Mục Lục
ToggleTheo báo cáo mới nhất của Cushman & Wakefield, lĩnh vực trung tâm dữ liệu tại châu Á – Thái Bình Dương đang trải qua một sự dịch chuyển mang tính cấu trúc về chi phí phát triển, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) tăng tốc và định hình lại cách các cơ sở này được thiết kế, cấp điện và xây dựng.
Thông tin được nêu trong Cẩm nang Chi phí xây dựng Trung tâm dữ liệu tại châu Á – Thái Bình Dương 2026. Theo đó, Nhật Bản là thị trường có chi phí xây dựng cao nhất khu vực, ở mức 19,2 triệu USD/MW, tiếp theo là Singapore với 17,9 triệu USD/MW, trong khi Đài Loan ghi nhận mức thấp hơn, khoảng 7,9 triệu USD/MW.
Quy mô trung tâm dữ liệu không được đo bằng diện tích hay số lượng máy chủ, mà bằng tổng công suất điện có thể cung cấp cho hệ thống máy chủ. Vì vậy, chi phí xây dựng thường được tính theo đơn vị USD/W (USD trên mỗi watt công suất điện).
Việt Nam đang nổi lên trong làn sóng phát triển trung tâm dữ liệu tiếp theo của khu vực. Tại TP.HCM và Hà Nội, chi phí xây dựng dao động từ 5,7-8,7 triệu USD/MW, tương đương mức trung bình khoảng 7,2 triệu USD/MW.
Mức này tương đồng với ước tính trước đó của CBRE, cho rằng chi phí xây dựng trung tâm dữ liệu tại Việt Nam vào khoảng 7 USD/W.
Ông Andrew Green, Trưởng nhóm Trung tâm Dữ liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Cushman & Wakefield, nhận định nhu cầu AI đang tái định hình các tiêu chuẩn kỹ thuật của trung tâm dữ liệu, từ mật độ điện năng, hệ thống làm mát đến yêu cầu kết cấu.
Những thay đổi này kéo theo mức chi phí đầu tư tăng và có chênh lệch đáng kể giữa các thị trường, tùy thuộc vào khả năng cung ứng điện, nguồn nhân lực và điều kiện triển khai tại từng địa phương.
Khả năng tiếp cận nguồn điện ngày càng trở thành yếu tố then chốt đối với tính khả thi của các dự án trung tâm dữ liệu. Báo cáo cũng cho biết thời gian chờ để có nguồn điện mới cho dự án trung tâm dữ liệu quy mô 100MW tại các thị trường trọng điểm ở Việt Nam ước tính khoảng 2-3 năm.
Kinh Doanh
Thủ tướng: Nâng ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh lên 1 tỉ đồng để tháo gỡ khó khăn

Trên cơ sở góp ý rất xác đáng của các đại biểu Quốc hội, Thủ tướng khẳng định Chính phủ sẽ chỉ đạo tiếp thu để hoàn thiện dự thảo luật. Ông cũng đồng tình khi thời gian vừa qua công tác phối hợp hoàn thiện thể chế giữa các cơ quan của Chính phủ, Quốc hội là rất chặt chẽ.
Theo Thủ tướng, thông thường kỳ họp đầu tiên chủ yếu kiện toàn nhân sự. Với kỳ họp này, không chỉ rút ngắn thời gian, đảm bảo công tác nhân sự thực hiện chặt chẽ với sự thống nhất cao, mà Quốc hội còn đồng ý điều chỉnh chương trình nhiều vấn đề lớn, cấp bách.
“Nếu không có sự phối hợp chặt chẽ, cơ quan Chính phủ, Quốc hội khó hoàn thành khối lượng công việc lớn, bởi có nhiều việc rất phức tạp” - Thủ tướng nói.
Đơn cử như xử lý những dự án tồn đọng, ách tắc, Thủ tướng cho rằng nếu không có sự chỉ đạo của Quốc hội, các ủy ban đưa vào chương trình thì rất khó bổ sung nội dung này để tháo gỡ cho các dự án, trong khi đây là nguồn lực rất lớn.
Ông nhắc lại, ngày 9-4, Thường trực Chính phủ họp rà soát cho thấy các dự án này ách tắc kéo dài rất lâu. Sau đó ngày 10-4, Đảng ủy Chính phủ báo cáo Bộ Chính trị và đến ngày 13-4, Bộ Chính trị có kết luận. Ngay lập tức Chính phủ có tờ trình báo cáo Quốc hội để bổ sung nội dung này vào chương trình kỳ họp.
