Mục Lục
ToggleCụ thể, Bộ Quốc phòng nhận được câu hỏi của công dân qua chương trình Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời, liên quan đến điều kiện đăng ký thi, xét tuyển viên chức quốc phòng tại các trường, học viện trong quân đội.
Theo đó, người hỏi đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành lịch sử học trong nước, hiện đang học thạc sĩ tại trường sư phạm từ tháng 10-2025 và chưa tham gia nghĩa vụ quân sự hay đào tạo sĩ quan dự bị.
Người này băn khoăn liệu trong trường hợp đó có đủ điều kiện đăng ký dự tuyển viên chức quốc phòng hay không.
Cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cho biết việc tuyển dụng viên chức quốc phòng hiện được thực hiện theo quy định của Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 98/2025/QH15) và các thông tư hướng dẫn liên quan.
Theo quy định, đối tượng tuyển dụng viên chức quốc phòng là công dân Việt Nam 18 tuổi trở lên, thường trú trên lãnh thổ Việt Nam; không bao gồm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp khi chức vụ, chức danh đảm nhiệm không còn nhu cầu bố trí; hạ sĩ quan, binh sĩ hết thời hạn phục vụ tại ngũ.
Về điều kiện, tiêu chuẩn, ứng viên phải có phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe, lý lịch rõ ràng, tự nguyện phục vụ trong quân đội; có văn bằng, chứng chỉ, trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ hoặc có năng khiếu, kỹ năng phù hợp với chức danh nghề nghiệp của viên chức quốc phòng; đồng thời quân đội có nhu cầu biên chế.
Như vậy, Bộ Quốc phòng khẳng định pháp luật hiện không quy định ứng viên tuyển dụng viên chức quốc phòng phải có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc đã qua đào tạo, được phong quân hàm sĩ quan dự bị mới được xem xét tuyển dụng.
GS. TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, đưa ra nhận định trên, bên lề hội thảo "Thúc đẩy phát triển thế hệ tương lai: Hợp tác bán dẫn Hà Lan - Việt Nam", ngày 15/4.
Ông Trình cho biết bán dẫn là lĩnh vực khó. Như tại trường Đại học Công nghệ, có sinh viên giỏi phải học đi học lại ba lần mới có thể nắm vững, hoàn thành một môn liên quan.
Để học được, sinh viên phải giỏi kiến thức cơ bản từ thời phổ thông như Toán, Vật lý, các môn tự nhiên, tiếng Anh, thậm chí cả Văn để có thể trình bày những hiểu biết của mình.
Theo ông Trình, cũng vì yêu cầu cao, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra chuẩn chương trình đào tạo về vi mạch, bán dẫn. Thí sinh đăng ký các ngành ở lĩnh vực này phải có điểm thi tốt nghiệp THPT môn Toán trong top 20% cao nhất cả nước, đồng thời tổng điểm ba môn theo tổ hợp trong nhóm 25%.
Sau khi đỗ đại học, ông Trình cho rằng sinh viên phải chăm chỉ, có đam mê theo đuổi lĩnh vực này, đồng thời chú trọng củng cố và nâng cao nền tảng bằng cách học tập thật tốt các kiến thức, kỹ năng ở trường.
Ông Trình nhấn mạnh sinh viên cần tránh bẫy đi làm sớm từ năm 2-3 đại học, bỏ bê chương trình học những năm cuối, dẫn đến tuột kiến thức nền tảng, không thể ra trường đúng hạn.
Nói thêm, ông Phùng Việt Thắng, Giám đốc Intel Việt Nam, cho rằng điều quan trọng với nhân lực ngành bán dẫn là sự sẵn sàng. Theo ông, về cơ bản, sinh viên mới tốt nghiệp đại học không thể phù hợp hoàn toàn với vị trí nào ở doanh nghiệp mà cần được đào tạo thêm, thậm chí đào tạo lại.
