Sau 7 tuần xung đột, Tổng thống Mỹ Donald Trump chưa thể buộc Iran đáp ứng tất cả yêu cầu của mình. Chiến sự còn làm lộ rõ điểm yếu lớn nhất của ông trước đồng minh và đối thủ: sức ép kinh tế.
Dù Iran ngày 17/4 tuyên bố tạm thời mở lại eo biển Hormuz cho tàu thuyền, khủng hoảng Trung Đông vẫn cho thấy giới hạn trong mức độ ông Trump sẵn sàng chấp nhận thiệt hại với kinh tế Mỹ. Giá xăng tại nền kinh tế lớn nhất thế giới tăng cao, lạm phát đi lên và tỷ lệ ủng hộ giảm xuống, Tổng thống Mỹ đang chạy đua để đạt được một thỏa thuận ngoại giao nhằm hạn chế tác động trong nước.
Đến nay, Iran chịu nhiều thiệt hại về quân sự. Tuy nhiên, theo giới phân tích, xung đột cho thấy Iran đủ sức gây ra những tổn thất kinh tế mà ông Trump và các trợ lý đã đánh giá thấp, điển hình là cú sốc năng lượng nghiêm trọng nhất lịch sử.
Ông Trump thường tỏ ra không lo ngại trước những tác động kinh tế do chiến sự gây ra. Dù Mỹ không phụ thuộc vào lượng dầu bị gián đoạn do Iran kiểm soát eo biển Hormuz, giá năng lượng tăng mạnh vẫn tác động tới người tiêu dùng nước này.
Khảo sát công bố tuần trước của Đại học Michigan cho thấy chỉ số niềm tin tiêu dùng của người Mỹ chỉ là 47,6 điểm trong tháng 4. Đây là mức thấp kỷ lục, giảm hơn 10% so với tháng 3.
“Nhiều người tiêu dùng đổ lỗi cho xung đột tại Iran gây ra các thay đổi bất lợi cho nền kinh tế”, như lạm phát tăng tốc, bà Joanne Hsu – người phụ trách báo cáo cho biết. “Tất cả nhóm tuổi, thu nhập, quan điểm chính trị đều ghi nhận niềm tin đi xuống, phản ánh quy mô của lần giảm này”, báo cáo viết.
Cảnh báo tuần này của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) về nguy cơ suy thoái toàn cầu càng khiến triển vọng thêm ảm đạm. Tăng trưởng của Mỹ năm nay cũng được IMF ước tính còn 2,3%, giảm 0,1 điểm phần trăm so với báo cáo tháng 1.
Áp lực chấm dứt chiến sự đang ngày càng gia tăng, trong bối cảnh các nghị sĩ đảng Cộng hòa phải bảo vệ thế đa số mong manh tại Quốc hội trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11. Giới lãnh đạo Iran được cho là đã tận dụng việc kiểm soát eo biển để gây sức ép buộc Mỹ quay lại bàn đàm phán.
“Ông Trump đang cảm nhận được áp lực kinh tế, đây là ‘gót chân Asin’ trong cuộc chiến do chính ông lựa chọn”, Brett Bruen – cựu cố vấn chính sách đối ngoại thời cựu Tổng thống Obama nhận định.
Người phát ngôn Nhà Trắng Kush Desai thì khẳng định dù họ thúc đẩy việc đạt thỏa thuận với Iran để tìm giải pháp “tạm thời” cho thị trường năng lượng, Mỹ “chưa bao giờ rời khỏi mục tiêu đảm bảo chi phí hợp lý và tăng trưởng kinh tế”.
Ngày 7/4, Tổng thống Mỹ thông báo lệnh ngừng bắn hai tuần với Iran. Việc ông Trump đột ngột chuyển từ không kích sang ngoại giao diễn ra sau sức ép từ thị trường tài chính và một bộ phận cử tri. Một phần thiệt hại kinh tế đang đổ lên nông dân Mỹ – nhóm cử tri quan trọng của tổng thống, khi nguồn cung phân bón bị gián đoạn do eo biển Hormuz bị phong tỏa. Giá vé máy bay cũng đắt đỏ vì chi phí nhiên liệu tăng vọt.
Dù vậy, giá dầu thế giới giảm mạnh và thị trường tài chính Mỹ tiếp tục khởi sắc phiên 17/4 sau khi Iran tuyên bố eo biển sẽ mở trong thời gian còn lại của thỏa thuận ngừng bắn giữa Israel và Lebanon.