“Tôi tin với nội dung dự thảo nghị quyết tháo gỡ khó khăn vướng mắc được Quốc hội thông qua sẽ là cơ sở pháp lý rất cụ thể, rất quan trọng để địa phương triển khai. Trách nhiệm được chỉ rất rõ để lãnh đạo địa phương tổ chức thực hiện, tháo gỡ khó khăn vướng mắc, giải quyết nhanh" - Thủ tướng nói. Ông tin tưởng với kết luận của Bộ Chính trị và nghị quyết của Quốc hội giúp địa phương yên tâm hơn, dám làm, dám quyết và dám chịu trách nhiệm.
Ông cho rằng khi được tháo gỡ sẽ kịp thời đưa các nguồn lực vào, đóng góp tăng trưởng kinh tế. Từ đó tạo công ăn việc làm, tạo môi trường kinh doanh để người dân tin tưởng các cơ quan nhà nước quan tâm tháo gỡ khó khăn vướng mắc đã tồn đọng rất lớn.
Ngoài ra, Thủ tướng cho rằng những vấn đề phát sinh thời gian qua đã được Quốc hội, Chính phủ phối hợp xử lý rất nhanh. Trong đó có nội dung sửa đổi các luật về thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp.
Mặc dù các luật này mới được Quốc hội thông qua vào cuối năm 2025, nhưng thực tiễn phát sinh thời gian qua gây nên những khó khăn. Trong đó, tác động của giá xăng dầu đã ảnh hưởng tới đối tượng cần được ưu tiên, quan tâm là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh.
Vì vậy, ông nói lãnh đạo Chính phủ đã khẩn trương chỉ đạo Bộ Tài chính ngay lập tức nghiên cứu phương án báo cáo Quốc hội, đề xuất ngay trong kỳ họp này để Quốc hội thông qua điều chỉnh các luật.
Theo đó, ông cho biết hướng sửa đổi chắc chắn là sẽ nâng ngưỡng chịu thuế. Báo cáo của Bộ Tài chính, ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh là 1 tỉ đồng/năm. Tức là dưới mức thu nhập này sẽ không chịu thuế VAT và thuế thu nhập cá nhân.
Mức thuế này vừa giải quyết khó khăn cho hộ kinh doanh, nhưng cũng vừa phải tạo thuận lợi, công bằng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đồng thời khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì vậy cũng sẽ nâng ngưỡng chịu thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
“Chúng tôi tin việc áp dụng chính sách khẩn trương, kịp thời này là hữu ích, hiệu quả cho hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như đảm bảo chủ trương khuyến khích hộ, cá nhân kinh doanh chuyển lên doanh nghiệp” - Thủ tướng nói.
Với quan điểm chính sách phải rất linh hoạt, ông nói khi Quốc hội giao cho Chính phủ quy định mức cụ thể, sẽ có những tiêu chí quy định cụ thể, chặt chẽ để tránh làm thất thu thuế. Với quá trình hiện đại hóa ngành thuế, tránh thất thu thuế nên sẽ có quy định cụ thể, rõ ràng trong nghị định.
Thủ tướng nói thêm là Chính phủ cũng yêu cầu trình dự thảo nghị định đi kèm với dự thảo luật. Song do thời gian gấp quá, hiện Bộ Tài chính đang chuẩn bị gấp rút để đảm bảo khi Quốc hội thông qua sẽ có ngay dự thảo nghị định và thông tư hướng dẫn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Bước qua giai đoạn khó khăn nhất lịch sử, doanh nghiệp bất động sản bước vào chu kỳ mới

"Novaland đã đi qua giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử phát triển của mình, và đang bước vào một chu kỳ mới - thận trọng, tinh gọn, tập trung hiệu quả và phát triển bền vững hơn".
Hay "khủng hoảng giúp doanh nghiệp trưởng thành" là những gì mà Chủ tịch Novaland Bùi Thành Nhơn (Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va, mã chứng khoán NVL) gửi gắm trong báo cáo thường niên 2025 của doanh nghiệp mình.
Với các nhà đầu tư, đó không chỉ là một lời tổng kết nội bộ, mà phản ánh trạng thái chung của cả thị trường.
Sau giai đoạn khoảng 3 năm tái cấu trúc kéo dài, Novaland dự kiến trình đại hội đồng cổ đồng (dự kiến ngày 23-4 tới) mục tiêu năm 2026 đạt 22.715 tỉ đồng doanh thu và 1.852 tỉ đồng lợi nhuận sau thuế, đánh dấu việc quay lại quỹ đạo có lãi sau nhiều biến động.
So với năm trước, doanh thu dự kiến tăng hơn 3 lần. Trong khi lợi nhuận gần như đi ngang được xem như một chi tiết cho thấy doanh nghiệp vẫn ưu tiên ổn định hơn là tăng trưởng nhanh.