"Tuy nhiên, việc đó nhanh hay lâu, nhiều hay ít là phụ thuộc vào sự sẵn sàng của các bạn", ông Thắng nói, cho hay sự sẵn sàng ở đây là việc tận dụng các cơ hội tiếp cận với doanh nghiệp trong ngành bán dẫn để học hỏi, chủ động tham gia nghiên cứu, thực hành ở phòng thí nghiệm và dành thời gian ở đó nhiều hơn những gì đang làm.
Ông đánh giá các phòng thí nghiệm trong trường đại học hiện tốt hơn rất nhiều so với trước đây, với nhiều trang thiết bị hiện đại. Việc sinh viên đặt trí tò mò vào đó sẽ giúp có những trải nghiệm, nền tảng hữu ích cho công việc thực tế trong tương lai.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2024-2025, gần 19.000 sinh viên nhập học các ngành phù hợp lĩnh vực bán dẫn, chiếm khoảng 10% số theo học khối ngành STEM.
Ông Chử Đức Trình nói đây là số sinh viên của 38 ngành, trong đó có cả Khoa học máy tính, Kỹ thuật máy tính, Cơ điện tử, Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông, chứ không riêng của chương trình đào tạo mang tên Vi mạch, bán dẫn.
Trong khi đó, theo chương trình "Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050", Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 kỹ sư ngành bán dẫn, trong đó có 15.000 kỹ sư thiết kế vi mạch, 35.000 kỹ sư trong các công đoạn sản xuất, đóng gói.
Để thu hút sinh viên các ngành gần làm việc trong lĩnh vực bán dẫn, ông Trình cho rằng rất cần sự định hướng của các trường đại học. Một trong các cách tốt nhất là liên kết với các doanh nghiệp nhằm gửi sinh viên đi thực tập, phối hợp hoàn thiện chương trình đào tạo sao cho phù hợp với thực tiễn, từ đó sinh viên hình dung tốt hơn và yêu thích hơn.
Tin Gốc: https://vnexpress.net/hieu-truong-dh-cong-nghe-nganh-ban-dan-khong-danh-cho-cac-tay-mo-5062792.html

Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, các em có thể tiếp cận hàng nghìn đề thi thử, video bài giảng, khóa học trực tuyến và cả lộ trình ôn tập sẵn. Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại đặt ra câu hỏi lớn: đây là cơ hội mở hay một "ma trận" khiến người học dễ lạc lối?
Điểm tích cực rõ nhất là khả năng tiếp cận được mở rộng mạnh mẽ. Trước đây, tài liệu ôn thi chất lượng chủ yếu tập trung ở đô thị và các trung tâm lớn; nay, nhờ internet, học sinh (HS) ở vùng sâu, vùng xa cũng có thể học cùng bài giảng, làm cùng đề thi như ở thành phố. Điều này góp phần thu hẹp khoảng cách vùng miền, ít nhất về cơ hội tiếp cận tri thức - một bước tiến đáng kể về công bằng giáo dục.
Bên cạnh đó, sự phong phú của học liệu cho phép cá nhân hóa việc học. HS có thể chọn nội dung phù hợp với trình độ và mục tiêu: người yếu học lại từ nền tảng, người khá giỏi tiếp cận chuyên đề nâng cao. Đây là điều lớp học truyền thống khó đáp ứng trọn vẹn.
Ngoài ra, tài liệu miễn phí mở "cửa vào" cho HS khó khăn, trong khi tài liệu có phí - nếu được xây dựng bài bản - mang lại giá trị gia tăng như hệ thống hóa kiến thức, phân tích lỗi sai, theo dõi tiến bộ. Sự song song này, về lý thuyết, tạo nên một hệ sinh thái học tập đa lựa chọn và linh hoạt hơn.
