Theo EVN, tổng số công tơ điện phục vụ mua bán, giao nhận điện có áp dụng biểu giá điên theo thời gian sử dụng khoảng 1,25 triệu công tơ. Đây là khối lượng rất lớn, liên quan trực tiếp đến công tác đo đếm, tính toán hóa đơn và thanh toán điện năng trên toàn hệ thống.
Hơn nữa, chỉ một phần công tơ có khả năng hỗ trợ cấu hình linh hoạt nhiều biểu giá theo thời gian hoặc theo mùa, còn phần lớn công tơ hiện nay được cài đặt theo khung giờ cố định. Do đó, khi thay đổi khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường sẽ phải thực hiện cấu hình lại công tơ, thông qua hai hình thức: cài đặt từ xa qua hệ thống và cài đặt trực tiếp tại hiện trường.
Theo tính toán sơ bộ, thời gian triển khai cài đặt lại công tơ theo khung giờ mới tại một số đơn vị có quy mô lớn có thể kéo dài đến khoảng 90 ngày.
Trường hợp khung giờ cao điểm, thấp điểm được điều chỉnh theo mùa (2 lần/năm), khối lượng công việc phát sinh sẽ rất lớn. Bởi sẽ phải cập nhật cấu hình cho số lượng lớn công tơ khách hàng; đồng bộ dữ liệu giữa công tơ với hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa, hệ thống quản lý khách hàng và tính hóa đơn (CMIS) và các hệ thống liên quan.
EVN cho rằng, khối lượng công việc phát sinh sẽ rất lớn gồm cập nhật cấu hình, đồng bộ dữ liệu, tính hóa đơn… tiềm ẩn rủi ro sai sót và phát sinh khiếu nại. Do vậy, EVN đề nghị chưa áp dụng điều chỉnh khung giờ theo mùa, hạn chế tối đa việc thay đổi nhiều lần trong năm để giảm chi phí, khối lượng công việc và rủi ro trong triển khai.
Theo đó, các khung giờ được EVN đề xuất cụ thể, giờ bình thường, từ thứ hai đến thứ bảy sẽ từ 6 – 17 giờ 30 và từ 22 giờ 30 – 24 giờ; ngày chủ nhật từ 6 – 24 giờ.
Giờ cao điểm tính từ thứ hai đến thứ bảy, khung giờ từ 17 giờ 30 – 22 giờ 30 (5 giờ); ngày chủ nhật không có giờ cao điểm.
Giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 – 6 giờ.
Quy định về khung giờ đề áp giá điện được áp dụng cho khách hàng sử dụng điện cho mục đích sản xuất, kinh doanh, hoặc có sản lượng điện sử dụng trung bình 3 tháng liên tục từ 2.000 kWh trở lên; áp dụng cho các đơn vị bán lẻ điện tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp; các đơn vị mua điện để bán lẻ điện ngoài mục đích sinh hoạt tại các tổ hợp thương mại, dịch vụ.
EVN cũng đánh giá việc điều chỉnh khung giờ cao điểm mang lại tác động tích cực khi tạo tín hiệu giá điện rõ ràng, khuyến khích khách hàng dịch chuyển nhu cầu sử dụng sang giờ thấp điểm và giờ bình thường. Từ đó giảm chi phí chung hệ thống điện, giúp an toàn hệ thống, giảm giá thành sản xuất điện và đặc biệt giảm nguy cơ thiếu điện vào các giờ cao điểm chiều.
Trước đó, tại dự thảo quyết định về việc quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia, Bộ Công thương đề xuất khung giờ cao điểm thay đổi theo từng mùa trong năm. Cụ thể, từ tháng 1 – 4 và từ tháng 9 – 12, khung giờ cao điểm từ 14 – 19 giờ trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy (5 giờ).
