Dự thảo hồ sơ chính sách sửa đổi Bộ luật Hình sự đang được Bộ Công an xây dựng, lấy ý kiến công khai đến hết ngày 7/5, trước khi trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XVI. Trong số các đề xuất đang được xem xét, có nội dung mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền với một số tội danh.
Cụ thể, hình phạt tiền sẽ được mở rộng thêm với một số trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, và cả một số trường hợp rất nghiêm trọng trong các nhóm tội nhất định do Bộ luật quy định.
Hiện, dự thảo chưa liệt kê cụ thể các tội danh thuộc diện mở rộng này.
Ngoài ra, khi áp dụng phạt tiền thay vì phạt tù, người phạm tội phải thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Lý do nên phạt tiền thay phạt tù
Theo cơ quan soạn thảo, Bộ luật Hình sự hiện xác định phạt tiền là một trong các hình phạt chính. Chiến lược cải cách tư pháp và các quan điểm về phòng, chống tham nhũng cũng ưu tiên thu hồi tài sản bị thất thoát. Tuy nhiên, Bộ luật hiện chưa đặt ra chuẩn cứng, khi nào được phạt tiền, khi nào phải phạt tù, mà vẫn dừng ở quy định mang tính “có thể”, khiến chính sách hình sự vẫn nghiêng về trừng phạt hơn là phục hồi.
Theo đề xuất, khi sửa đổi, Bộ luật Hình sự sẽ tiến thêm một bước từ “cho phép”, “có thể” sang quy định chặt chẽ hơn, giúp tòa án có căn cứ pháp lý minh bạch khi áp dụng hình phạt tiền thay vì phạt tù.
Theo Bộ Công an, chính sách mở rộng các tội danh được áp dụng phạt tiền thay vì phạt tù sẽ giúp giảm chi phí giam giữ, quản lý trại giam, đồng thời tăng nguồn thu ngân sách từ các vụ án có động cơ vụ lợi.
Với xã hội và doanh nghiệp, chính sách này giúp người phạm tội, đặc biệt là người phạm tội lần đầu, ít nguy hiểm, có điều kiện duy trì việc làm, chăm sóc gia đình và tái hòa nhập tốt hơn. Đối với doanh nghiệp, việc áp dụng phạt tiền thay tù cũng giảm rủi ro đứt gãy lao động và quản trị khi người quản lý vi phạm các lỗi có thể xử lý bằng tiền mà không cần cách ly khỏi xã hội.
Tuy nhiên, để chính sách thực sự hiệu quả, Nhà nước cần đầu tư thêm cơ chế xác minh tài sản, thu nhập, tránh tình trạng bản án đã tuyên nhưng khó thi hành do người phạm tội tẩu tán tài sản.
Nhiều người đã được chuyển từ án tù sang phạt tiền
Trước đó, trong một số vụ án, các bị cáo đã được chuyển từ án tù sang phạt tiền, khi xét hậu quả đã được khắc phục xong.
Như vụ án xảy ra tại Tập đoàn FLC, tại giai đoạn sơ thẩm, 14 bị cáo gồm Chủ tịch HĐQT Trịnh Văn Quyết, 2 em gái, cùng 11 lãnh đạo, nhân viên của doanh nghiệp này, đều bị tuyên 2-3 năm tù về tội Thao túng thị trường chứng khoán với số tiền chiếm đoạt 700 tỷ đồng.
Nhưng tại giai đoạn phúc thẩm, HĐXX ghi nhận toàn bộ hậu quả đã được khắc phục, có người khắc phục thừa, cộng thêm các yếu tố sức khỏe, nhân thân… Do đó, cả 14 bị cáo đều được tòa chuyển án phạt tù sang phạt tiền. Người thấp nhất bị phạt 2 tỷ đồng, cao nhất là ông Quyết, bị phạt 4 tỷ đồng.
Theo tòa, hình phạt tiền với tội danh này “cũng đã đủ tác dụng răn đe, giáo dục” đối với bị cáo, đồng thời thể thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật đối với những người phạm tội.
Trong vụ án khác được TAND khu vực 10, tỉnh Đăk Lăk xét xử tháng 12/2025, liên quan hành vi Trốn thuế, 5 bị cáo thuộc các doanh nghiệp khác nhau đã móc nối, mua bán 47 hóa đơn giá trị gia tăng để hợp thức hóa số hàng hóa không rõ nguồn gốc. Các bị cáo sau đó dùng hóa đơn đã mua để kê khai, báo cáo thuế đầu vào để được khấu trừ và giảm thuế cho doanh nghiệp, với số tiền mỗi người bị cáo buộc từ 160-580 triệu đồng.
