Theo thống kê của Hội môi giới bất động sản Việt Nam (VARS), nguồn cung dự kiến tăng mạnh tạo thêm nhiều lựa chọn hơn cho người mua. Đặc biệt, thị trường trong quý 1 đánh dấu sự dịch chuyển về phân khúc khi căn hộ sang trọng và siêu sang mở bán còn khoảng 20%, giảm 20 điểm % so với quý 4/2025.
Cơ cấu nguồn cung đang dịch chuyển trở lại các phân khúc có mức giá dễ tiếp cận hơn. Cụ thể, căn hộ cao cấp chiếm 53%, tăng 29 điểm % so với quý trước, chủ yếu tập trung tại các đại đô thị vệ tinh – nơi có lợi thế về quỹ đất và mặt bằng giá hợp lý. Phân khúc căn hộ trung cấp chiếm 27%, nguồn cung chủ yếu đến từ các tỉnh, thành vùng ven TP.HCM (trước sáp nhập).
Đáng chú ý, phân khúc căn hộ thương mại có giá khoảng 2 – 3 tỉ đồng tiếp tục vắng bóng. Dù vậy, nhà ở xã hội nổi lên như một điểm sáng khi ghi nhận hơn 7.000 sản phẩm đủ điều kiện mở bán, góp phần bù đắp khoảng trống mà phân khúc nhà ở thương mại chưa thể đáp ứng.
Theo ông Nguyễn Văn Đính, Phó chủ tịch Hiệp hội bất động sản Việt Nam, Chủ tịch VARS, nhà ở xã hội đang dần trở thành “trụ đỡ” quan trọng của thị trường, vừa giải quyết nhu cầu ở thực, vừa góp phần ổn định cấu trúc cung cầu.
Áp lực từ lạm phát, tỷ giá và đặc biệt là mặt bằng lãi suất khiến thị trường bất động sản đang bước vào giai đoạn sàng lọc mạnh nhất nhiều năm trở lại đây. Số liệu trong quý 1/2026 cho thấy, cả nước có 1.563 doanh nghiệp bất động sản thành lập mới, tăng 54% so với cùng kỳ năm trước, với tổng vốn đăng ký tăng tới 128%. Song số doanh nghiệp giải thể cũng tăng gấp đôi.
Ông Đính cho hay, một trong những biểu hiện rõ nét của quá trình này là sự phân hóa mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp tham gia thị trường. Các doanh nghiệp lớn có tiềm lực tài chính tiếp tục mở rộng quy mô, gia tăng thị phần thông qua phát triển dự án mới, mua bán – sáp nhập và tích lũy quỹ đất. Ngược lại, các doanh nghiệp yếu kém buộc phải thu hẹp hoạt động hoặc rút lui khỏi thị trường.
Trên thực tế, áp lực từ mặt bằng lãi vay duy trì ở mức cao, tâm lý người mua nhà trở nên thận trọng hơn trong 3 tháng đầu năm nay. Tại Hà Nội, xu hướng giá chung cư mua đi bán lại giảm nhẹ, nhưng vẫn khó “chốt” khách. Chị Nguyễn Hà đầu tư 2 căn studio tại một đại dự án chung cư phía đông thành phố, cho biết muốn chốt bán bớt 1 căn để giảm áp lực lãi vay.
Thời điểm tháng 7.2025, chị mua căn studio hơn 27 m2 với giá 1,8 tỉ cộng thêm 100 triệu đồng tiền chênh lệch từ sàn. Tầm tháng 11 năm ngoái, căn studio này được trả hơn 2,4 tỉ đồng, nhưng chị Hà chưa bán. Ra tết, khi lãi vay tăng nhanh, dù chị muốn bán bớt 1 căn để giảm áp lực dòng tiền, song sau 3 tháng rao bán vẫn chưa chốt được khách.
“Nhiều môi giới gọi hỏi nhưng “dìm” giá xuống 2,2 tỉ đồng, nếu muốn bán nhanh thì phải chấp nhận giảm lãi”, chị Hà nói và cho biết sẽ cân nhắc mức giá phù hợp để tái đầu tư.
Theo đánh giá của VARS, một bộ phận nhà đầu tư cá nhân đang điều chỉnh kỳ vọng giá để cải thiện dòng tiền, trong bối cảnh thanh khoản thị trường chưa thực sự mạnh và chi phí vốn không còn ở mức thấp như trước.
Ông Lê Đình Chung, Tổng giám đốc SGO Homes, cho biết trên thị trường sơ cấp, giá mở bán các chung cư mới tiếp tục duy trì ở mức cao và có xu hướng tăng nhẹ. Lý do chi phí đất đai, tài chính và nguyên vật liệu gia tăng, chuyển vào giá thành.
