Khi Artemis II bắt đầu hành trình 10 ngày tính từ 1/4, Koch trở thành nữ phi hành gia đầu tiên đi vào không gian sâu. Ngày 6/4 (7/4 theo giờ Hà Nội) tiếp tục ghi nhận cô là người phụ nữ đầu tiên bay quanh Mặt Trăng.
Sau khi bay vòng ra phía xa thiên thể này và gián đoạn liên lạc khoảng 40 phút, Christina Koch chia sẻ: “Thật tuyệt khi được nghe tin từ Trái Đất một lần nữa. Gửi đến châu Á, châu Phi, châu Đại Dương, chúng tôi đang ngắm nhìn và lắng nghe các bạn. Mọi người có thể ngước lên và thấy Mặt Trăng lúc này, chúng tôi cũng nhìn thấy các bạn”.
Koch, sinh năm 1979, là chị cả trong gia đình có ba anh chị em. “Chị ấy muốn trở thành phi hành gia từ khi học mẫu giáo”, em gái Denise Clayton, cho biết trên News & Observer năm 2023.
Từ khi thành lập, NASA đã lựa chọn 370 phi hành gia, với 61 nữ, chiếm 16%. Tỷ lệ giới tính đã dần cân bằng hơn những năm gần đây, nhưng do các tiêu chí cũ kéo dài trong nhiều năm, nam giới vẫn chiếm đa số. Trong 7 khóa đào tạo phi hành gia đầu tiên từ 1959 đến 1969, họ chọn ra 73 phi hành gia, đều là nam giới, chủ yếu đến từ các nhóm phi công quân sự. Phải đến khóa thứ 8 năm 1978, giới nữ mới được tuyển.
Christina Koch tham gia khóa thứ 21 năm 2013. Trước đó, cô học vật lý và kỹ thuật điện tại Đại học bang North Carolina, rồi lấy bằng thạc sĩ kỹ thuật điện. Sau khi tốt nghiệp, Koch từng là kỹ sư điện cho dự án khoa học không gian tại NASA hai năm nhưng nghỉ công việc cô gọi là “hoàn hảo” để đi nghiên cứu tại Nam Cực.
“Rời bỏ là một quyết định khó khăn. Nhưng ý tưởng về khoa học và khám phá những vùng đất mới đã thu hút tôi đến Nam Cực và không gian”, Koch nói trong phỏng vấn với WUNC News.
Chính trải nghiệm đó, cùng với những chuyển dịch trong ngành hàng không vũ trụ, đưa Koch trở về “quỹ đạo” khám phá không gian. NASA xem kinh nghiệm ở các môi trường xa xôi là một năng lực quan trọng trong quá trình tuyển chọn cho chương trình đào tạo phi hành gia năm 2013.
Trước khi tham gia Artemis II, cô đã có chuyến thám hiểm không gian trên Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) vào tháng 3/2019. Khi NASA yêu cầu kéo dài thời gian nhằm thực hiện các nhiệm vụ khoa học, cô đồng ý và ở đây trong 328 ngày liên tục, lập kỷ lục về số ngày một nữ phi hành gia ở trong vũ trụ.
Khi đó, cô và các đồng đội đã đóng góp vào hàng trăm thí nghiệm trong các lĩnh vực sinh học, khoa học Trái Đất, nghiên cứu con người, khoa học vật lý và phát triển công nghệ. Một số thành tựu khoa học nổi bật từ nhiệm vụ bao gồm cải tiến máy quang phổ từ tính Alpha, dùng để nghiên cứu vật chất tối, nuôi cấy tinh thể protein cho nghiên cứu dược phẩm và thử nghiệm máy in sinh học 3D để in mô trong môi trường không trọng lực.
Koch cũng tham gia chuyến đi bộ ngoài không gian toàn nữ đầu tiên của NASA vào tháng 10/2019. Dấu mốc này, cùng với nhiệm vụ 328 ngày, đưa cô trở thành một trong những phi hành gia nổi tiếng nhất ở thế hệ hiện tại, trước khi bước vào Artemis II.
