Mục Lục
ToggleTheo ThS.BS Bùi Thị Duyên, Phó trưởng Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Quân y 175, thời điểm ăn uống quan trọng không kém chất lượng bữa ăn. Cơ thể vận hành theo nhịp sinh học, trong đó khả năng chuyển hóa năng lượng thay đổi theo từng thời điểm trong ngày.
Vào buổi tối, độ nhạy insulin giảm, cơ thể xử lý glucose kém hiệu quả. Nếu ăn muộn, đặc biệt là nhiều tinh bột hoặc chất béo, phần năng lượng dư thừa dễ chuyển thành mỡ tích trữ.
Nghiên cứu trên Cell Metabolism cho thấy người ăn muộn sẽ giảm cân kém hiệu quả hơn dù cùng chế độ ăn. Nghiên cứu khác trên Obesity cũng ghi nhận việc tiêu thụ nhiều năng lượng vào buổi tối làm tăng đề kháng insulin và nguy cơ rối loạn chuyển hóa.
Không chỉ ảnh hưởng cân nặng, ăn tối muộn còn tác động xấu đến hệ tiêu hóa và giấc ngủ. Ăn sát giờ ngủ khiến dạ dày vẫn phải hoạt động khi cơ thể nghỉ ngơi, làm tăng nguy cơ trào ngược dạ dày – thực quản, đầy bụng và khó ngủ. Theo American Journal of Gastroenterology, ăn trong vòng 3 giờ trước khi ngủ làm tăng đáng kể nguy cơ trào ngược.
Về lâu dài, thói quen ăn muộn còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính. Báo cáo của Endocrine Society cho thấy ăn muộn có thể làm tăng đường huyết, giảm khả năng đốt mỡ, từ đó góp phần gây hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường type 2 và bệnh tim mạch.
Bác sĩ khuyến cáo nên ăn trước giờ ngủ ít nhất 2-3 giờ. Tránh bữa tối quá nhiều năng lượng, đặc biệt là đồ chiên, nhiều đường. Hạn chế ăn sau 22h.
Tin Gốc: Vnexpress

"Trẻ béo phì có thể phát triển xương sớm, dậy thì sớm nhưng lại dừng phát triển chiều cao sớm, là lý do ban đầu cao lớn hơn bạn bè nhưng bị 'vượt mặt' khi bước vào tuổi trưởng thành", TS Phan Bích Nga, Chủ tịch Chi hội Dinh dưỡng Nhi khoa, nói tại hội thảo Cập nhật các khuyến nghị về vi chất dinh dưỡng trong tăng trưởng chiều cao ở trẻ em", hôm 18/4 tại Hà Nội.
Tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em Việt Nam đang tăng nhanh. Giai đoạn 2010 đến 2020, tỷ lệ này ở trẻ dưới 5 tuổi tăng từ 5% lên 8%. Ở nhóm 5 đến 18 tuổi, con số tăng hơn gấp đôi, từ 7% lên 19%, tập trung nhiều ở lứa tuổi học sinh trung học.
Theo TS Nga, bản chất của béo phì không chỉ là "thừa chất" mà là thừa năng lượng. Khi cơ thể dư thừa năng lượng sẽ xảy ra cơ chế cạnh tranh giữa các tế bào, trong đó tế bào mỡ được ưu tiên phát triển, kéo theo nhiều hệ lụy. Quá trình hấp thu canxi bị ức chế, trong khi hoạt động hủy xương lại gia tăng. Hệ xương vì thế suy yếu, không đủ điều kiện để phát triển chiều cao tối ưu.
Ngoài ra, một trong những hệ quả rõ rệt nhất của béo phì ở trẻ là dậy thì sớm. Khi bước vào dậy thì, cơ thể sẽ tăng trưởng nhanh trong một thời gian ngắn. Nhưng đồng thời, các đầu xương cũng bắt đầu đóng lại. Nếu quá trình này diễn ra sớm, "cửa sổ vàng" để phát triển chiều cao cũng khép lại sớm.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Thị Thu Hậu, Bệnh viện Nhi đồng 2, cũng cho hay béo phì ảnh hưởng đến thể chất, tâm lý và chuyển hóa. Đặc biệt, nó gây tích lũy mỡ và làm giảm khối xương và cơ, giảm cơ hội đạt chiều cao tiềm năng tối đa. Vì vậy, trẻ béo phì cần được can thiệp dinh dưỡng và vận động nhằm tăng chiều cao và tăng khối lượng xương.
Cụ thể, trẻ cần giảm đường, giảm chất béo no, cung cấp đủ canxi, vitamin D, vitamin K2 và các yếu tố hỗ trợ xương như đủ đảm, arginine giúp cải thiện sức khỏe xương. Khuyến khích trẻ vận động trung bình - mạnh ít nhất 60 phút mỗi ngày, tối thiểu 3 ngày/tuần có hoạt động cường độ cao, giảm thời gian tĩnh tại (không tính thời gian học) dưới 2 giờ/ngày.