Tuy nhiên, chính sự phong phú ấy lại tạo ra nghịch lý: càng nhiều tài liệu, HS càng dễ mất phương hướng. Thứ nhất, nhiều em rơi vào tình trạng "sưu tầm" hơn là học. Một HS ôn thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM vừa qua, chia sẻ: "Em bị loạn giữa quá nhiều tài liệu, mỗi nơi một kiểu, không biết tin nguồn nào".
Thứ hai, không ít HS tải hàng chục bộ đề, đăng ký nhiều khóa học nhưng không theo được lộ trình nào đến cùng. Việc học dàn trải, thiếu trọng tâm khiến hiệu quả giảm, học liệu từ công cụ hỗ trợ trở thành "nhiễu thông tin".
Thứ ba, chất lượng tài liệu không đồng đều. Nhiều tài liệu miễn phí chưa được kiểm chứng, có thể sai lệch; trong khi tài liệu có phí không phải lúc nào cũng tương xứng. Thị trường thiếu chuẩn mực khiến "vàng thau lẫn lộn".
Thứ tư, nguy cơ lệch hướng học tập ngày càng rõ. Khi học liệu ôn thi phát triển mạnh, việc học dễ bị thu hẹp thành luyện dạng, học mẹo, thay vì hiểu bản chất. Điều này đi ngược xu hướng đánh giá năng lực.
Thứ năm, yếu tố thương mại hóa tạo áp lực mới. Quảng cáo bị thổi phồng, nhiều gia đình bỏ ra chi phí lớn với kỳ vọng "mua" lợi thế, từ đó hình thành một dạng bất bình đẳng mới.
Trong "ma trận" học liệu, HS không thể tiếp tục học theo kiểu bị dẫn dắt mà cần chuyển sang học có chiến lược.
Cần nhớ không phải càng nhiều tài liệu càng tốt; một nguồn phù hợp, được học sâu, làm đi làm lại và phân tích lỗi sai kỹ lưỡng thường hiệu quả hơn việc "lướt" qua nhiều nguồn. HS cần biết chọn lọc để đánh giá độ tin cậy, so sánh và tự kiểm chứng tài liệu - đây là năng lực thiết yếu trong thời đại số. Ngoài ra, phải giữ mục tiêu học để hiểu; khi nền tảng vững, kết quả thi sẽ là hệ quả tự nhiên.
Trong bối cảnh học liệu tràn ngập, giáo viên cần giữ vững vai trò định hướng. Không chỉ dạy kiến thức, thầy cô cần giúp HS xác định học gì, học từ đâu và học như thế nào; đồng thời giới thiệu nguồn tin cậy, cảnh báo "bẫy" học liệu.
Nhà trường nên xây dựng "ngân hàng học liệu" riêng, được kiểm duyệt để làm chuẩn tham chiếu. Cùng với đó là tổ chức ôn tập bài bản: thi thử, tư vấn học tập, hướng dẫn kỹ năng làm bài. Khi nhà trường làm tốt, sự phụ thuộc vào thị trường bên ngoài sẽ giảm.
Ở cấp quản lý, cần một trục định hướng rõ ràng. Trước hết, Bộ GD-ĐT giao một đơn vị thuộc bộ chuyên trách xây dựng nền tảng học liệu quốc gia, cung cấp tài liệu chuẩn với chi phí thấp, đảm bảo công bằng tiếp cận.
Quan trọng hơn là đổi mới đề thi theo hướng đánh giá năng lực thực chất, hạn chế học tủ, học mẹo, học máy móc, không hiểu bản chất. Đồng thời, cần cơ chế kiểm soát chất lượng học liệu, đặc biệt với sản phẩm có phí, nhằm minh bạch thông tin, bảo vệ người học và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Hiện tượng "bùng nổ học liệu ôn thi" không chỉ có ở VN. Tại Mỹ, các kỳ thi như SAT, ACT đã tạo ra cả một ngành luyện thi; ở Hàn Quốc với CSAT hay Trung Quốc với Gaokao cũng tương tự. Điểm chung là ở đâu thi cử cạnh tranh cao, ở đó học liệu phát triển mạnh.