Năm nay, Novaland xác định trọng tâm là ổn định dòng tiền thông qua đẩy mạnh bàn giao với sản lượng dự kiến bàn giao là hơn 2.600 sản phẩm, tiếp tục triển khai bán mới với sản lượng sẵn sàng bán là hơn 2.100 sản phẩm. Ngoài ra lũy kế đến năm 2030, tiềm năng dòng thu tại các dự án đang triển khai dự kiến đạt hơn 470 nghìn tỉ đồng.
Đại diện Novaland cho hay đến thời điểm hiện tại, hầu hết các công trình của Novaland đã khôi phục nhịp vận hành. Tính riêng các dự án đang triển khai, có hơn 6.000 sản phẩm đã bàn giao, hàng ngàn sản phẩm đã được cấp giấy chứng nhận, các dự án trọng điểm ở TP.HCM và Đồng Nai đã giải quyết xong pháp lý, tập trung tăng tốc thi công hoàn thiện.
Ở góc độ tài chính, cấu trúc nợ phải trả của Novaland đang dần thay đổi theo hướng tích cực, giảm áp lực tài chính trong ngắn hạn. Tính đến hết năm 2025, tập đoàn đã giảm được khoảng 18% dư nợ trái phiếu phát hành riêng lẻ (so với cuối năm 2022), giảm hơn 3.324 tỉ đồng dư nợ thông qua phát hành cổ phiếu để hoán đổi nợ cho cổ đông và chuyển đổi một phần gói trái phiếu quốc tế.
Thêm nhiều gói vay mới đã được giải ngân, giúp bổ sung nguồn tài chính quan trọng để Novaland tăng tốc triển khai dự án. Cụ thể, tổng hạn mức tín dụng đã được cấp và dự kiến cấp thêm cho các dự án là gần 30.500 tỉ đồng và đang giải ngân theo tiến độ thi công.
Ở phía khác của thị trường, Công ty cổ phần Phát triển Bất động sản Phát Đạt (mã chứng khoán PDR) lại đưa ra một thông điệp mang màu sắc chủ động hơn: "Mở khóa chu kỳ tăng trưởng mới". Đó cũng là thông điệp mà ban lãnh đạo Phát Đạt gửi đi tại Đại hội đồng cổ đông thương niên năm 2026 diễn ra trong ngày 16-4.
Kết quả kinh doanh năm 2025 của Phát Đạt ghi nhận sự cải thiện tích cực với tổng doanh thu đạt 1.964 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế 651 tỉ đồng, lợi nhuận sau thuế 515 tỉ đồng, tăng 3,3 lần so với cùng kỳ.
Đồng thời các chỉ số tài chính cho thấy nền tảng tài chính được củng cố rõ rệt với tổng tài sản hợp nhất đạt trên 27.270 tỉ đồng, và vốn chủ sở hữu khoảng 12.424 tỉ đồng.
Theo kế hoạch trình đại hội cổ đông 2026, doanh nghiệp đặt mục tiêu 8.830 tỉ đồng doanh thu và 868 tỉ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 69% so với năm 2025.
Nguồn lực tăng trưởng không chỉ đến từ bán hàng, mà còn từ các thương vụ M&A. Riêng năm 2025, Phát Đạt đã thu về khoảng 1.535 tỉ đồng từ thoái vốn. Thương vụ hợp tác Mitsubishi Corporation tại dự án Thuận An 1 có tổng giá trị giao dịch M&A hơn 2.000 tỉ đồng, trong đó đã thu về 1.901 tỉ đồng
Năm 2026, Phát Đạt dự kiến triển khai bán hàng tại 6 dự án, với tổng doanh thu kỳ vọng khoảng 35.525 tỉ đồng trong các năm tới.
Có thể thấy một số dự án đáng chú ý gồm khu dân cư Bắc Hà Thanh (Quy Nhơn Iconic) quy mô 43,1ha, khu phức hợp Hàn River (Đà Nẵng), dự án Thuận An 1 (hợp tác Mitsubishi), dự án 239 Cách Mạng Tháng Tám (TP.HCM), tổng vốn đầu tư khoảng 5.500 tỉ đồng.
Song song đó, doanh nghiệp tiếp tục tăng vốn, dự kiến chào bán gần 200 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để bổ sung nguồn lực.
Điểm đáng chú ý: dù nói về tăng trưởng, Phát Đạt không còn mở rộng dàn trải, mà tập trung vào một số dự án trọng điểm và hợp tác chiến lược.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Tính đến nay Việt Nam đã tham gia khoảng 20 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 16 FTA đã được thực thi trong thời gian dài.
Các FTA thế hệ mới như CPTPP (Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) hay EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu) mở ra cơ hội lớn khi nhiều thị trường áp thuế nhập khẩu gạo ở mức 0% hoặc rất thấp.