Tuy nhiên, tín hiệu tích cực hơn trên thị trường giao dịch thứ cấp, giá bắt đầu điều chỉnh cục bộ.
“Thanh khoản không còn phụ thuộc vào việc giá cao hay thấp, mà phụ thuộc ngày càng lớn vào giá trị sử dụng thực và khả năng khai thác dòng tiền của sản phẩm”, ông Chung nhận định.
Trong khi đó, tại TP.HCM và Đà Nẵng, giá các dự án trong tập mẫu vẫn duy trì xu hướng tăng, với mức tăng lần lượt khoảng 2% và 4% theo quý. Đà tăng này nhờ các thông tin tích cực về quy hoạch, hạ tầng và dư địa tăng giá vẫn còn, đặc biệt tại những khu vực mà mặt bằng giá chưa bị đẩy lên quá cao.
Về thanh khoản, toàn thị trường ghi nhận khoảng 24.000 giao dịch trong quý 1/2026, tương đương tỷ lệ hấp thụ trên nguồn cung sơ cấp đạt 47%. Tỷ lệ hấp thụ trên nguồn cung mới đạt 58%, tương đương hơn 22.000 giao dịch. So với quý trước, tỷ lệ hấp thụ giảm nhẹ một phần do quý 1 dính vào thời điểm Tết Nguyên đán.
Theo VARS, dù ghi nhận tín hiệu thận trọng hơn nhưng thị trường không rơi vào trạng thái “đóng băng”, mà chuyển sang giai đoạn giải ngân có chọn lọc, lực cầu thị trường vẫn rất mạnh.
Trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ông Vũ Khánh Toàn - một hộ kinh doanh gửi câu hỏi nêu: hộ kinh doanh đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu từ tháng 7.2025. Trong năm 2025, doanh thu của hộ kinh doanh vượt 3 tỉ đồng. Tuy nhiên, sang năm 2026, hộ ước tính doanh thu sẽ dưới 3 tỉ đồng. Vậy hộ kinh doanh có thể tiếp tục được áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ % trên doanh thu hay bắt buộc phải chuyển sang phương pháp tính theo thu nhập tính thuế (doanh thu trừ chi phí) nhân (x) thuế suất?
Trả lời vấn đề này, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho biết căn cứ vào một số quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, trong đó gồm Điều 2 về thuế giá trị gia tăng; Điều 4 về thuế thu nhập cá nhân; Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế áp dụng đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 7 luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 3 tỉ đồng hoặc có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì thực hiện ổn định phương pháp tính thuế trong 2 năm liên tục kể từ năm đầu tiên áp dụng. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng đang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế, nếu hết năm xác định doanh thu thực tế năm trên 3 tỉ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất...
Căn cứ quy định nêu trên và trình bày của hộ kinh doanh, Thuế cơ sở 3 tỉnh Đồng Nai cho rằng, trường hợp hộ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán hoặc phương pháp kê khai trong năm 2025 có mức doanh thu trên 500 triệu đồng thì thực hiện kê khai, nộp thuế của năm 2026 theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Nếu hộ kinh doanh tự xác định có mức doanh thu năm 2026 từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên 500 triệu đồng đến 3 tỉ đồng thì được lựa chọn áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP. Hộ kinh doanh khai, nộp thuế thu nhập cá nhân theo quý cùng thời hạn khai, nộp thuế giá trị gia tăng; Trường hợp hết năm 2026 hộ kinh doanh xác định doanh thu thực tế năm 2026 trên 3 tỈ đồng thì từ năm tiếp theo phải chuyển sang áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân theo thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất quy định tại điểm d khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
Theo Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389 quốc gia), từ 2014 - 2025, có 79.459 vụ vi phạm liên quan đến buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán trái phép thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng bị phát hiện, bắt giữ; thu giữ hơn 110 triệu bao thuốc lá điếu các loại, hơn 388 tấn lá thuốc lá và hơn 2 triệu đơn vị thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Tại tọa đàm "Phòng, chống thuốc lá lậu - thực trạng và hành lang pháp lý trong tình hình mới" do Báo Công an nhân dân tổ chức sáng 22.4, tại Hà Nội, ông Đặng Văn Dũng, Phó chánh văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, đánh giá, trong buôn lậu thuốc lá, đối tượng vi phạm ngày càng manh động, tinh vi hơn; hoạt động trên không gian mạng nổi lên mạnh hơn.
Trong khi đó, thể chế và các quy định pháp luật xử lý hành vi buôn lậu, vận chuyển, mua bán trái phép thuốc lá chưa đầy đủ, đồng bộ.