Với khung hình phạt được quy định tại Điều 200, Bộ Luật Hình sự, các bị cáo bị truy tố ở 2 khung phạt: phạt tiền từ 100 đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm; hoặc phạt tiền từ 500 triệu đến 1,5 tỷ đồng hoặc phạt tù 1-3 năm.
Nhưng tương tự vụ tập đoàn FLC, HĐXX xét thấy toàn bộ hậu quả đã được khắc phục, bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị bệnh hiểm nghèo… để tuyên cả 5 bị cáo hình phạt tiền, mỗi người 175-325 triệu đồng, thay vì án tù.
Ngoài ra, tại dự thảo, Bộ Công an cũng đề xuất bổ sung một số tội danh, hành vi mới chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự; mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại; điều chỉnh tăng, giảm ngưỡng tài sản để truy cứu trách nhiệm hình sự với một số tội.
Bên cạnh đó, Bộ Công an cũng đề xuất giảm các tội áp dụng án tử hình, đồng thời tăng gấp đôi tiền phạt với các tội liên quan kinh doanh, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm nhằm tăng tính công bằng, nhân đạo và khuyến khích người phạm tội khắc phục hậu quả.
Ngày 14/4, Trường, 48 tuổi, bị tổ trinh sát Công an tỉnh An Giang đón lỏng, bắt tại xã Châu Thành, TP Cần Thơ sau 10 ngày trốn chạy.
Nạn nhân là ông Nguyễn Văn Tuốl, 59 tuổi, sống một mình trong căn trọ gần sân bay Phú Quốc. Hôm 4/4, người dân phát hiện thi thể ông sau khi ngửi thấy mùi lạ từ phòng trọ.
Nạn nhân bị đâm gần 30 nhát. Hiện trường không tìm thấy hung khí, khu vực này khá vắng vẻ. Nạn nhân có mối quan hệ phức tạp, gây khó khăn cho công tác điều tra ban đầu.
Hàng chục mũi trinh sát truy lùng hung thủ
Vụ án gây hoang mang dư luận nên thiếu tướng Nguyễn Văn Hận, Giám đốc Công an tỉnh An Giang, chỉ đạo lập chuyên án.
Từ hiện trường, ban chuyên án thu được một con dao quéo và cán dao dính máu, bọc trong khăn tắm, vứt cách nơi xảy ra án mạng khoảng 200 m. Thượng tá Nguyễn Chí Nguyện, Trưởng phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh An Giang, cho biết các dấu vết trên hung khí cho thấy nghi phạm không thuộc nhóm người nghiện ma túy, hay lui tới nhà nạn nhân.
Một mũi điều tra dựng lại lộ trình di chuyển của ông Tuốl, xác định ngày 31/3, ông gặp một thanh niên lạ tại khu vực vòng xoay số 10, sau đó cả hai đi chung xe về phòng trọ.
Người dân nhận ra thanh niên này nhưng cho biết gã mới xuất hiện, không rõ lai lịch, nơi ở. Từ nguồn tin tố giác và hình ảnh thu thập được, công an xác định nghi phạm đã rời Phú Quốc bằng tàu cao tốc với thân phận giả.
Tiếp tục rà soát các mối quan hệ, trinh sát làm rõ nhân thân của Trường. Trong quá trình bỏ trốn, nghi phạm liên tục xóa dấu vết, từng về nhà ở Vị Thanh, TP Cần Thơ xin tiền người thân. Các mũi trinh sát sau đó khép chặt hướng di chuyển, đón lõng và bắt giữ.
Lời nhận tội còn nhiều 'điểm mờ'
Tại cơ quan điều tra, Trường khai mới quen ông Tuốl tại cửa hàng bán dưa ở khu vực vòng xoay số 10. Thời điểm đó, Trường mang theo dao quéo, dự định tìm một người có mâu thuẫn trước đó nhưng không gặp.
Sau khi quen, Trường nhận lời đến phòng trọ của ông Tuốl nhậu. Tại đây, hai người phát sinh quan hệ, ông Tuốl hứa cho 200.000 đồng nhưng không giữ lời. Trong lúc cãi vã, ông Tuốl dùng dao tấn công, Trường chống trả, dùng hung khí mang theo chém nhiều nhát.
Gây án xong, nghi phạm thay quần áo, vứt hung khí trên đường bỏ trốn.
Thi thể chỉ được tình cờ phát hiện vào 5 tháng sau đó, năm 1973. Garrow bị xét xử vào hè 1974, bị kết án tù chung thân với thời hạn tối thiểu là 25 năm sau khi thừa nhận giết 4 người.
Khi bị phát hiện đã giữ bí mật thông tin, hai luật sư Frank H. Armani và Francis Belge phải đối mặt với các cáo buộc hình sự và nguy cơ bị tước quyền hành nghề luật sư.
Armani và Belge tuyên bố bị ràng buộc bởi nghĩa vụ bảo mật "không được tiết lộ thông tin có thể buộc tội thân chủ".
Tòa án quận New York chấp nhận điều này, cho rằng "vì lợi ích công lý". Theo tòa án, khi mối quan hệ giữa luật sư và thân chủ được bảo mật thì tư vấn pháp lý mới đạt hiệu quả cao. Nếu không thể nắm được tất cả thông tin về vụ án, luật sư chỉ có thể bào chữa cho thân chủ một cách nửa vời. Điều này tất yếu bao gồm việc kể cho luật sư mọi thứ có liên quan đến tội ác.
Armani và Belge được tuyên vô tội. Công tố viên kháng cáo.
Tòa phúc thẩm ủng hộ phán quyết của tòa sơ thẩm, nhưng bày tỏ lo ngại về đặc quyền luật sư - thân chủ không có giới hạn. Tòa lưu ý các luật sư dù bảo vệ thân chủ nhưng cũng phải "tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của con người".
Vụ án này đã trở thành ví dụ điển hình trong các khóa học đạo đức pháp lý. Nó nêu bật nghĩa vụ đạo đức của luật sư trong việc giữ bí mật thông tin của thân chủ, đồng thời giúp định hình sự phát triển của các quy tắc đạo đức về tính bảo mật.
Ở các nước theo hệ thống Thông luật (Common Law) như Mỹ, Canada hay Australia, đặc quyền bảo mật giữa luật sư và thân chủ (attorney-client privilege) được xem là nguyên tắc nền tảng.
Theo đó, quyền bảo mật là quyền của thân chủ từ chối tiết lộ và ngăn chặn bất kỳ người nào khác tiết lộ các thông tin trao đổi bí mật giữa thân chủ với luật sư.
Tòa án Tối cao Mỹ cho rằng bằng cách đảm bảo tính bảo mật, đặc quyền này khuyến khích thân chủ tiết lộ "đầy đủ và thẳng thắn" cho luật sư của họ, nhờ đó luật sư có thể đưa ra lời khuyên công bằng và hiệu quả hơn.
Theo Hiệp hội Luật sư Mỹ (ABA), quyền bảo mật giữa luật sư và thân chủ là điều kiện thiết yếu để đảm bảo quyền được xét xử công bằng trong mọi hệ thống pháp luật hiện đại.
Vì vậy, trong đa số trường hợp, luật sư không được tiết lộ thông tin của thân chủ và không có nghĩa vụ tố giác hành vi phạm tội đã xảy ra, mọi thông tin trao đổi phục vụ tư vấn pháp lý được giữ kín. Tuy nhiên, quyền bảo mật không phải là "lá chắn" tuyệt đối.
Trên thực tế, luật sư có thể hoặc buộc phải tiết lộ thông tin khi tội phạm đang và sắp xảy ra có nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng; bị thân chủ lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội; phải báo cáo theo luật riêng (đặc biệt trong lĩnh vực tài chính).
Tại Mỹ, trong vụ án United States v. Zolin, Tòa án Tối cao cho phép tòa án xem xét tài liệu bảo mật nếu có dấu hiệu thân chủ sử dụng luật sư để thực hiện gian lận. Nguyên tắc này được gọi là "ngoại lệ tội phạm - gian lận" (crime-fraud exception).
"Ngoại lệ tội phạm - gian lận" có thể khiến đặc quyền trở nên vô hiệu khi các cuộc trao đổi giữa luật sư và thân chủ được sử dụng để thúc đẩy một tội phạm, hành vi sai trái hoặc gian lận.
Trong vụ án Clark v. United States, Tòa án Tối cao Mỹ tuyên bố: "Một thân chủ tham khảo ý kiến luật sư để được tư vấn nhằm phục vụ cho việc thực hiện hành vi gian lận sẽ không nhận được sự giúp đỡ từ pháp luật. Anh ta phải để sự thật được nói ra".
Tại Anh, nguyên tắc này đã xuất hiện từ rất sớm trong vụ R v. Cox and Railton (1884), tòa án khẳng định quyền bảo mật không bảo vệ các trao đổi nhằm mục đích gian lận. Nếu một người tham khảo ý kiến luật sư để thực hiện mục đích phạm tội thì bất kể luật sư có cố ý hỗ trợ việc thực hiện mục đích đó hay không, các cuộc trao đổi giữa thân chủ và luật sư không được hưởng đặc quyền bảo mật.
Trong các nước thuộc Liên minh châu Âu, quyền bảo mật được ưu tiên khi bào chữa hoặc tư vấn pháp lý, nhưng khi tham gia giao dịch tài chính, luật sư có thể phải báo cáo giao dịch đáng ngờ theo luật chống rửa tiền.
Tại Trung Quốc, quyền bảo mật không được công nhận đầy đủ như trong hệ thống Thông luật. Luật sư vẫn có nghĩa vụ giữ bí mật nghề nghiệp, nhưng có thể bị yêu cầu cung cấp thông tin, nghĩa vụ hợp tác với cơ quan điều tra được đặt cao hơn.
Điều 46 của Luật Tố tụng Hình sự Trung Quốc quy định: "Luật sư bào chữa có quyền giữ bí mật các tình tiết và thông tin liên quan đến thân chủ mà họ biết được trong quá trình hành nghề. Tuy nhiên, nếu luật sư bào chữa biết được trong quá trình hành nghề rằng thân chủ hoặc bất kỳ người nào khác đang chuẩn bị hoặc đang thực hiện hành vi phạm tội gây nguy hại đến an ninh quốc gia, an ninh công cộng hoặc gây nguy hiểm nghiêm trọng đến an toàn cá nhân của người khác, phải kịp thời thông báo cho cơ quan tư pháp".
Dù có điểm khác nhau, các hệ thống đều hướng tới một mục tiêu chung: đảm bảo mọi người - kể cả người bị buộc tội - có quyền được bào chữa công bằng. Trong cấu trúc đó, luật sư không phải người phán xét mà là người bảo vệ quy trình công lý.
Ranh giới không nằm ở việc biết hay không biết sự thật mà ở việc luật sư có trở thành một phần của hành vi phạm tội hay không. Nếu vượt ranh giới, như giúp tiêu hủy chứng cứ, họ có thể bị truy tố như đồng phạm, toàn bộ "lá chắn đặc quyền" lập tức sụp đổ.
Ngày 21/4, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp vừa kết luận điều tra vụ án hình sự, chuyển hồ sơ sang VKSND tỉnh Đồng Tháp đề nghị truy tố 10 bị can có đội tuổi từ 24 đến 54.
Các đối tượng bị đề nghị truy tố gồm: Lê Thành An, Mai Tứ Quý, Nguyễn Tấn Tài, Lê Hữu Văn, Nguyễn Quốc Duy, Nguyễn Nhựt Hào, Nguyễn Hải Băng, Trần Hoài Hiếu, Võ Ngọc Thuận, Châu Phi Đạt về tội Chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng.
Kết quả điều tra xác định, từ năm 2023 đến 2025, các bị can đã sử dụng các mạng xã hội như YouTube, Facebook, TikTok để tìm kiếm, liên hệ và đặt mua súng nén khí, súng ngắn cùng hàng nghìn viên đạn các loại.
Sau khi có được vũ khí, các bị can đã tàng trữ tại nhà riêng, chòi giữ vườn hoặc gửi nhờ người khác cất giữ; đồng thời sử dụng để bắn chim và mua bán lại nhằm mục đích kiếm lời.
Đáng chú ý, một số đối tượng còn thực hiện sửa chữa, thay thế linh kiện, nâng cấp súng nhằm tăng hiệu năng sử dụng trước khi bán lại cho người khác.
Hành vi của các bị can là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí của Nhà nước, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Theo cơ quan chức năng, từ ngày 1/1/2025, súng nén khí, đạn sử dụng cho súng nén khí và nhiều loại vũ khí khác (như súng bắn đạn ghém, súng nén hơi…) được quy định là vũ khí quân dụng, hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép các loại vũ khí nêu trên sẽ bị xử lý theo Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Do đó, mỗi người dân hãy nêu cao ý thức chấp hành pháp luật, tuyệt đối không được chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép các loại vũ khí quân dụng; tích cực tố giác, đấu tranh đối với các hành vi vi phạm có liên quan đến vũ khí quân dụng và tự giác giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ tại các điểm tiếp nhận, thu gom của công an xã, phường nơi cư trú.