Tuy nhiên thực tế cho thấy xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống trong khu vực như Philippines và Indonesia - những quốc gia áp thuế nhập khẩu khá cao - lần lượt khoảng 35% và 25%.
Đáng chú ý trong khuôn khổ RCEP (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực), Philippines không tự do hóa ngành gạo, còn Indonesia vẫn duy trì mức thuế cao. Dù vậy hai thị trường này có thời điểm chiếm tới 60% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.
Trong khi đó các thị trường thuộc CPTPP như Canada áp thuế 0% đối với gạo Việt Nam, Mexico áp 10% với gạo và 0% đối với sản phẩm từ gạo. Đặc biệt theo EVFTA, Liên minh châu Âu dành hạn ngạch 80.000 tấn gạo/năm được miễn thuế, nhưng Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết cơ hội này.
Nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên thị trường dễ tiếp cận như Philippines, Indonesia do khoảng cách địa lý gần, thủ tục đơn giản. Tuy nhiên, theo các chuyên gia và doanh nghiệp, nguyên nhân không chỉ dừng lại ở việc "chọn dễ".
Ông Phạm Thái Bình - Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An (TP Cần Thơ) - cho rằng doanh nghiệp không phải không muốn vào các thị trường FTA, mà chủ yếu do thiếu đơn hàng và gặp nhiều rào cản kỹ thuật.
Theo ông Bình, các thị trường khó tính như châu Âu hay Nhật Bản yêu cầu quy trình sản xuất chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và chất lượng ổn định. Trong khi đó phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn này, nên thường lựa chọn thị trường truyền thống có điều kiện nhập khẩu dễ hơn.
"Bên cạnh đó ngành lúa gạo Việt Nam vẫn mang tính nhỏ lẻ, sản xuất phân tán, thiếu liên kết chuỗi. Việc đầu tư cho thương hiệu, công nghệ chế biến và tiêu chuẩn chất lượng còn hạn chế, khiến khả năng tiếp cận các thị trường cao cấp chưa tương xứng với tiềm năng", một doanh nghiệp ngành lúa gạo thừa nhận.
Dù dễ tiếp cận, các thị trường truyền thống lại tiềm ẩn nhiều rủi ro về giá. Theo ghi nhận, đã có thời điểm doanh nghiệp Việt Nam phải chịu lỗ khi xuất khẩu gạo sang Philippines do biến động thị trường.
Lãnh đạo một doanh nghiệp xuất khẩu gạo thừa nhận nhu cầu từ Philippines và Indonesia là "nhu cầu thực", giúp doanh nghiệp dễ tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên việc lựa chọn thị trường này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận biên lợi nhuận thấp, thậm chí rủi ro thua lỗ, trong khi áp lực về giá thường chuyển sang người nông dân.
"Ngoài ra chi phí logistics, giá xăng dầu và vật tư đầu vào tăng cao cũng ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu. Những yếu tố này khiến doanh nghiệp khó mở rộng sang các thị trường đòi hỏi đầu tư lớn về tiêu chuẩn và quy trình sản xuất", vị này nói.
Một lãnh đạo Tập đoàn Tân Long cũng cho biết hoạt động xuất khẩu gạo vẫn diễn ra bình thường, không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thuế nhập khẩu tại các thị trường. Theo vị này, doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu theo điều kiện FOB (giao hàng lên tàu), nên trách nhiệm về thuế và thủ tục nhập khẩu thuộc về đối tác nước ngoài. Do đó doanh nghiệp không trực tiếp nắm rõ mức thuế tại từng thị trường, mà chủ yếu sản xuất và bán hàng theo nhu cầu của khách hàng.
"Điều này cho thấy hoạt động xuất khẩu gạo hiện nay vẫn mang tính "theo đơn hàng", phụ thuộc nhiều vào nhu cầu thị trường, thay vì chủ động định hướng chiến lược khai thác các thị trường FTA", vị này thừa nhận.
Các chuyên gia cho rằng để tận dụng hiệu quả các FTA, ngành lúa gạo Việt Nam cần chuyển đổi mạnh sang sản xuất quy mô lớn, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu. Doanh nghiệp cần đầu tư bài bản vào chuỗi sản xuất - chế biến - xuất khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc.
Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong việc khai thác các ưu đãi từ FTA trong bối cảnh nhu cầu gạo thế giới vẫn ở mức cao, cơ hội mở rộng thị trường vẫn còn lớn. "Nếu không thay đổi cách tiếp cận, ngành gạo Việt Nam có thể tiếp tục phụ thuộc vào các thị trường "dễ tính", với giá trị gia tăng thấp và rủi ro cao", một chuyên gia khuyến cáo.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