Tình trạng béo phì chỉ là một trong 4 gánh nặng dinh dưỡng mà trẻ em Việt Nam đang đối mặt, bên cạnh suy dinh dưỡng, thiếu vi chất và gia tăng bệnh không lây nhiễm liên quan đến chế độ ăn uống. PGS Phạm Ngọc Khái, Chủ tịch Hội Dinh dưỡng Việt Nam, cho hay hiện khoảng 20% trẻ em có chiều cao thấp hơn chuẩn, phản ánh tình trạng phát triển chưa tối ưu còn phổ biến. Vì vậy, cần một chiến lược liên ngành, kết hợp dinh dưỡng, y tế và các yếu tố xã hội.
Tầm vóc người Việt có nhiều thay đổi trong những năm qua nhưng vẫn thuộc top thấp, đứng thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á với chiều cao trung bình nam giới 168,1 cm, còn nữ 156,2 cm. So với các nước Đông Nam Á, chiều cao của người Việt sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Trước đây 10 năm, người Việt đứng gần thấp nhất trong khu vực, chỉ nhỉnh hơn người Indonesia và Philippines.
Các chuyên gia nhấn mạnh để cải thiện tầm vóc người Việt, chìa khóa không chỉ ăn đủ mà còn phải ăn đúng, cân đối giữa năng lượng và vi chất, đồng thời kết hợp vận động hợp lý.
Tin Gốc: Vnexpress

Vì vậy, việc lựa chọn xoài hay dưa hấu cần dựa trên tổng thể giá trị dinh dưỡng, đặc biệt với người tiền tiểu đường hoặc kháng insulin, theo trang NDTV (Ấn Độ).
Tăng đường huyết là tình trạng lượng đường trong máu tăng sau khi ăn, và mức tăng này phụ thuộc nhiều vào khẩu phần cũng như cách kết hợp thực phẩm. Nếu ăn nhiều xoài cùng lúc, đường huyết có thể tăng mạnh.
Xoài khi ăn cùng chất đạm hoặc chất béo sẽ giúp làm chậm quá trình hấp thu đường. Ngoài ra, xoài hơi xanh cũng có xu hướng làm đường huyết tăng chậm hơn so với xoài chín.
Trong khi đó, dưa hấu chứa nhiều loại đường dễ hấp thu nên thường khiến đường huyết tăng nhanh hơn. Tuy vậy, nếu ăn với lượng hợp lý, dưa hấu vẫn mang lại nhiều lợi ích dinh dưỡng.
Chỉ số đường huyết (GI) phản ánh tốc độ làm tăng đường trong máu sau khi ăn, trong khi tải lượng đường huyết (GL) cho biết mức độ ảnh hưởng thực tế dựa trên cả khẩu phần. Vì vậy, GL thường được xem là chỉ số đánh giá toàn diện hơn.
Nghiên cứu đăng trên Current Developments in Nutrition cho thấy xoài có thể làm tăng đường huyết tùy thuộc vào độ chín và lượng ăn.
Xoài có chỉ số GI ở mức trung bình nhưng lại chứa nhiều carbohydrate. Dù vậy, lượng chất xơ trong xoài có thể giúp làm chậm quá trình hấp thu đường, hiệu quả này sẽ khác nhau tùy vào loại xoài và khẩu phần.
Với lượng ăn hợp lý, xoài vẫn có thể nằm trong chế độ ăn hằng ngày, đặc biệt trong thời tiết nắng nóng.
Theo bài tổng quan trên Diabetes Research and Clinical Practice, dưa hấu có chỉ số GI cao nhưng lại chứa nhiều nước.
Điều này đồng nghĩa với việc đường trong dưa hấu được hấp thu nhanh hơn, dù tổng lượng carbohydrate trong mỗi khẩu phần không quá lớn.
Xét về tốc độ, xoài có xu hướng làm đường huyết tăng chậm hơn so với dưa hấu. Tuy nhiên, xoài chín lại chứa tổng lượng đường cao hơn.
Ngược lại, dưa hấu có tổng lượng đường thấp hơn trong mỗi khẩu phần nếu kiểm soát tốt lượng ăn, dù tốc độ hấp thu nhanh hơn.
Ông Luke Coutinho, chuyên gia sức khỏe tại Ấn Độ, khuyến nghị mỗi lần chỉ nên ăn một quả xoài nhỏ hoặc nửa quả xoài lớn. Ăn quá nhiều vẫn có thể làm tăng đường huyết do hàm lượng fructose.
Khẩu phần hợp lý là yếu tố quan trọng giúp kiểm soát đường huyết. Kết hợp trái cây với thực phẩm giàu đạm hoặc chất xơ cũng giúp làm chậm hấp thu đường.
Ngoài ra, nước ép trái cây thường khiến đường huyết tăng nhanh hơn nên cần hạn chế. Ăn trái cây sau bữa chính cũng giúp đường huyết tăng chậm hơn so với khi ăn lúc đói.
Mỗi loại trái cây đều có lợi ích riêng. Quan trọng không phải chỉ là chọn loại nào, mà còn là cách ăn và lượng ăn.
