Chị N. chia sẻ cách đây 3 năm đã tiêm chất làm đầy vào hai bên hông tại một cơ sở thẩm mỹ của người quen. Theo lời tư vấn, đây là loại filler “cao cấp từ Thụy Sĩ”, có thể duy trì 7-8 năm, không cần tiêm giặm nhiều lần như các loại thông thường.
“Thấy nhiều người tiêm đẹp, không sao nên tôi cũng làm để hai bên hông nở ra, tạo cảm giác eo nhỏ hơn”, chị N. kể lại. Sau đó chị quyết định tiêm mỗi bên khoảng 100cc, tổng chi phí gần 100 triệu đồng.
Thế nhưng chỉ vài ngày sau tiêm, chị thấy đau nhức, uống thuốc giảm đau không đỡ, vùng da ở mông từ đỏ nhạt xong đỏ đậm lên. Chị quyết định đến Bệnh viện Bỏng quốc gia khám và được chẩn đoán bị viêm.
Tuy nhiên, khi đó vì sợ ảnh hưởng đến thẩm mỹ nên chị không hút hết chất làm đầy ra như bác sĩ tư vấn mà chỉ xử lý các điểm bị viêm. Một phần vì thấy nhiều bạn của mình cũng tiêm chất làm đầy tại spa đó mà không gặp vấn đề gì nên nghĩ rằng sẽ không gặp biến chứng thêm.
Ba năm sau, vùng hông của chị N. bất ngờ sưng đau trở lại, xuất hiện tụ dịch và viêm lan rộng. Lúc này chị quay lại Bệnh viện Bỏng quốc gia khi tình trạng đã biến chứng nặng.
Tại bệnh viện, qua thăm khám, xét nghiệm, chụp MRI và siêu âm, bác sĩ phát hiện hai bên đùi, hông xuất hiện nhiều ổ áp xe, viêm đỏ lan rộng, dịch mủ chảy liên tục.
TS.BS Tống Hải, Phó giám đốc Trung tâm Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Tái tạo, Bệnh viện Bỏng quốc gia (Hà Nội) – trực tiếp điều trị cho chị N., cho biết bệnh nhân nhập viện với biểu hiện đau, toàn bộ vùng đùi hai bên bị viêm, áp xe tụ dịch, sưng đỏ.
Tình trạng bệnh nhân khi nhập viện đã rất nặng, nguy cơ nhiễm khuẩn huyết. “Chúng tôi đã tiến hành loại bỏ số filler được tiêm vào, đặt ống dẫn lưu thoát dịch, sử dụng kháng sinh phổ rộng, phác đồ kháng sinh mạnh nhất”, bác sĩ Hải cho hay.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, TS.BS Tống Hải cho biết thêm bệnh nhân phải trải qua 5 lần phẫu thuật để nạo vét, dẫn lưu các ổ áp xe và loại bỏ tối đa chất làm đầy.
“Các loại filler được tiêm trước đó không đồng nhất, có loại tan nhanh, có loại tồn tại lâu như ‘mỡ nhân tạo’, khiến việc xử lý rất khó khăn. Khi viêm nhiễm xảy ra, nguy cơ lan rộng và nhiễm khuẩn huyết rất cao”, bác sĩ nói.
Sau hơn ba tuần điều trị tích cực, tình trạng toàn thân dần cải thiện, dịch giảm, vết thương sạch hơn. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn cần theo dõi và chăm sóc kéo dài để tránh tái phát.
Theo bác sĩ Hải, biến chứng nguy hiểm nhất của áp xe do chất làm đầy là nhiễm khuẩn huyết, khi vi khuẩn xâm nhập vào máu, có thể đe dọa tính mạng nếu không điều trị kịp thời.
Ngoài ra, tình trạng viêm lan rộng có thể gây hoại tử da, tạo các ổ loét lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thẩm mỹ và chức năng.
Bác sĩ Hải cho hay biến chứng sau tiêm filler phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có 4 nguyên nhân chính như chất lượng filler không đảm bảo, sử dụng sản phẩm không rõ nguồn gốc, chưa được cấp phép.
Điều kiện vô khuẩn không đảm bảo như tiêm tại cơ sở không đảm bảo vô trùng, người thực hiện không có chuyên môn y tế, đưa vi khuẩn vào cơ thể. Biến chứng có thể do tác động bên ngoài như va chạm mạnh vào vùng đã tiêm.
Ngoài ra, một số người khi sức đề kháng suy giảm, cơ thể yếu, vi khuẩn có thể bùng phát tại vùng tiêm, gây viêm và hình thành áp xe.