Ông Trump sau đó nhanh chóng tuyên bố tuyến hàng hải này an toàn, đồng thời cho biết một thỏa thuận với Iran đang được hoàn tất, chủ yếu theo điều kiện của Mỹ.
Theo các nguồn tin của Reuters, hai bên vẫn còn những khác biệt cần giải quyết. Một quan chức cấp cao trong chính quyền ông Trump cho biết Mỹ duy trì “một số lằn ranh đỏ” trong đàm phán với Iran. Trong khi đó, ngày 18/4 – một ngày sau tuyên bố mở cửa eo biển Hormuz, Iran tái áp đặt hạn chế với tuyến hàng hải này.
Các chuyên gia cảnh báo ngay cả khi chiến sự sớm kết thúc, thiệt hại kinh tế có thể mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm mới khắc phục được. Đây là lý do sau khi xung đột Nga – Ukraine nổ ra năm 2022, cựu Tổng thống Mỹ Joe Biden rất thận trọng với việc áp trừng phạt ngành năng lượng Nga, do lo ngại làm giảm nguồn cung dầu và khiến giá xăng tại Mỹ tăng.
Tổng thống Trump cũng tỏ ra nhạy cảm trước những chỉ trích rằng chính sách của ông khiến giá cả tăng. Một ví dụ là việc ông giảm thuế nhập khẩu với Trung Quốc năm ngoái, sau khi Bắc Kinh trả đũa. Ông chiến thắng cuộc bầu cử năm 2024 nhờ cam kết hạ giá xăng và lạm phát.
Giới phân tích cho rằng lần này, Tổng thống Mỹ dường như đánh giá sai cách Iran có thể đáp trả về kinh tế trong chiến sự. Tehran đã tấn công hạ tầng năng lượng tại các quốc gia vùng Vịnh và phong tỏa tuyến hàng hải chiến lược.
Các quan chức Mỹ cũng cho biết ông Trump từng tin xung đột là chiến dịch giới hạn, tương tự đợt tập kích Venezuela ngày 3/1 và các cuộc không kích vào cơ sở hạt nhân Iran tháng 6/2025. Nhưng lần này, tác động lan rộng hơn nhiều.
Các quốc gia châu Âu đang phàn nàn vì phải gánh tác động kinh tế lớn từ chiến sự mà họ không mong muốn. Giới phân tích cho rằng EU có thể lo ngại hơn về cam kết tiếp tục hỗ trợ Ukraine của ông Trump trong xung đột với Nga.
Các nước Arab ở vùng Vịnh cũng muốn xung đột sớm kết thúc, nhưng sẽ không hài lòng nếu ông Trump đạt thỏa thuận mà không có điều khoản đảm bảo an ninh cho họ. “Sự kết thúc của xung đột này không nên tạo ra bất ổn kéo dài trong khu vực”, Anwar Gargash – cố vấn ngoại giao của Tổng thống UAE cảnh báo.
Nhiều cử tri vẫn đứng về phía ông Trump. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nghi ngờ về khả năng ông giúp đảng Cộng hòa giành lại vị thế, đặc biệt với nhóm cử tri độc lập, trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.
“Ông ấy hiểu rằng một bộ phận lớn người dân phản đối mạnh mẽ những gì mình đã làm. Tôi nghĩ việc này sẽ kèm theo cái giá nào đó”, Chuck Coughlin – chiến lược gia chính trị tại bang Arizona kết luận.
Năm ngoái, Quốc hội đồng ý nâng mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, giá trị giá tăng của cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng một năm.
Tại hồ sơ thẩm định dự án sửa một số luật thuế, Bộ Tài chính đưa ra phương án sửa quy định về mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, giá trị gia tăng (VAT). Theo đó, ngưỡng này sẽ được giao Chính phủ quy định, thay vì chốt "cứng" tại luật.
Lý do, Bộ Tài chính cho rằng điều kiện kinh tế trong nước có nhiều biến động so với thời điểm ban hành quy định cuối năm ngoái. Những tháng đầu năm nay, chi phí đầu vào gia tăng, sức mua suy giảm và hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh còn nhiều khó khăn.
Do đó, theo cơ quan này, việc nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế với hộ kinh doanh là cần thiết. Điều này nhằm đảm bảo chính sách khoa học, phù hợp, có tính đến khả năng đáp ứng của người nộp thuế.
"Việc điều chỉnh ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế nhằm hỗ trợ hộ kinh doanh quy mô nhỏ và trung bình thấp, giúp họ duy trì hoạt động, đặc biệt với các ngành nghề có biên lợi nhuận thấp và chịu tác động lớn từ biến động chi phí", Bộ Tài chính nêu quan điểm.