Tuy nhiên, điều đáng tham khảo là cách ứng xử. Các quốc gia nói trên không hạn chế học liệu mà tập trung định hướng. Tại Mỹ, College Board cung cấp tài liệu chính thức miễn phí, kết hợp với Khan Academy tạo một "chuẩn tham chiếu" rõ ràng. Nhờ đó, HS có điểm tựa đáng tin cậy, không bị lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn bên ngoài; đồng thời, đề thi được thiết kế theo hướng khó "luyện tủ", buộc HS phải hiểu và vận dụng. Khi cách thi thay đổi, thị trường học liệu cũng phải điều chỉnh theo.
Ở Hàn Quốc và Trung Quốc, nhà nước còn can thiệp để kiểm soát thương mại hóa, giảm áp lực và bất bình đẳng. Dù còn tranh luận, điều này cho thấy: không thể buông lỏng hoàn toàn, mà cần sự dẫn dắt để học liệu phục vụ đúng mục tiêu giáo dục.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không thể ngăn chặn sự bùng nổ học liệu, nhưng hoàn toàn có thể biến nó thành một hệ sinh thái lành mạnh. Vấn đề không phải là có bao nhiêu tài liệu, mà là có một "trục định hướng" đủ mạnh hay không.
Khi cơ quan quản lý giáo dục dẫn dắt, nhà trường tổ chức, giáo viên định hướng và HS chủ động, thì sự bùng nổ học liệu sẽ không còn là áp lực mà trở thành nguồn lực quý giá cho một nền giáo dục hiện đại.
Trước mắt, một số tỉnh, thành phố lớn có thể xây dựng hệ sinh thái ôn thi cho riêng địa phương mình, từ đó, sẽ phổ biến kinh nghiệm cho nhiều địa phương khác.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng nay (5.4), đợt 1 kỳ thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM diễn ra tại 15 tỉnh, thành phố tính theo đơn vị hành chính sau sáp nhập, gồm: Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cần Thơ và Cà Mau.
Với hơn 135.000 thí sinh dự thi, đợt 1 kỳ thi này có số lượng thí sinh tăng 5,14% so với năm ngoái và cao kỷ lục tính từ trước đến nay.
Đối tượng tham dự kỳ thi này gồm: học sinh đang học lớp 12 chương trình THPT hoặc chương trình giáo dục thường xuyên cấp THPT trong năm tổ chức kỳ thi; Người học hết chương trình THPT nhưng chưa thi tốt nghiệp THPT hoặc đã thi nhưng chưa tốt nghiệp THPT ở những năm trước; Người đã tốt nghiệp THPT, trình độ trung cấp và đã có bằng tốt nghiệp THPT (theo quy định của luật Giáo dục và các văn bản hướng dẫn thi hành) hoặc đã tốt nghiệp chương trình THPT của nước ngoài ở nước ngoài hoặc ở Việt Nam (đã được nước sở tại cho phép thực hiện, đạt trình độ tương đương trình độ THPT của Việt Nam).
Kỳ thi diễn ra đồng thời tại 119 điểm thi, 4.321 phòng thi, với sự tham gia của 9.910 cán bộ coi thi. Đáng chú ý là sự tham gia phối hợp tổ chức của 57 trường ĐH-CĐ từ TP.Huế trở vào. Riêng TP.HCM có tới 25 trường ĐH-CĐ tham gia tổ chức gồm: Trường ĐH Bách khoa TP.HCM, Trường ĐH Công nghệ thông tin TP.HCM, Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, Trường ĐH Kinh tế-Luật, Trường ĐH Quốc tế, Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM, Trường ĐH Công nghệ Sài Gòn, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, Trường ĐH Công thương TP.HCM, Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM, Trường ĐH Hoa Sen, Trường ĐH Ngoại ngữ-Tin học TP.HCM, Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, Trường ĐH Nông lâm TP.HCM, Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng, Trường ĐH Tài chính-Marketing, Trường ĐH Tôn Đức Thắng, Trường ĐH Văn Lang, Trường ĐH Bình Dương, Trường ĐH Quốc tế Miền Đông, Trường ĐH Thủ Dầu Một, Trường ĐH Bà Rịa-Vũng Tàu, Trường ĐH Dầu khí Việt Nam, Trường CĐ Sư phạm Bà Rịa-Vũng Tàu.