Ban Chỉ đạo 389 quốc gia đang phối hợp với các bộ, ngành xây dựng dự thảo Chỉ thị mới thay thế Chỉ thị 30/CT-TTg về tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu thuốc lá, dự kiến trình Thủ tướng trong tháng 5.
Trong đó có nội dung quan trọng là tăng mạnh chế tài xử lý vi phạm, nhất là với các hành vi buôn bán thuốc lá nhập lậu, đồng thời gắn trách nhiệm người đứng đầu chính quyền cấp xã, phường, đặc khu với công tác chống buôn lậu trên địa bàn.
Dẫn số liệu Bộ Tài chính, bà Lê Thị Duyên Hải, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cho biết, thuốc lá lậu làm thất thu ngân sách nhà nước từ 5.000 - 6.000 tỉ đồng mỗi năm, xu hướng này còn gia tăng.
Mức xử phạt hiện nay đối với buôn bán thuốc lá lậu chỉ từ 1 - 3 triệu đồng, tương đương khoảng 30.000 đồng/bao trong một số trường hợp, là quá thấp, chưa đủ sức răn đe.
Bà Hải kiến nghị, cần nhanh chóng sửa đổi Nghị định 98 năm 2020 và ban hành mức xử phạt cao hơn. Trong đó, mức khởi điểm tối thiểu nên gấp 10 lần hiện tại.
"Chính sách mới cần có hiệu lực sớm ngay trong năm 2026, tốt nhất từ giữa năm, nhằm đưa thị trường vào quỹ đạo trước khi lộ trình tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá bắt đầu được thực thi từ ngày 1.1.2027", bà Hải nhấn mạnh.
Bà Phan Minh Thủy, Trưởng phòng Tư vấn chính sách và pháp luật của Ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), phân tích, tại Việt Nam, thuốc lá lậu được xếp vào nhóm hàng cấm. Pháp luật hiện hành áp dụng cơ chế xử phạt kép, gồm xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tuy vậy, với hành vi buôn bán, tàng trữ, vận chuyển dưới 50 bao thuốc lá nhập lậu, mức phạt hành chính hiện chỉ từ 1 - 3 triệu đồng; trong khi ngưỡng định lượng để có thể khởi tố hình sự là từ 1.500 bao trở lên, hoặc trong trường hợp có yếu tố tái phạm theo quy định pháp luật.
Mức phạt hiện hành của Việt Nam còn thấp nếu so với một số nước trong khu vực, dễ khiến đối tượng vi phạm coi tiền phạt như một loại chi phí vận hành của hoạt động kinh doanh bất hợp pháp.
Bà Thủy cũng đề xuất sửa đổi Nghị định 98 theo hướng nâng mức phạt tiền lên cao hơn hẳn, trên nguyên tắc số tiền phạt phải cao hơn lợi nhuận kỳ vọng của lô hàng.
Cạnh đó, cần nghiên cứu cơ chế phạt lũy tiến đối với hành vi tái phạm, thậm chí cân nhắc chuyển sớm từ xử lý hành chính sang xử lý hình sự trong trường hợp tái phạm nghiêm trọng, không phụ thuộc hoàn toàn vào ngưỡng số lượng như hiện nay.
Ngoài tăng mức xử phạt, theo ông Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công, Trường đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), cần tăng hiện diện kiểm tra tại các điểm bán lẻ để người bán nhận thấy rủi ro bị phát hiện và xử lý là có thật, thường xuyên và liên tục.
Trong kiến nghị vừa gửi đến Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng về một số chính sách quản lý đối với hoạt động kinh doanh vàng trang sức mỹ nghệ, Hiệp hội Kinh doanh vàng VN cho rằng đến nay chưa có văn bản, quy định nào của Chính phủ cũng như ngành chức năng hướng dẫn việc mua, huy động nguồn vàng trong nước để làm nguyên liệu cho sản xuất, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ, gây lãng phí nguồn lực trong nước. Do đó, Hiệp hội này đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép các doanh nghiệp (DN) sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự. Kiến nghị này không nhận được sự ủng hộ của hầu hết chuyên gia kinh tế.
TS Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, nói thẳng: không ai muốn quay trở lại chính sách vay mượn bằng vàng. Đây là một mặt hàng kinh doanh có điều kiện, liên quan trực tiếp đến ngoại hối và dự trữ quốc gia. Vì vậy, nhóm hàng này cần tiếp tục được quản lý chặt chẽ, đảm bảo phù hợp với mục tiêu kiểm soát rủi ro của nền kinh tế, kiên quyết chấm dứt hoàn toàn tình trạng vay mượn bằng vàng. Đây là kinh nghiệm quan trọng rút ra từ nhiều năm trước nhằm giảm thiểu rủi ro hệ thống và bảo vệ sự ổn định của thị trường tài chính. Ông Lực nhấn mạnh: chính sách cho phép vay mượn bằng vàng trước đây khiến nền kinh tế bị "vàng hóa", đã từng gây ra nhiều hệ lụy cho nền kinh tế. Khi Nghị định 24 được áp dụng, Chính phủ đã quyết tâm bỏ chính sách đó và đã đạt được hiệu quả.