Tháng 5 – 8, giờ cao điểm gồm hai khung 14 giờ 30 – 16 giờ 30 và 19 giờ 30 – 22 giờ 30 trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy (5 giờ); ngày chủ nhật không có giờ cao điểm.
Khung giờ bình thường áp dụng cho các khung giờ còn lại trong ngày. Giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 – 6 giờ.
Ông Bùi Quốc Hoan cho biết, trong 3 tháng đầu năm, nhu cầu sử dụng điện tại các tỉnh phía nam tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2025, đặc biệt trong các khu vực công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Sản lượng điện thương phẩm của toàn EVNSPC đạt 17,23 tỉ kWh, tăng 4,93% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, tỉnh Tây Ninh tăng 8,2%, Cà Mau tăng 6,54%, Lâm Đồng tăng 6,03%, An Giang tăng 5,87%...
Đặc biệt, từ đầu tháng 4 đến nay, nắng nóng xuất hiện với nền nhiệt cao, trong tuần đầu tháng (1 - 7.4), nền nhiệt khu vực miền Đông Nam bộ rất cao, có nơi trên 360C, nắng nóng gay gắt kéo theo nhu cầu tiêu thụ điện tăng cao. Công suất lớn nhất Pmax = 11.066 MW (ngày 7.4), tăng 10,46% so với cùng kỳ năm ngoái; sản lượng điện tiêu thụ của ngày 7.4 đạt 220.379.552 kWh, cao nhất từ đầu năm đến nay.
Với loạt khó khăn, thách thức trong cung ứng điện, đặc biệt trong mùa khô nắng nóng đến sớm trên cả ba miền, cộng với ảnh hưởng của tình hình chiến sự Trung Đông, địa chính trị trên thế giới làm đứt gãy chuỗi cung ứng ảnh hưởng đến an ninh năng lượng, đại diện EVNSPC cho biết, Tổng công ty đã và đang tập trung triển khai quyết liệt nhiều giải pháp nhằm đảm bảo cung ứng điện an toàn, ổn định và tin cậy phục vụ sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn.
"EVNSPC đã xây dựng 3 kịch bản tăng trưởng phụ tải theo các phương án tăng trưởng cao, cơ sở và tăng trưởng thấp. Với mỗi phương án, chúng tôi cũng đã sẵn sàng các giải pháp đảm bảo cung ứng điện. Đến nay, EVNSPC đã lập và trình UBND các tỉnh/thành phố phê duyệt kế hoạch cung cấp điện năm 2026; danh sách khách hàng quan trọng cần đảm bảo cung cấp điện cũng như các phương án đảm bảo điện trong trường hợp hệ thống điện miền Nam mất cân đối cung - cầu…", ông Bùi Quốc Hoan thông tin.
Ngoài ra, các công ty điện lực thường xuyên kiểm tra lưới điện để kịp thời phát hiện, ngăn chặn nguy cơ sự cố; lập kế hoạch và triển khai các công trình đường dây, trạm biến áp 110kV quan trọng, đường trục liên kết phía 110kV giữa các trạm 220kV lân cận nhằm hỗ trợ việc chuyển tải qua lại; kiểm tra, rà soát các khu vực lưới, trạm biến áp đang gần đầy tải, đã đầy tải, quá tải và có phương án xử lý trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn…
Một trong những giải pháp được EVNSPC đặc biệt chú trọng là triển khai quyết liệt các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác tiết kiệm điện tại Chỉ thị số 10 ngày 30.3 của Chính phủ về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà. Đến nay, toàn tổng công ty đã ký thỏa thuận tham gia điều chỉnh phụ tải điện (DR) với 5.205 khách hàng có sản lượng điện tiêu thụ từ 1 triệu kWh/năm trở lên, với mức công suất thỏa thuận tiết giảm: loại 1 (thông báo trước 2 giờ) là 228MW; loại 2 (thông báo trước 24 giờ) là 528 MW.