So với năm trước, năm nay kỳ thi có thêm 4 đơn vị phối hợp tổ chức với nhiều điểm thi mới gồm: Trường ĐH Tôn Đức Thắng, Trường ĐH Công nghệ Sài Gòn, Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM và Trường ĐH Bà Rịa-Vũng Tàu.
Tham dự kỳ thi này, thí sinh làm một bài thi trong thời gian 150 phút gồm 120 câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, được tổ chức theo hình thức thi trên giấy. Mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan có 4 lựa chọn (A, B, C, D). Thí sinh lựa chọn một đáp án đúng cho mỗi câu hỏi và điền câu trả lời vào phiếu trả lời trắc nghiệm do ĐH Quốc gia TP.HCM quy định.
Nội dung thi được xây dựng dựa trên cơ sở kiến thức THPT nhằm đánh giá năng lực cơ bản cần thiết cho việc học ĐH của thí sinh, bao gồm: sử dụng ngôn ngữ, toán học, tư duy khoa học. Theo đó, cấu trúc bài thi gồm 3 phần: sử dụng ngôn ngữ gồm 60 câu hỏi (30 câu tiếng Việt và 30 câu tiếng Anh); toán học gồm 30 câu hỏi; tư duy khoa học gồm 30 câu hỏi. Cách phân bổ này nhằm đánh giá toàn diện các năng lực cốt lõi như tư duy logic, phân tích số liệu và suy luận khoa học, thay vì kiểm tra kiến thức đơn lẻ theo từng môn học. Độ khó của các câu hỏi trong đề thi được phân thành 3 mức độ và được phân bố theo tỷ lệ: mức độ 1 chiếm 30%, mức độ 2 chiếm 40%, mức độ 3 chiếm 30%.
Về phương pháp chấm điểm, kết quả thi đánh giá năng lực được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm hiện đại theo lý thuyết ứng đáp câu hỏi. Điểm của từng câu hỏi có trọng số khác nhau tùy thuộc vào độ khó của câu hỏi. Điểm thi được quy đổi theo từng phần. Điểm số tối đa của bài thi là 1.200 điểm, trong đó điểm tối đa từng thành phần của bài thi được thể hiện trên phiếu điểm gồm: tiếng Việt là 300 điểm, tiếng Anh là 300 điểm; toán học là 300 điểm và tư duy khoa học là 300 điểm.
Năm 2025, kỳ thi thu hút 152.000 thí sinh với hơn 223.000 lượt đăng ký dự thi tại 55 điểm thi thuộc 25 tỉnh/thành. Đồng thời, có 111 cơ sở giáo dục ĐH-CĐ sử dụng kết quả thi để xét tuyển. Riêng hệ thống ĐH Quốc gia TP.HCM, phương thức này chiếm hơn 56% tổng chỉ tiêu tuyển sinh.
Năm nay, dự kiến 118 cơ sở đào tạo ĐH-CĐ sử dụng kết quả kỳ thi để xét tuyển. Kết quả thi đợt 1 này sẽ được công bố vào ngày 17.4 tới, trước khi bắt đầu nhận đăng ký đợt 2 từ ngày 18.4.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/so-thi-sinh-du-thi-tranh-suat-som-vao-dai-hoc-cao-ky-luc-185260405075615147.htm