"Còn mục đích huy động vốn vàng trong dân đưa vào nền kinh tế thì sẽ có những cách khác như quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao và ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng niềm tin cho người dân và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Việc minh bạch hóa thị trường và tạo ra các kênh đầu tư hấp dẫn khác là cực kỳ quan trọng. Khi đó người dân chuyển hướng đưa tiền, vàng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều hơn thay vì đầu cơ vàng. Song song, Chính phủ cần tạo thuận lợi hơn cho việc luân chuyển, thanh khoản thị trường vàng thông qua việc nghiên cứu phát hành chứng chỉ vàng, lập sàn giao dịch vàng... để thị trường vàng phát triển an toàn, nhanh chóng và hiệu quả hơn. Những giải pháp này sẽ giúp giảm bớt xu hướng tích trữ vàng vật chất trong dân, giảm áp lực lên nguồn cung vàng vật chất", TS Lực phân tích.
Cũng tỏ ra bất ngờ với đề xuất từ Hiệp hội Kinh doanh vàng VN, chuyên gia kinh tế, PGS-TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng đề xuất này không phù hợp. Trong khi hệ thống ngân hàng (NH) có kiểm soát chặt thì không được phép huy động và cho vay bằng vàng, nếu cho phép các DN sản xuất kinh doanh vàng trang sức vay mượn vàng từ người dân thì sẽ tiềm ẩn rất nhiều vấn đề. "Đặt trường hợp một hay nhiều DN mất khả năng thanh toán vàng cho khách hàng thì sẽ ra sao? Nếu không kiểm soát tốt thì hiện tượng đầu cơ, lừa đảo và nguy cơ "vàng hóa " trong nền kinh tế có thể quay trở lại và từ đó sẽ ảnh hưởng đến chính sách tài chính tiền tệ, kiểm soát lạm phát. Vấn đề quan trọng là làm sao để người dân không tập trung hết tiền vào vàng mà có thể sử dụng tiền, vốn cho các hoạt động đầu tư sinh lợi như phát triển các thị trường hàng hóa, kênh đầu tư khác…", ông Thịnh nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, TS Đinh Thế Hiển, Viện trưởng Viện Nghiên cứu tin học và kinh tế ứng dụng, phân tích: trước đây khi NH vẫn được phép huy động và cho vay bằng vàng thì đã phát sinh một số bất ổn cho thị trường tiền tệ nên mới có quy định ngừng hoạt động này. Giả sử cho DN vay vàng từ người dân theo đề xuất nêu trên, khi DN phải trả lãi suất và trả lại số lượng vàng đã vay bình thường. Ví dụ DN vay 50 lượng vàng miếng để chế biến thành vàng trang sức và bán ra thị trường, sau một thời gian sẽ thu tiền về và mua lại vàng trả nợ cho khách hàng. Nhưng trong trường hợp giá vàng biến động rất cao như năm 2024 - 2025 vừa qua, tăng đến 30 - 40% và thậm chí cao hơn nhiều thì số tiền DN bán vàng trang sức ra chưa chắc đã mua lại nổi 50 lượng vàng miếng thì việc thua lỗ là tất yếu. Vậy DN có thanh toán được nợ vàng hay không? Câu chuyện này có khi diễn ra ở nhiều DN kinh doanh vàng trang sức cùng lúc thì sẽ xuất hiện đổ vỡ dây chuyền. Đó là chưa kể thậm chí có tình trạng vay xong và cố tình chây ì, không trả nợ. Trước đây thực tế đã xảy ra nhiều tiệm vàng vay nợ bằng vàng nhưng sau đó vì giá tăng cao, vì thua lỗ… đã không trả được nợ, gây ra sự náo loạn trên thị trường.
Do vậy TS Đinh Thế Hiển nhấn mạnh: chỉ cần một đốm lửa nhỏ là sẽ lan sang cả thị trường vàng, gây ra hệ lụy cho thị trường tài chính và cả nền kinh tế. Vì vậy không thể có chuyện cho phép DN vay vàng từ người dân. Để khuyến khích thu hút dòng vốn từ người dân chảy vào nền kinh tế thì cần tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh ổn định, các kênh đầu tư khác phát triển thì dòng vốn sẽ tự động lựa chọn kênh đầu tư hiệu quả hơn tích trữ vàng.