“Filler chỉ phù hợp với các vùng nhỏ như mũi, cằm, má, môi… Không nên sử dụng để làm đầy các vùng có diện tích lớn như ngực, mông hay hông do nguy cơ biến chứng cao”, bác sĩ Hải khuyến cáo.
Bên cạnh đó, khi sử dụng các dịch vụ thẩm mỹ cần lựa chọn cơ sở y tế được cấp phép, thực hiện bởi bác sĩ có chuyên môn về phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ. Đồng thời, cần biết rõ loại chất làm đầy được sử dụng, ưu tiên các sản phẩm có thể kiểm soát và xử lý khi xảy ra biến chứng.
Khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường như đau, sưng, đỏ, tụ dịch sau tiêm, cần đến ngay cơ sở y tế uy tín để được xử trí kịp thời, tránh nguy cơ hoại tử, nhiễm trùng máu, thậm chí tử vong.
Ngày 9-4, đoàn công tác Bộ Y tế do Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với UBND TP.HCM về kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị và kết quả thực hiện công tác dân số năm 2025 tại TP.
TS Nguyễn Văn Vĩnh Châu - Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM - cho biết sau sáp nhập, mô hình trạm y tế rất đa dạng. Có những trạm quy mô lớn, có phòng khám đa khoa, chuyên khoa, phục vụ hàng trăm bệnh nhân mỗi ngày. Cũng có những trạm nhỏ, chỉ thực hiện các chức năng cơ bản theo quy định.
Để nâng cao năng lực, Sở Y tế đã tổ chức tập huấn quản lý cho đội ngũ lãnh đạo trạm y tế, đặc biệt là những người lần đầu đảm nhận vai trò quản lý.
Bên cạnh đó, ngành y tế TP hiện đang khẩn trương nghiên cứu và đề xuất giải pháp khám sức khỏe cho mọi người dân ngay trong năm 2026.
Theo đó, TP.HCM sẽ triển khai 3 nhóm giải pháp khám sức khỏe cho hơn 15 triệu dân tại TP gồm: tổ chức khám sức khỏe phi địa giới (người dân có thể khám ở bất kỳ đâu), khám sức khỏe tại cộng đồng (khám tận nơi nhờ đội chăm sóc sức khỏe liên tục, chăm sóc nhóm nguy cơ) và thu thập dữ liệu sức khỏe sẵn có (tích hợp dữ liệu khám sức khỏe).
Để triển khai thành công cần sự vào cuộc đồng bộ của các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương cùng ngành y tế.
Chính quyền địa phương giữ vai trò quan trọng trong việc rà soát đối tượng, vận động người dân tham gia, bố trí địa điểm và phối hợp tổ chức các điểm khám phù hợp với đặc điểm từng địa bàn.
Đồng thời, cần xây dựng cơ chế tài chính linh hoạt nhưng chặt chẽ để huy động tối đa nguồn lực xã hội. Cơ chế này phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, đúng quy định, tạo điều kiện để các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập đủ điều kiện tham gia cung ứng dịch vụ khám sức khỏe.
TS Huỳnh Minh Chín - Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM - cho biết năm 2025 các chỉ tiêu dân số cơ bản được hoàn thành, một số chỉ tiêu vượt kế hoạch đề ra.
Tuy nhiên tổng tỉ suất sinh của TP vẫn ở mức thấp, đạt 1,51 con/phụ nữ, mặc dù đã có xu hướng tăng nhẹ. Đây vẫn là thách thức lớn, có nguy cơ ảnh hưởng đến cơ cấu dân số và nguồn lao động trong tương lai.
Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên đánh giá TP.HCM đã triển khai Nghị quyết 72 đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên để hoàn thành các mục tiêu, đặc biệt trong nâng cao năng lực y tế cơ sở và chăm sóc sức khỏe toàn dân, TP cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường nguồn lực trong thời gian tới.
Liên quan đến khám sức khỏe định kỳ, Thứ trưởng Bộ Y tế lưu ý cần thống nhất cách hiểu và cách làm. Đây không phải là các gói khám chuyên sâu, mà chủ yếu là sàng lọc ban đầu, qua đó phát hiện sớm yếu tố nguy cơ, phân tích để xác định các vấn đề sức khỏe nổi bật và triển khai can thiệp phù hợp.
Tránh tình trạng triển khai dàn trải, hình thức, gây tốn kém nhưng hiệu quả thấp. Việc tổ chức khám phải phù hợp điều kiện từng địa phương, kết hợp sử dụng thiết bị y tế cơ động khi cần thiết và tăng cường hỗ trợ chuyên môn giữa tuyến cơ sở với tuyến trên.
Ngoài ra, TP.HCM cần có các chính sách đủ mạnh để khuyến khích sinh con, như hỗ trợ nhà ở, giáo dục, chi phí nuôi dưỡng… thay vì chỉ dừng ở tuyên truyền, qua đó duy trì mức sinh hợp lý và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Ngày 12-4, Hội Ung thư Việt Nam phối hợp với AstraZeneca Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch”.
Tại hội thảo, TS.BS Diệp Bảo Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM - cho biết ung thư phổi tiếp tục là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam cũng như toàn cầu.
Theo số liệu Globocan 2022 và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hằng năm nước ta ghi nhận hơn 24.000 ca ung thư phổi mới (đứng thứ 3 trong các loại ung thư) và gần 22.600 ca tử vong vì bệnh này (đứng thứ 2 về số ca tử vong do ung thư).
Mặc dù có nhiều tiến bộ, việc tiếp cận các phương pháp điều trị ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, với tỉ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn còn cao, tạo ra gánh nặng rất lớn. Theo thống kê, có tới 84% bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, chỉ khoảng 16% được phát hiện sớm.
TS.BS Phạm Xuân Dũng - Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM - cũng cho hay ung thư phổi đang có xu hướng gia tăng cả về số ca mắc mới lẫn tử vong, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, tiệm cận trình độ khu vực và thế giới trong các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. Tuy nhiên thách thức lớn vẫn nằm ở việc nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt với những trường hợp bệnh tiến xa, ít còn lựa chọn điều trị khả quan.
Từ cuối thế kỷ 20 và trong hai thập niên đầu thế kỷ 21, điều trị ung thư phổi đã có bước chuyển mình với sự xuất hiện của hai “vũ khí” quan trọng: liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch.
Khi được kết hợp với các phương pháp truyền thống như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, những tiến bộ này đã làm thay đổi đáng kể cách tiếp cận và tiên lượng bệnh.
“Trước đây, với ung thư phổi giai đoạn muộn đã di căn, thời gian sống thêm thường dưới 12 tháng. Tuy nhiên hiện nay, không hiếm trường hợp bệnh nhân có thể sống thêm 2 - 4 năm. Điều này cho thấy chúng ta đang tiến gần hơn đến mục tiêu cá thể hóa trong điều trị ung thư”, BS Dũng nói.
Tương tự, BS Tuấn cho biết các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
“Nếu chỉ điều trị bằng hóa trị, thời gian sống người mắc ung thư phổi ở giai đoạn 4 thường chỉ khoảng 8 - 9 tháng. Trong khi đó, với liệu pháp miễn dịch có thể tăng thời gian sống lên khoảng 33 tháng”, BS Tuấn so sánh.
Theo các chuyên gia, các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đẩy mạnh các xét nghiệm di truyền và sinh học phân tử, phát triển các liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn ngày, cũng như đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân.
Liên quan đến việc bãi trông giữ phương tiện tại khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (Hà Nội) bị xử phạt vì thu phí vượt quy định, phía bệnh viện đã có phản hồi chính thức nhằm làm rõ trách nhiệm.
Cụ thể, đại diện Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn cho biết, khu vực trông giữ phương tiện nằm bên ngoài cổng bệnh viện không do đơn vị quản lý hay vận hành. Các hoạt động tại điểm trông giữ xe này thuộc phạm vi quản lý của đơn vị khác, không thuộc thẩm quyền kiểm soát của bệnh viện.
Theo thông tin từ bệnh viện, thời gian gần đây xuất hiện một số phản ánh của người dân liên quan đến việc thu phí tại khu vực này, dẫn đến hiểu lầm rằng đây là bãi xe của bệnh viện.
Trước thực tế đó, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn đã phát đi thông báo chính thức để tránh những hiểu lầm từ phía người dân, đồng thời khẳng định không liên quan đến hoạt động trông giữ phương tiện đang bị xử phạt.
Bệnh viện cũng khuyến cáo người dân, người bệnh và người nhà bệnh nhân khi đến khám, chữa bệnh cần lựa chọn các điểm trông giữ phương tiện đúng quy định, tránh gửi xe tại những điểm không rõ đơn vị quản lý.
Trong trường hợp phát hiện các dấu hiệu thu phí sai quy định hoặc có bất thường, người dân nên kịp thời phản ánh tới cơ quan chức năng có thẩm quyền để được xử lý.
Đại diện bệnh viện cho rằng việc minh bạch thông tin và tăng cường giám sát các hoạt động xung quanh khu vực bệnh viện là cần thiết, nhằm đảm bảo trật tự, tránh gây ảnh hưởng đến người bệnh và người dân khi đến khám, chữa bệnh.