi bàn đàm phán.
"Người Mỹ cần đàm phán để lấy lại thể diện trên trường quốc tế và không muốn hạ thấp kỳ vọng của họ, bất chấp thất bại và bế tắc trong cuộc chiến với Iran", nguồn tin cho biết. Fars tiết lộ thêm: "Iran không có kế hoạch cho vòng đàm phán tiếp theo".
Trong khi đó, Đài truyền hình Press TV của Iran đưa tin các cuộc đàm phán ở Islamabad đã kết thúc do "những yêu cầu quá đáng của Mỹ ngăn cản việc đạt được một khuôn khổ thỏa thuận".
Iran không chấp nhận các điều khoản Mỹ đưa ra liên quan đến eo biển Hormuz, "quyền phát triển năng lượng hạt nhân hòa bình" và một số vấn đề gây tranh cãi khác.
Theo phía Iran, Mỹ muốn "thông qua đàm phán để đạt được tất cả những gì họ không thể giành được trong chiến tranh".
Fars nhấn mạnh triển vọng đạt thỏa thuận phụ thuộc vào việc Mỹ có thay đổi những "yêu cầu vô lý" hay không, trong đó vấn đề eo biển Hormuz là trọng tâm. Hãng tin này cũng cho biết các chuyên gia hai bên đang nỗ lực tìm điểm chung, còn Pakistan - nước trung gian hòa giải - đang cố thu hẹp khoảng cách giữa hai phái đoàn.
Hiện các nhóm đàm phán đã tạm dừng để tham khảo ý kiến chuyên gia về các đề xuất được nêu ra. Đàm phán dự kiến nối lại khi hai bên hoàn tất dự thảo phản hồi.
"Phái đoàn Iran đã đàm phán liên tục và tích cực trong 21 giờ để bảo vệ lợi ích quốc gia của người dân Iran. Bất chấp nhiều sáng kiến từ phía phái đoàn Iran, những yêu cầu vô lý của phía Mỹ đã cản trở tiến trình đàm phán. Do đó, các cuộc đàm phán đã kết thúc", Đài IRIB của Iran cho biết trên Telegram.
Mỹ và Israel đã tấn công Iran vào ngày 28-2, dẫn tới sự trả đũa từ Tehran và đẩy Trung Đông vào tình hình căng thẳng với eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát, gây áp lực lên nền kinh tế toàn cầu.
Hôm 11-4 (giờ Mỹ), sau khi đàm phán giữa Mỹ và Iran bắt đầu được vài tiếng, Tổng thống Mỹ Donald Trump khẳng định ông không quan tâm đến kết quả cuộc gặp. Thay vào đó, ông Trump nhấn mạnh rằng Mỹ đã chiến thắng trên chiến trường bằng cách tiêu diệt các lãnh đạo Iran và phá hủy các cơ sở hạ tầng quân sự quan trọng.
"Chúng tôi đã liên tục nói chuyện với Tổng thống Trump. Tôi không biết chúng tôi đã nói chuyện với ông ấy bao nhiêu lần, khoảng nửa tá hay có khi một tá lần trong 21 giờ qua", ông Vance nói với các phóng viên ở Islamabad ngày 12-4.
Phó tổng thống Mỹ cũng cho biết ông đã nói chuyện với các quan chức cấp cao khác của Mỹ trong suốt các cuộc đàm phán, bao gồm Ngoại trưởng Marco Rubio, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth, Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent và Đô đốc Brad Cooper, chỉ huy Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ.