PGS-TS, bác sĩ Lương Tuấn Khanh, Giám đốc Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, trung tâm tiếp nhận nhiều người bệnh đến khám, điều trị trong tình trạng đau do viêm quanh khớp vai.
Nguyên nhân viêm quanh khớp vai do tổn thương các cấu trúc mô mềm quanh khớp như gân, cơ, dây chằng, bao khớp, không liên quan trực tiếp đến tổn thương xương hay sụn khớp, chủ yếu ở phần mô mềm, nhưng lại gây ảnh hưởng rất lớn đến chức năng vận động.
Có 4 thể bệnh thường gặp, trong đó, thể đơn thuần thường do bệnh lý gân cơ; thể đau vai cấp; thể đông cứng do viêm dính, co thắt bao khớp, bao khớp dày, dẫn đến giảm vận động khớp ổ chảo – cánh tay; thể giả liệt do đứt gân cơ trên gai. Trong thực tế, các thể trên có thể kết hợp với nhau.
Các tổn thương thường gặp nhất trong viêm quanh khớp vai là tổn thương các gân cơ xoay gân cơ nhị đầu và bao thanh mạc dưới mỏm cùng vai.
Bệnh thường xuất phát từ 3 cơ chế chính: thoái hóa gân và chóp xoay theo tuổi; viêm bao hoạt dịch, viêm gân do vận động căng giãn gân cơ khớp vai lặp lại; co rút bao khớp (đông cứng khớp vai) gây hạn chế vận động.
Ngoài ra, những yếu tố như: lao động tay quá đầu (các hoạt động sử dụng cánh tay ở vị trí cao hơn vai, quá tầm đầu trong thời gian dài, hoặc lặp lại); chơi thể thao lặp đi lặp lại (tennis, golf, pickleball…), chấn thương hoặc phẫu thuật vùng vai, ít vận động hoặc bất động kéo dài đều có thể thúc đẩy bệnh tiến triển.
Về điều trị viêm quanh khớp vai, bác sĩ Khanh chia sẻ, nguyên tắc điều trị gồm 3 yếu tố chính: giảm đau, chống viêm; phục hồi tầm vận động khớp vai tăng sức mạnh cơ và ổn định khớp.
Trong đó, phục hồi chức năng và tập vận động là nền tảng quan trọng nhất, quyết định kết quả lâu dài, giúp người bệnh quay trở lại với các chức năng sinh hoạt bình thường.
Bệnh nhân cần được điều trị kết hợp: vật lý trị liệu (điện trị liệu và nhiệt trị liệu như: siêu âm trị liệu, điện xung, laser công suất cao, sóng xung kích, sóng ngắn; chương trình tập vận động trị liệu theo phác đồ cá thể hóa) và thuốc giảm đau, chống viêm khi cần.
“Điểm mấu chốt là không chỉ điều trị triệu chứng mà phục hồi chức năng vận động thực sự cho người bệnh”, bác sĩ Khanh cho biết.
“Do triệu chứng ban đầu khá nhẹ, người bệnh thường nghĩ là đau cơ thông thường nên không đi khám. Ngoài ra, nhiều người ngại vận động vì sợ đau, điều này lại khiến khớp càng cứng hơn, tạo thành vòng xoắn bệnh lý”, bác sĩ Khanh lưu ý.
Thạc sĩ vật lý trị liệu Nguyễn Thành Nam (Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai), chia sẻ thêm khi tham gia điều trị người bệnh thường sợ đau nên không muốn trị liệu, tập vận động, ngại hoặc bỏ dở tập giữa chừng, khiến bệnh kéo dài hoặc nặng hơn.
Với mỗi người, khi áp dụng vật lý trị liệu cũng như tập vận động phục hồi chức năng, kỹ thuật viên sẽ cài đặt, điều chỉnh các phương pháp vật lý trị liệu, thiết kế bài tập phù hợp với từng giai đoạn và theo dõi phản ứng của người bệnh, điều chỉnh cường độ tập.
Người bệnh cần tập vận động đúng hướng dẫn và duy trì luyện tập đều đặn; không bỏ tập giữa chừng, tập quá sức; không tự ý tập theo mạng.
Ngày 20/4, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị cho biết vừa phẫu thuật thành công một ca bệnh hiếm gặp, khi bệnh nhân có hai khối ung thư nguyên phát ở hai cơ quan khác nhau.
Trước đó, bệnh nhân vào viện do đau bụng kéo dài. Qua thăm khám và tầm soát, bác sĩ phát hiện ung thư đại tràng sigma. Kết quả giải phẫu bệnh xác định đây là ung thư biểu mô tuyến biệt hóa vừa, ở giai đoạn tiến triển.
Trong quá trình đánh giá toàn thân, các bác sĩ phát hiện thêm một tổn thương khoảng 2 cm ở phổi trái, ban đầu nghi ngờ di căn. Tuy nhiên, kết quả sinh thiết cho thấy đây cũng là ung thư biểu mô tuyến. Xét nghiệm hóa mô miễn dịch sau đó xác nhận hai khối u có nguồn gốc độc lập, không phải ung thư đại tràng di căn lên phổi.
Bệnh nhân được chẩn đoán mắc hai ung thư nguyên phát riêng biệt, trong đó ung thư phổi ở giai đoạn sớm (T1N0M0).
Theo bác sĩ, khó khăn lớn nhất là phân biệt ung thư nguyên phát với di căn, yếu tố quyết định chiến lược điều trị. Nếu chẩn đoán sai, người bệnh có thể mất cơ hội phẫu thuật triệt căn.
Ngoài ra, việc hai bệnh lý ở hai giai đoạn khác nhau cũng đặt ra bài toán lựa chọn phương án điều trị, phẫu thuật từng giai đoạn hay can thiệp đồng thời để tận dụng "thời điểm vàng", đặc biệt với ung thư phổi giai đoạn sớm.
Sau hội chẩn đa chuyên khoa, ê-kíp quyết định phẫu thuật nội soi đồng thời. Ca mổ kéo dài khoảng 4,5 giờ, gồm cắt đại tràng sigma và cắt thùy trên phổi trái. Sau 6 ngày sau phẫu thuật, bệnh nhân tỉnh táo, tự thở, ăn uống và đại tiện bình thường, các ống dẫn lưu đã được rút.
Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ cho thấy tại phổi là ung thư biểu mô tuyến giai đoạn T1N0, chưa ghi nhận di căn hạch; tại đại tràng, khối u xâm lấn T3N0, chưa phát hiện di căn hạch.
Các bác sĩ đánh giá đây là trường hợp hiếm khi một bệnh nhân đồng thời mắc hai ung thư nguyên phát ở hai cơ quan khác nhau. Việc thực hiện thành công phẫu thuật nội soi triệt căn cùng lúc cho cả hai bệnh lý là thách thức lớn, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao và sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa.
Ngày 6-4, ThS.BS Lê Hoàng Hùng, khoa ngoại thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 2 TP.HCM, cho biết các bác sĩ vừa phẫu thuật thành công, lấy dị vật là viên bi sắt nằm sâu trong vùng hố sọ giữa, sát màng não thùy thái dương phải, kịp thời cứu sống một bé trai 4 tuổi. Bé trai đã nằm điều trị hơn 2 tuần tại Bệnh viện Nhi đồng 2.
Bệnh nhi là bé H.L.Đ., ngụ tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.
Theo người nhà, vào khoảng 8h ngày 22-3, bé chơi cùng bạn và dùng ná bắn chim thì không may xảy ra tai nạn. Sau đó bé được đưa đến cơ sở y tế địa phương, rồi nhanh chóng chuyển lên tuyến trên do vết thương nghiêm trọng.
Đến 23h, bé nhập viện Bệnh viện Nhi đồng 2 trong tình trạng đau và sưng nề vùng mắt phải, đầu đau nhiều; có vết thương khoảng 6mm ở mi dưới mắt phải, rách kết mạc, xuất huyết củng mạc. Đồng tử mắt phải giãn 4mm, phản xạ ánh sáng yếu.
Kết quả chụp CT cho thấy có khí trong hốc mắt, xuất huyết võng mạc và đặc biệt là dị vật kim loại hình cầu (đường kính khoảng 5mm) nằm ở cánh nhỏ xương bướm, thuộc vùng hố sọ giữa, rất gần màng não thùy thái dương phải.
Trước tình trạng nguy hiểm, các bác sĩ đã mổ khẩn cấp trong đêm để mở hộp sọ lấy dị vật.
Sau khoảng 2 giờ phẫu thuật, viên bi sắt đã được lấy ra thành công. Bác sĩ cho biết nếu chậm trễ, bệnh nhi có thể đối mặt với nhiều biến chứng nghiêm trọng như viêm xương bướm, áp xe nội sọ, viêm màng não nhiễm khuẩn, thậm chí nguy cơ tử vong cao.
Sau phẫu thuật, bé đã tỉnh táo, không sốt, ăn uống tốt, giảm đau và sưng. Tuy nhiên vẫn có nguy cơ mất thị lực mắt phải do tổn thương nhãn cầu và xuất huyết võng mạc.
BS.CK1 Nguyễn Thành Đô, Phó trưởng khoa ngoại thần kinh, cho biết các bậc phụ huynh không nên sử dụng hoặc lưu trữ các loại vật dụng có tính sát thương. Phụ huynh cần sát sao con trẻ, để các đồ vật nguy hiểm xa tầm tay của trẻ.
Nhà trường và gia đình nên thường xuyên nhắc nhở trẻ không được chơi hoặc chế tạo các loại đồ chơi gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng, nhằm tránh các tai nạn thương tâm tương tự.
Cần tây chứa hơn 90% là nước, nên khi ép thành nước uống có thể giúp bổ sung dịch cho cơ thể. Việc cung cấp đủ nước giúp làm mềm phân và hỗ trợ nhu động ruột, từ đó giảm nguy cơ táo bón, theo Cleveland Clinic (Mỹ).
Bác sĩ Michael F. Picco, chuyên khoa tiêu hóa tại Bệnh viện Mayo Clinic (Mỹ), cho biết việc duy trì đủ nước là yếu tố quan trọng giúp đại tràng hoạt động hiệu quả.
Nước ép cần tây vẫn giữ lại một phần hợp chất chống oxy hóa như flavonoid. Các nghiên cứu cho thấy những hoạt chất này có thể góp phần làm dịu tình trạng viêm trong đường ruột.
Bác sĩ Anju Sood, chuyên gia dinh dưỡng tại Ấn Độ, cho biết các hợp chất tự nhiên trong cần tây có thể hỗ trợ bảo vệ niêm mạc ruột nếu dùng ở mức hợp lý, theo The Times of India (Ấn Độ).
Điểm hạn chế lớn nhất của nước ép cần tây là lượng chất xơ bị giảm đáng kể so với khi ăn nguyên rau. Chất xơ đóng vai trò thiết yếu trong việc nuôi dưỡng lợi khuẩn và duy trì nhu động đại tràng.
Bác sĩ Rupali Datta, chuyên gia dinh dưỡng lâm sàng Ấn Độ, nhấn mạnh việc chỉ uống nước ép mà thiếu chất xơ có thể làm giảm lợi ích đối với hệ tiêu hóa, theo PharmEasy (Ấn Độ).
Nhiều người có xu hướng uống nước ép cần tây mỗi ngày với lượng lớn. Tuy nhiên, bác sĩ Manoj K. Ahuja, bác sĩ nội khoa tại hệ thống Bệnh viện Fortis (Ấn Độ), cảnh báo việc tiêu thụ quá nhiều loại nước ép này có thể gây đầy bụng, rối loạn tiêu hóa, đặc biệt ở người có đường ruột nhạy cảm.
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến nghị:
Nước ép cần tây có thể hỗ trợ đại tràng nhờ bổ sung nước và cung cấp chất chống oxy hóa. Tuy vậy, các chuyên gia dinh dưỡng nhấn mạnh đây không phải “thần dược”; tốt nhất vẫn nên dùng điều độ và ưu tiên ăn nguyên rau để tối ưu lợi ích cho hệ tiêu hóa.