Trên địa bàn thuộc quản lý của EVNSPC có 571 nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu với tổng công suất 98.963 kWp đã lắp đặt, đi vào vận hành đúng quy định. Ngoài ra, có 1.010 nguồn với công suất tấm quang điện 344.223 kWp đã lắp đặt và đi vào vận hành nhưng chưa làm thủ tục theo quy định tại Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 gồm 1.010 nguồn với công suất tấm quang điện 344.223 kWp.
Nhằm đẩy mạnh phát triển điện mặt trời tự sản tự tiêu, EVNSPC đã chỉ đạo các công ty điện lực tại địa phương tăng cường vận động, hỗ trợ, tư vấn và tạo điều kiện thuận lợi về lắp đặt, đấu nối cho khách hàng lắp đặt điện mặt trời mái nhà và hệ thống pin lưu trữ điện (BESS). Bên cạnh đó, Tổng công ty cũng đẩy mạnh tuyên truyền tiết kiệm điện trên các phương tiện thông tin đại chúng từ Trung ương và địa phương, các kênh truyền thông nội bộ của doanh nghiệp. Cử cán bộ, tuyên truyền viên làm việc trực tiếp, ký thỏa thuận thực hiện tiết kiệm điện với từng nhóm khách hàng.
Năm 2026, dự kiến sẽ kí thỏa thuận với hơn 261.000 khách hàng thuộc các nhóm chiếu sáng công cộng, hành chính sự nghiệp, thương mại dịch vụ và sản xuất công nghiệp, dự kiến hoàn tất trước 30.4 năm nay. Với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và sản xuất công nghiệp, tính hết tháng 3, Tổng công ty đã ký thỏa thuận tiết kiệm điện 17.734/17.781 khách hàng có sản lượng năm 2025 từ 100.000 kWh trở lên (đạt 99,74%).
Hôm nay (6.4), nhiều nơi trên cả nước xuất hiện nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt. Cập nhật thời tiết mới nhất vào trưa nay từ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, mức nhiệt cao nhất cả nước lên tới 39,6 độ C ghi nhận tại Hương Khê (Hà Tĩnh). Bên cạnh đó, nhiều nơi cũng đạt và vượt mức 39 độ C. Cụ thể, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có Tây Hiếu và Vinh, còn tại Hà Tĩnh ngoài Hương Khê có thêm trạm Hà Tĩnh và Tuyên Hóa.
Ngoài ra, nhiều nơi khác ở phía tây bắc Bắc bộ và khu vực phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk cũng ghi nhận nắng nóng gay gắt 37 - 38 độ C; trong khi Tây nguyên và Đông Nam bộ nắng nóng phổ biến 36 - 37 độ C.
Dự báo trong ngày 7 - 8.4, nắng nóng tiếp tục xuất hiện trên diện rộng, nhiều nơi gay gắt đến đặc biệt gay gắt (trên 39 độ C). Cụ thể, khu vực tây Bắc bộ có mức nhiệt cao nhất phổ biến 36 - 38 độ C, có nơi trên 39 độ C.
Khu vực từ Thanh Hóa đến Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk nhiệt độ cao nhất từ 37 - 39 độ C, có nơi trên 40 độ C; Tây nguyên và Nam bộ có nơi trên 37 độ C.
Nắng nóng và nắng nóng gay gắt có khả năng kéo dài trong nhiều ngày tới. Do nắng nóng gay gắt và độ ẩm trong không khí thấp nên nguy cơ cháy nổ, hỏa hoạn tăng cao do thời tiết rất khô và nhu cầu điện tăng mạnh.
Nhiệt độ thực tế ngoài trời có thể cao hơn dự báo 2 - 4 độ C hoặc hơn, nhất là tại nhưng nơi có bê tông, đường nhựa. Đối với sức khỏe, nắng nóng dễ gây mất nước, sốc nhiệt nếu tiếp xúc lâu với nền nhiệt cao.