Theo NASA, sống và làm việc lâu ngày trên ISS đòi hỏi sức bền thể chất, kỷ luật và khả năng giữ bình tĩnh ở môi trường khép kín. Artemis II đòi hỏi những phẩm chất tương tự, và với khoảng cách xa Trái Đất hơn cũng như ít phương án ứng phó tức thời hơn, Koch trở thành ứng viên sáng giá.
Trong video của NASA năm 2020, Koch nói sự nghiệp của mình được thúc đẩy bởi “những điều khiến tôi cảm thấy mình nhỏ bé, khiến tôi suy ngẫm về kích thước của vũ trụ, vị trí của tôi trong đó và mọi thứ có thể khám phá ngoài kia”.
Với cô, Mặt Trăng không chỉ là thám hiểm không gian sâu. “Nó thực sự là ngọn hải đăng cho khoa học”, cô nói trong video giới thiệu các phi hành gia Artemis II năm 2023. “Nó là ngọn hải đăng giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc của mình”.
“Tôi luôn nói với mọi người rằng, hãy làm những điều khiến bạn sợ hãi”, cô chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn trước nhiệm vụ Artemis. “Với tôi, làm điều sợ hãi nghĩa là lên máy bay đến Nam Cực, đăng ký trở thành phi hành gia, ngồi vào tên lửa, mở cửa khoang ISS và bước ra ngoài không gian”.
Sạc qua đêm là một chủ đề gây tranh cãi trong cộng đồng công nghệ. Trong khi smartphone hiện an toàn hơn nhờ các tính năng tối ưu hóa sạc pin, mọi thứ phức tạp hơn với pin dự phòng. Đặc biệt, với dung lượng lớn hơn, pin dự phòng tiềm ẩn nhiều rủi ro khi sạc lâu.
Pin dự phòng thường sử dụng lithium-ion hoặc lithium-polymer. Khi sạc quá mức mà không có biện pháp bảo vệ, hóa chất bên trong có thể trở nên không ổn định, dẫn đến hiện tượng quá nhiệt - vốn là nguyên nhân chính khiến pin lithium có thể bốc cháy.
Ngoài ra, các yếu tố như hư hỏng vật lý, tiếp xúc với nhiệt độ cao và cáp không tương thích cũng có thể làm tăng nguy cơ. Việc sạc pin trên giường hoặc dưới gối có thể trở nên nguy hiểm, vì nhiệt không có chỗ thoát ra. Một sự cố gần đây tại Los Angeles (Mỹ) đã ghi nhận một phóng viên bị bỏng hóa chất do bộ sạc di động phát nổ khi đang sạc trên giường.
Mặc dù không phải tất cả pin dự phòng đều có nguy cơ phát nổ, việc sạc quá mức vẫn có thể làm giảm tuổi thọ của pin. Nhiều pin dự phòng hiện đại được trang bị hệ thống quản lý pin tự động ngừng sạc khi đạt 100%. Tuy nhiên, với những pin dự phòng có dung lượng lên đến 25.000 mAh, chúng vẫn có khả năng tỏa nhiệt cao hơn so với smartphone.
Theo blog của UGREEN, với những tiến bộ trong công nghệ hiện nay, việc sạc pin dự phòng qua đêm có thể an toàn. Trong khi đó, hướng dẫn từ Ambrane cũng cho biết hầu hết pin dự phòng hiện đại đều có biện pháp bảo vệ nhằm giúp việc sạc qua đêm thỉnh thoảng "nói chung là an toàn". Tuy nhiên, Anker lại khuyến cáo nên tránh hoàn toàn việc sạc qua đêm.