Theo số liệu của Bộ Tài chính, đến cuối 2025 cả nước có 3-4 triệu hộ kinh doanh, trong đó hơn 2 triệu hộ khai thuế ổn định. Năm ngoái, số thu thuế từ khu vực hộ, cá nhân kinh doanh đạt 32.840 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ. Còn giai đoạn 2022-2025, cả nước có khoảng từ 3-4 triệu hộ kinh doanh. Trong đó, hơn 2 triệu hộ khai thuế ổn định, chiếm khoảng 2% tổng thu ngân sách nhà nước.
Ngoài hộ kinh doanh, Bộ Tài chính cũng đề xuất ngưỡng doanh thu miễn thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm hỗ trợ công ty nhỏ và siêu nhỏ. Ngưỡng này cũng do Chính phủ quy định, không phải mức cố định tại luật. Dự kiến, chính sách này áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Hiện, pháp luật chưa có quy định về ngưỡng thu nhập được miễn thuế với doanh nghiệp nhỏ. Cả nước có khoảng 900.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó gần 94% là công ty nhỏ và siêu nhỏ.
Bộ Tài chính dẫn kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhóm này thường được ưu tiên hỗ trợ về chính sách thuế, như áp dụng thuế suất thấp hơn hoặc miễn thuế.
Nhà điều hành có một số ưu đãi như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm với doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh, hoặc áp dụng thuế suất 15-17% với doanh nghiệp doanh có doanh thu nhỏ. Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho rằng việc bổ sung ngưỡng doanh thu miễn thuế như hộ kinh doanh sẽ đảm bảo công bằng với doanh nghiệp nhỏ. Đồng thời, chính sách này giúp khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp.
Bộ cũng đề xuất trình Quốc hội ban hành luật theo trình tự, thủ tục rút gọn, thông qua luật tại kỳ họp thứ nhất diễn ra từ 20-24/4.
Ngày 17-4, tại Hội thảo "Hộ kinh doanh: Minh bạch dòng tiền, mở rộng cơ hội kinh doanh", bà Lê Thị Chinh - Phó trưởng Ban Nghiệp vụ thuế (Cục Thuế) - đã chỉ "bí kíp" để người nộp thuế làm đúng ngay từ đầu, yên tâm kinh doanh.
Hôi thảo diễn ra tại trụ sở của Thuế TP.HCM, với sự tham gia của gần 400 hộ kinh doanh, tiểu thương trên địa bàn thành phố, cùng đại diện các cơ quan quản lý, chuyên gia trong lĩnh vực thuế, công nghệ, tài chính.
Bà Lê Thị Chinh cho biết ngày 20-4 này là hạn cuối hộ kinh doanh bước vào kỳ kê khai đầu tiên. Vậy làm thế nào để người nộp thuế làm đúng ngay từ đầu, yên tâm kinh doanh.
Theo bà, Nghị định 68 và Thông tư 18 của Bộ Tài chính vừa mới ban hành đã quy định cụ thể về chính sách và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh. Các đối tượng này sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng.
Để hỗ trợ người nộp thuế, bà Chinh nêu rõ: hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống không phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân. Mức này tới đây đang được nghiên cứu để điều chỉnh, nhằm hỗ trợ bà con hộ kinh doanh.
Đối với trường hợp doanh thu trên 500 triệu đồng/năm, hộ kinh doanh sẽ nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp doanh thu nhân (X) tỉ lệ phần trăm, tùy theo từng ngành nghề. Đơn cử ngành bán lẻ thương mại áp dụng mức 1%, dịch vụ ăn uống là 3% trên doanh thu...
Về thuế thu nhập cá nhân, hộ kinh doanh được áp dụng hai phương pháp, tùy theo quy mô doanh thu trong năm.
Cụ thể với doanh thu trên 500 triệu đến 3 tỉ đồng/năm, người nộp thuế được chọn một trong hai cách tính thuế. Một là doanh thu nhân với tỉ lệ thuế. Hai là thu nhập tính thuế (nghĩa là doanh thu trên 500 triệu đồng trừ (-) chi phí hợp lý, hợp lệ) nhân với thuế suất 15%. Bà con được quyền chọn lựa phương pháp có lợi hơn.