Một chế độ ăn cân bằng, hợp lý sẽ giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn và duy trì sức khỏe ổn định trong mùa nóng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Thạc sĩ - bác sĩ nội trú Ngô Thanh Hùng,Trường đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết đi bộ, chạy bộ đều thuộc nhóm bài tập hiếu khí (aerobic), nhưng chúng khác biệt rõ rệt về động lực học, cường độ trao đổi chất và áp lực lên hệ cơ xương khớp. Sự lựa chọn giữa đi bộ và chạy bộ không đơn thuần là một câu hỏi về sở thích, mà là một quyết định lâm sàng dựa trên tình trạng sinh lý, mục tiêu chuyển hóa và khả năng chịu đựng chấn thương của từng cá nhân.
Sự khác biệt cơ bản nhất về mặt lâm sàng nằm ở giai đoạn bay (flight phase). Trong đi bộ, luôn có ít nhất 1 chân tiếp xúc với mặt đất tại mọi thời điểm, trong khi chạy bộ bao gồm một khoảng thời gian ngắn mà 2 chân đều rời khỏi mặt đất. Khi chân tiếp đất sau giai đoạn bay, cơ thể phải hấp thụ một lực phản hồi từ mặt đất cực lớn. Nghiên cứu cho thấy lực này trong đi bộ chỉ dao động từ 1 đến 1,5 lần trọng lượng cơ thể, nhưng trong chạy bộ, nó có thể tăng vọt lên mức 2,5 đến 3,5 lần trọng lượng cơ thể. Áp lực này tác động trực tiếp lên sụn khớp, dây chằng và cấu trúc xương, tạo ra cả những kích thích sinh học tích cực lẫn những rủi ro chấn thương tiềm tàng.
Đơn vị tương đương chuyển hóa (MET) là một công cụ hữu hiệu để so sánh cường độ. Đi bộ nhanh (khoảng 5 - 6 km/giờ) tiêu tốn khoảng 3,5 đến 5 METs; trong khi chạy bộ (tốc độ > 8 km/ giờ) bắt đầu từ 8,0 METs và có thể vượt quá 15 METs ở các vận động viên chuyên nghiệp. Điều này giải thích tại sao chạy bộ có thể đốt cháy lượng calo gấp đôi hoặc gấp 3 lần đi bộ trong cùng một khoảng thời gian.
Việc lựa chọn đi bộ hay chạy bộ cần được cá nhân hóa dựa trên đánh giá chi tiết về tình trạng bệnh lý của người bệnh.
Người bệnh béo phì và hội chứng chuyển hóa. Đối với những người có BMI > 30, chạy bộ không phải là lựa chọn ưu tiên ban đầu do áp lực lên khớp gối và cổ chân quá lớn. Đi bộ nhanh trên mặt phẳng nghiêng là một giải pháp thay thế tốt, giúp tăng nhịp tim và tiêu thụ năng lượng như chạy bộ nhưng vẫn giữ được cơ chế tác động thấp của đi bộ. Người bệnh nên bắt đầu với 10 - 15 phút mỗi ngày và tăng dần lên 30 - 60 phút trước khi cân nhắc chuyển sang chạy bộ nhẹ nhàng.
Người cao tuổi (trên 60 tuổi). Đi bộ là tiêu chuẩn vàng cho nhóm người này. Nó không chỉ cải thiện sức khỏe tim mạch mà còn tăng cường sự thăng bằng và khả năng phối hợp, từ đó giảm nguy cơ té ngã - một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở người cao tuổi. Khuyến nghị tối thiểu là 150 phút đi bộ ở cường độ trung bình mỗi tuần, kết hợp với các bài tập sức mạnh và thăng bằng ít nhất 2 ngày mỗi tuần.
Người bệnh có bệnh lý tim mạch ổn định. Sau khi được bác sĩ chuyên khoa sàng lọc và đánh giá nguy cơ, người bệnh nên thực hiện các bài tập hiếu khí mức độ nhẹ đến trung bình. Đi bộ nhanh thường được ưu tiên vì tính an toàn và khả năng kiểm soát nhịp tim dễ dàng. Tuy nhiên, cần tham vấn y tế nếu có các dấu hiệu như đau thắt ngực không ổn định, suy tim mất bù hoặc rối loạn nhịp tim phức tạp khi có vận động thể lực ở cường độ trung bình - cao.
Người khỏe mạnh nhưng thiếu thời gian. Đối với những người trẻ bận rộn, chạy bộ là lựa chọn tối ưu về mặt hiệu suất. Chỉ cần 75 phút chạy bộ mỗi tuần có thể mang lại lợi ích sức khỏe tương đương với 150 phút đi bộ. Việc kết hợp các khoảng chạy nhanh ngắn (HIIT) vào thói quen đi bộ cũng là một cách hiệu quả để nâng cao thể tích khí lưu thông và sức bền tim phổi.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/di-bo-hay-chay-bo-tot-hon-cho-nguoi-beo-phi-185260408170701888.htm