Các chuyên gia khuyến cáo người dùng cần đặc biệt cẩn thận với các pin dự phòng cũ hoặc giá rẻ, vì chúng có thể thiếu chứng nhận an toàn và dễ gây hại cho thiết bị. Trước khi sử dụng, hãy chú ý đến các dấu hiệu cảnh báo như phồng lên, mùi lạ hoặc quá nóng, đồng thời ngừng sử dụng ngay nếu phát hiện bất kỳ dấu hiệu mất an toàn nào.
Tóm lại, việc sạc pin dự phòng qua đêm có thể an toàn nếu người dùng sử dụng sản phẩm chất lượng và chú ý đến các dấu hiệu cảnh báo.
Viện Đổi mới Vệ tinh siêu nhỏ thuộc Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc (IAMCAS), đơn vị phát triển tàu, cho biết chuyến bay đã xác nhận những công nghệ then chốt cho các vụ phóng tương lai, đồng thời thúc đẩy chương trình không gian thương mại của nước này. "Tàu vũ trụ chở hàng Khinh Châu sẽ tiếp tục được cải tiến và tối ưu hóa, hướng tới xây dựng cầu nối đáng tin cậy cho việc vận chuyển hàng hóa giữa không gian và mặt đất", IAMCAS hôm 16/4 cho biết.
Nguyên mẫu Khinh Châu đang bay trên quỹ đạo cao 600 km, triển khai thành công hai vệ tinh nhỏ, đồng thời tiến hành thử nghiệm tiếp cận và rút lui với một trong số chúng. Một số thử nghiệm công nghệ quan trọng khác gồm in kim loại 3D trên quỹ đạo, sản xuất năng lượng khép kín bằng phương pháp điện phân nước và công nghệ pin nhiên liệu, vận hành thiết bị trị liệu được thiết kế để duy trì sức khỏe xương trong môi trường không trọng lực.
Con tàu cũng sử dụng một thiết bị bám dính để thử nghiệm quy trình bắt giữ và kéo các "mục tiêu không hợp tác" như vệ tinh đã ngừng hoạt động hoặc mảnh tên lửa, mở đường cho hoạt động dọn rác vũ trụ. Có hàng triệu mảnh rác với khối lượng lên đến hàng nghìn tấn trôi nổi trên quỹ đạo Trái Đất thấp, gây nguy cơ va chạm với phương tiện đang hoạt động.
Tháng 11 năm ngoái, tàu Thần Châu 20 của Trung Quốc bị một mảnh vỡ nhỏ đâm trúng khi đang neo đậu trên trạm Thiên Cung, dẫn đến cửa sổ bị nứt và làm chậm chuyến trở về của phi hành đoàn ba người. Họ được chuyển sang tàu Thần Châu 21 để hạ cánh an toàn vài ngày sau, trong khi tàu Thần Châu 20 trở về trong trạng thái không người lái.
Khinh Châu cùng hai vệ tinh nhỏ bay lên không gian từ Trung tâm Phóng vệ tinh Tửu Tuyền, tây bắc Trung Quốc, bằng tên lửa đẩy Kinetica-2 ngày 30/3. Đây là tàu đơn module, nhỏ và nhẹ hơn Thiên Châu, loại tàu đang vận chuyển hàng hóa cho trạm vũ trụ Thiên Cung của Trung Quốc.
Khinh Châu nặng 4,2 tấn, mang theo tải trọng thí nghiệm khoa học một tấn, gồm hơn 20 bộ thiết bị thí nghiệm, dự kiến hoạt động trên quỹ đạo ba năm. Ngoài chở hàng cho trạm Thiên Cung, tàu cũng có thể hoạt động như một nền tảng thử nghiệm cho các vật liệu và công nghệ vũ trụ.
Theo một khảo sát mới đây của Trung tâm Nghiên cứu Pew - một tổ chức nghiên cứu độc lập uy tín tại Mỹ chuyên khảo sát dư luận và xu hướng xã hội - hơn một nửa học sinh Mỹ trong độ tuổi 13-17 cho biết đã sử dụng chatbot AI để trả lời câu hỏi và hỗ trợ việc học.
Khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu Pew thực hiện với 1.458 học sinh Mỹ trong độ tuổi từ 13 đến 17, nhằm tìm hiểu cách các em sử dụng chatbot AI và đánh giá tác động của công nghệ này. Đây là nhóm tuổi đang trực tiếp chịu ảnh hưởng của các công cụ AI trong môi trường học đường.
Khảo sát cho thấy chatbot AI được sử dụng chủ yếu để hỗ trợ các hoạt động học tập như giải toán, tìm kiếm thông tin và nghiên cứu tài liệu.
Học sinh có xu hướng dùng AI nhiều hơn trong các môn yêu cầu xử lý logic hoặc tổng hợp kiến thức, trong khi việc chỉnh sửa bài viết cá nhân ít phụ thuộc vào công cụ này hơn.
Một số học sinh cho biết họ sử dụng AI để được hướng dẫn từng bước khi gặp bài khó, đặc biệt trong các môn như toán và hóa học.
Thay vì chỉ cung cấp đáp án, chatbot có thể đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau, giúp người học hiểu vấn đề theo nhiều hướng.
Bên cạnh đó, AI cũng được sử dụng để tạo ý tưởng, hỗ trợ viết và hoàn thành bài tập nhanh hơn.
Tuy nhiên, mức độ sử dụng AI không đồng đều giữa các học sinh. Bên cạnh những trường hợp dùng AI như một công cụ tham khảo, khảo sát cũng ghi nhận tình trạng học sinh phụ thuộc vào chatbot trong phần lớn bài tập.
Bài viết được Science News Explores dẫn lại cho thấy trong số này, khoảng 20%, tức là 1/5, học sinh thừa nhận họ lệ thuộc vào AI và dùng AI cho toàn bộ hoặc phần lớn bài tập. Đồng nghĩa, AI đang trở thành một phần trong thói quen học tập của đại đa số học sinh.
Một điểm đáng chú ý khác là tình trạng gian lận học tập liên quan đến AI. Khoảng 60% học sinh được hỏi cho rằng việc sử dụng AI để gian lận diễn ra khá thường xuyên hoặc rất thường xuyên tại trường học.
Trong một số trường hợp, học sinh sử dụng chatbot để đưa ra câu trả lời hoặc quan điểm thay cho ý kiến cá nhân, thay vì tự suy nghĩ và lập luận.
Khảo sát cũng cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong mức độ sử dụng AI giữa các nhóm học sinh. Học sinh da đen và gốc Mỹ Latinh có xu hướng sử dụng chatbot AI nhiều hơn so với học sinh da trắng.
Ngoài ra, yếu tố thu nhập gia đình cũng có ảnh hưởng đáng kể. Trong các gia đình có thu nhập dưới 30.000 USD mỗi năm, khoảng 1/5 học sinh cho biết họ sử dụng AI cho phần lớn hoặc toàn bộ bài tập. Tỉ lệ này cao gần gấp ba lần so với nhóm gia đình có thu nhập từ 75.000 USD trở lên.
Bên cạnh việc sử dụng AI cho học tập, khảo sát cũng ghi nhận sự khác biệt trong cách học sinh sử dụng chatbot cho các mục đích cá nhân. Chẳng hạn, tỉ lệ học sinh da đen sử dụng AI để tìm kiếm lời khuyên hoặc hỗ trợ cảm xúc cao hơn đáng kể so với học sinh da trắng .
Về nhận thức, phần lớn học sinh có cái nhìn tích cực đối với AI. Chỉ 15% học sinh cho rằng AI sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân, trong khi 26% lo ngại về tác động tiêu cực của AI đối với xã hội.
Những con số này cho thấy học sinh có xu hướng đánh giá AI là hữu ích trong phạm vi cá nhân, nhưng vẫn tồn tại những lo ngại nhất định về ảnh hưởng rộng hơn.