Ngày 9.4.2026, ngay sau khi NHNN tổ chức cuộc họp về triển khai công tác ngân hàng với đại diện các NHTM về điều hành chính sách tiền tệ, Agribank đã có văn bản triển khai điều chỉnh giảm mạnh lãi suất huy động 0,5%/năm kỳ hạn từ 24 tháng trở lên đối với khách hàng cá nhân, hiệu lực từ 13.4.2026.
Động thái này cho thấy phản ứng chính sách nhanh và chủ động của Agribank trong thực hiện chỉ đạo của NHNN về ổn định mặt bằng lãi suất. Với vai trò là ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực, Agribank tiếp tục thể hiện tinh thần tiên phong, gương mẫu trong việc triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, đồng thời chủ động cân đối nguồn vốn, kiểm soát chi phí để góp phần ổn định thị trường tiền tệ.
Không chỉ giảm lãi suất huy động, Agribank cũng là ngân hàng tiên phong tuyên bố giảm lãi suất cho vay. Theo cơ chế áp dụng tại Agribank, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng được sử dụng làm lãi suất tham chiếu để xác định lãi suất cho vay trung, dài hạn. Vì vậy, khi lãi suất tham chiếu giảm 0,5%/năm, lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh giảm tương ứng 0,5%/năm. Việc giảm đồng thời cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay cho thấy nỗ lực của Agribank trong việc chia sẻ chi phí vốn với khách hàng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế vẫn cần thêm động lực để phục hồi và tăng trưởng.
Thực tế, định hướng điều hành này đã được Agribank chuẩn bị từ sớm. Ngay từ đầu năm 2026, trước áp lực cạnh tranh lãi suất huy động và áp lực thanh khoản hệ thống gia tăng, Agribank đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để chủ động điều hành lãi suất và cơ cấu nguồn vốn theo hướng thận trọng, linh hoạt, bảo đảm ổn định thanh khoản, qua đó góp phần giữ ổn định mặt bằng lãi suất và hỗ trợ tăng trưởng tín dụng.
Trong đó, Agribank tập trung cơ cấu nguồn vốn theo hướng khuyến khích tăng trưởng CASA, ưu tiên các nguồn vốn có chi phí hợp lý, phát triển sản phẩm huy động trên kênh số và đẩy mạnh tăng trưởng tiền gửi ổn định từ dân cư. Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện với biên độ phù hợp, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, phù hợp với diễn biến thị trường và trên cơ sở cân đối thanh khoản thực tế của Agribank.
Nhờ điều hành lãi suất tiền gửi hợp lý, Agribank không chỉ duy trì được nguồn vốn ổn định mà còn tiếp tục bảo đảm cơ cấu nguồn vốn hiệu quả, giữ chi phí đầu vào ở mức phù hợp, từ đó tạo dư địa để duy trì lãi suất cho vay ở mức thấp, hỗ trợ nền kinh tế. Đây là yếu tố quan trọng giúp Agribank tiếp tục phát huy vai trò đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh việc điều chỉnh giảm lãi suất, Agribank tiếp tục triển khai nhiều chương trình cho vay ưu tiên, ưu đãi theo định hướng của Chính phủ và NHNN, hướng tới các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các nhóm khách hàng cần hỗ trợ về vốn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về lãi suất và tín dụng cho thấy Agribank không chỉ hưởng ứng chủ trương điều hành, mà còn cụ thể hóa chủ trương đó bằng hành động thực chất, qua đó góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất vẫn chịu nhiều áp lực, việc Agribank chủ động giảm lãi suất huy động, tiên phong giảm 0,5% lãi suất cho vay và tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi là minh chứng rõ nét cho vai trò của một ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực. Không chỉ thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, Agribank còn cho thấy trách nhiệm tiên phong, dẫn dắt và đồng hành với nền kinh tế bằng những giải pháp cụ thể, kịp thời và thiết thực.