Đối với nhóm có doanh thu trên 3 tỉ đồng đến 50 tỉ đồng/năm, hộ kinh doanh sẽ áp dụng phương pháp thu nhập tính thuế nhân với thuế suất tương ứng là 17%. Nhóm doanh thu trên 50 tỉ đồng/năm áp dụng thuế suất 20% theo phương pháp này.
Một điểm mới là quy định về kê khai, trong đó, theo bà Chinh, hộ, cá nhân kinh doanh đặc biệt cần lưu ý thời hạn kê khai, chứ không chỉ nộp thuế,
Hộ, cá nhân kinh doanh tự xác định mức doanh thu trong năm từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để thực hiện kê khai, nộp thuế.
Cụ thể, doanh thu từ 500 triệu đồng trở xuống (tức là thuộc ngưỡng không chịu thuế) thì nộp thông báo doanh thu của năm 2026 với cơ quan thuế duy nhất 1 lần, chậm nhất là ngày 31-1-2027 tiếp theo.
Về khai và nộp thuế giá trị gia tăng, trường hợp có doanh thu năm trên 500 triệu đồng đến 50 tỉ đồng/năm, thì khai và nộp thuế giá trị gia tăng theo quý. Như thuế quý 1 này, hộ kinh doanh sẽ khai và nộp, hạn muộn nhất là ngày 4-5 tới.
Trường hợp có doanh thu năm trên 50 tỉ đồng/năm, hộ thực hiện khai theo tháng.
Về khai và nộp thuế thu nhập cá nhân, hộ kinh doanh, cá nhân sẽ lựa chọn nộp thuế một trong hai phương pháp như ở trên.
Nếu như chọn phương pháp thuế suất nhân với doanh thu tính thuế thì hộ kê khai và nộp thuế theo quý, cùng với hạn khai và nộp thuế giá trị gia tăng. Quy định này rất thuận lợi cho người nộp thuế, nộp cùng một thời điểm trên cùng một mẫu.
Trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp thu nhập tính thuế nhân với thuế suất sẽ tạm nộp thuế thu nhập cá nhân theo tháng, quý trên cùng hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng.
"Để hỗ trợ hộ, cá nhân kinh doanh có thể kê khai dễ dàng và thuận lợi nhất ngay trong kỳ kê khai đầu tiên, hồ sơ khai thuế của các tháng 1, 2 và 3 năm nay đối với hộ có doanh thu trên 50 tỉ đồng/năm sẽ nộp chậm nhất là ngày 20-4", bà Chinh nhấn mạnh.
Bà cũng nói thêm trường hợp đã khai thuế, nộp thuế theo Thông tư 40 thì người nộp thuế không phải điều chỉnh lại. Những hộ chưa khai thuế sẽ thực hiện kê khai theo quy định, thủ tục mới tại Thông tư 18 và không bị xử phạt.
Một nội dung nữa được bà Chinh lưu ý là quy định hộ kinh doanh phải thông báo bằng phương thức điện tử cho cơ quan thuế tất cả tài khoản ngân hàng, ví điện tử liên quan đến hoạt động kinh doanh. Tất cả các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, kể cả nhóm có doanh thu chưa đến mức phải nộp thuế phải thực hiện quy định này.
"Việc thông báo tài khoản phục vụ kinh doanh sẽ giúp hộ kinh doanh minh bạch dòng tiền, chứng minh dòng tiền để vay vốn, kêu gọi đầu tư. Trên cơ sở minh bạch dòng tiền, cơ quan thuế cũng có tờ khai gợi ý về thuế cho hộ kinh doanh" - bà Chinh trao đổi.
Về sử dụng hóa đơn, theo quy định hộ có doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm phải sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế.
Trường hợp hộ có doanh thu trên 500 triệu đến 1 tỉ đồng/năm, người nộp thuế có nhu cầu sử dụng thì đăng ký với cơ quan thuế.
Nhằm giúp hộ, cá nhân kinh doanh hiểu chính sách thuế và thực hiện đúng ngay từ đầu, cơ quan thuế đã biên soạn sổ tay hướng dẫn để hỗ trợ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh khai, nộp thuế, sử dụng hóa đơn điện tử…
Tính đến nay Việt Nam đã tham gia khoảng 20 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 16 FTA đã được thực thi trong thời gian dài.
Các FTA thế hệ mới như CPTPP (Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) hay EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu) mở ra cơ hội lớn khi nhiều thị trường áp thuế nhập khẩu gạo ở mức 0% hoặc rất thấp.
Tuy nhiên thực tế cho thấy xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống trong khu vực như Philippines và Indonesia - những quốc gia áp thuế nhập khẩu khá cao - lần lượt khoảng 35% và 25%.
Đáng chú ý trong khuôn khổ RCEP (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực), Philippines không tự do hóa ngành gạo, còn Indonesia vẫn duy trì mức thuế cao. Dù vậy hai thị trường này có thời điểm chiếm tới 60% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.
Trong khi đó các thị trường thuộc CPTPP như Canada áp thuế 0% đối với gạo Việt Nam, Mexico áp 10% với gạo và 0% đối với sản phẩm từ gạo. Đặc biệt theo EVFTA, Liên minh châu Âu dành hạn ngạch 80.000 tấn gạo/năm được miễn thuế, nhưng Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết cơ hội này.
Nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên thị trường dễ tiếp cận như Philippines, Indonesia do khoảng cách địa lý gần, thủ tục đơn giản. Tuy nhiên, theo các chuyên gia và doanh nghiệp, nguyên nhân không chỉ dừng lại ở việc "chọn dễ".
Ông Phạm Thái Bình - Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An (TP Cần Thơ) - cho rằng doanh nghiệp không phải không muốn vào các thị trường FTA, mà chủ yếu do thiếu đơn hàng và gặp nhiều rào cản kỹ thuật.
Theo ông Bình, các thị trường khó tính như châu Âu hay Nhật Bản yêu cầu quy trình sản xuất chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và chất lượng ổn định. Trong khi đó phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn này, nên thường lựa chọn thị trường truyền thống có điều kiện nhập khẩu dễ hơn.
"Bên cạnh đó ngành lúa gạo Việt Nam vẫn mang tính nhỏ lẻ, sản xuất phân tán, thiếu liên kết chuỗi. Việc đầu tư cho thương hiệu, công nghệ chế biến và tiêu chuẩn chất lượng còn hạn chế, khiến khả năng tiếp cận các thị trường cao cấp chưa tương xứng với tiềm năng", một doanh nghiệp ngành lúa gạo thừa nhận.
Dù dễ tiếp cận, các thị trường truyền thống lại tiềm ẩn nhiều rủi ro về giá. Theo ghi nhận, đã có thời điểm doanh nghiệp Việt Nam phải chịu lỗ khi xuất khẩu gạo sang Philippines do biến động thị trường.
Lãnh đạo một doanh nghiệp xuất khẩu gạo thừa nhận nhu cầu từ Philippines và Indonesia là "nhu cầu thực", giúp doanh nghiệp dễ tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên việc lựa chọn thị trường này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận biên lợi nhuận thấp, thậm chí rủi ro thua lỗ, trong khi áp lực về giá thường chuyển sang người nông dân.
"Ngoài ra chi phí logistics, giá xăng dầu và vật tư đầu vào tăng cao cũng ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu. Những yếu tố này khiến doanh nghiệp khó mở rộng sang các thị trường đòi hỏi đầu tư lớn về tiêu chuẩn và quy trình sản xuất", vị này nói.
Một lãnh đạo Tập đoàn Tân Long cũng cho biết hoạt động xuất khẩu gạo vẫn diễn ra bình thường, không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thuế nhập khẩu tại các thị trường. Theo vị này, doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu theo điều kiện FOB (giao hàng lên tàu), nên trách nhiệm về thuế và thủ tục nhập khẩu thuộc về đối tác nước ngoài. Do đó doanh nghiệp không trực tiếp nắm rõ mức thuế tại từng thị trường, mà chủ yếu sản xuất và bán hàng theo nhu cầu của khách hàng.
"Điều này cho thấy hoạt động xuất khẩu gạo hiện nay vẫn mang tính "theo đơn hàng", phụ thuộc nhiều vào nhu cầu thị trường, thay vì chủ động định hướng chiến lược khai thác các thị trường FTA", vị này thừa nhận.
Các chuyên gia cho rằng để tận dụng hiệu quả các FTA, ngành lúa gạo Việt Nam cần chuyển đổi mạnh sang sản xuất quy mô lớn, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu. Doanh nghiệp cần đầu tư bài bản vào chuỗi sản xuất - chế biến - xuất khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc.
Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong việc khai thác các ưu đãi từ FTA trong bối cảnh nhu cầu gạo thế giới vẫn ở mức cao, cơ hội mở rộng thị trường vẫn còn lớn. "Nếu không thay đổi cách tiếp cận, ngành gạo Việt Nam có thể tiếp tục phụ thuộc vào các thị trường "dễ tính", với giá trị gia tăng thấp và rủi ro cao", một chuyên gia khuyến cáo.