Mục Lục
ToggleHai người mâu thuẫn với một nam công nhân vì mở nhạc to đã ra tay khiến nạn nhân tử vong. Một vụ việc đau lòng, bắt đầu từ hành vi bật loa ngoài điện thoại nơi công cộng (xe buýt đưa rước công nhân).
Sau mâu thuẫn vì bật nhạc lớn trên xe buýt, hai bên tiếp tục cự cãi khi xuống xe. Một người bị đuổi đánh, chạy lên xe trốn nhưng vẫn bị tấn công. Trong lúc xô xát, hung thủ dùng vật nhọn đâm nạn nhân tử vong rồi bỏ trốn, sau đó ra đầu thú, vụ việc xảy ra tại Tây Ninh ngày 21/4.
Từ vụ việc này, nhìn rộng ra, tôi thấy trên xe buýt, xe khách giường nằm, quán cà phê, sân bay hay thậm chí trong thang máy, không khó để bắt gặp cảnh nhiều người vô tư xem TikTok, nghe nhạc, gọi video với âm lượng lớn.
Có người cười nói ầm ĩ qua loa ngoài, có người để video chạy liên tục như thể không gian đó là của riêng mình. Những âm thanh chồng chéo, hỗn tạp ấy không chỉ gây khó chịu mà còn bào mòn sự kiên nhẫn của những người xung quanh.
Điều đáng nói là phần lớn những hành vi này không xuất phát từ ác ý. Đơn giản là thói quen, là sự thiếu ý thức về không gian chung. Nhưng chính sự vô tư đó lại là nguồn cơn của nhiều xung đột âm ỉ.
Một lời nhắc nhở có thể bị hiểu thành khiêu khích. Một ánh nhìn khó chịu có thể bị diễn giải thành xúc phạm. Và khi cái tôi cá nhân bị đẩy lên quá cao, mâu thuẫn rất dễ vượt khỏi kiểm soát.
Chúng ta đang sống trong một xã hội ngày càng đông đúc, sự “chung đụng” nơi công cộng giữa người với người xảy ra nhiều hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, ranh giới giữa không gian riêng và không gian chung trở nên mong manh hơn bao giờ hết.
Không thể biện minh cho hành vi bạo lực, nhưng cũng không thể xem nhẹ những nguyên nhân dẫn đến nó.
Câu hỏi đặt ra là: Vì sao một hành vi đơn giản như dùng tai nghe lại chưa trở thành thói quen phổ biến? Phải chăng chúng ta chưa được giáo dục đủ về ý thức cộng đồng, hay đơn giản là sự dễ dãi với chính mình đã khiến những chuẩn mực nhỏ bị bỏ qua?
Vấn nạn karaoke ‘tra tấn’ chưa dẹp bỏ được thật ra có chung nguyên do với sở thích bật loa ngoài điện thoại nơi công cộng.
Vì sao chúng ta cứ tự do làm những điều mình thích mà không hề nghĩ rằng nó xâm phạm tự do, quyền lợi của người khác?
Tin Gốc: Vnexpress

Mỗi mùa bế giảng đi qua, tôi lại nghe người ta nói đi nói lại một câu quen thuộc: "Giáo viên sướng thật, nghỉ hè hai tháng mà lương vẫn đều". Mới đây, một quy định mới về việc giáo viên được nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp, vô tình lại thổi bùng lên những tranh cãi ấy.
Nghe qua, nhiều người dễ hình dung đó là một khoảng thời gian thảnh thơi, đủ dài để giáo viên có thể thảnh thơi rời xa công việc. Nhưng thực tế của nghề này lại không vận hành theo cách mà những con số có thể diễn đạt trọn vẹn. Bởi nếu chỉ nhìn vào thời gian "được nghỉ", ta sẽ vô tình bỏ qua phần thời gian "vẫn đang làm" của nhà giáo, chỉ là họ không còn đứng trên bục giảng.
Giáo viên vẫn có thể được gọi trở lại bất cứ lúc nào cho những nhiệm vụ không thể trì hoãn: coi thi, chấm thi, tập huấn chuyên môn, hỗ trợ tuyển sinh... Những công việc ấy không ồn ào, nhưng lại đòi hỏi sự tập trung và trách nhiệm không kém, thậm chí có lúc còn căng thẳng hơn cả giờ lên lớp.
Vì thế, nói giáo viên "nghỉ hè" không có nghĩa là họ được "nghỉ hoàn toàn". Đó giống như một quãng chuyển nhịp từ dạy học trực tiếp sang những công việc phía sau "cánh gà", nơi ít được nhắc đến nhưng lại giữ vai trò không thể thay thế. Từng đi qua nghề này, nên tôi hiểu: có những áp lực không nằm ở số tiết dạy, mà nằm ở trách nhiệm phải làm cho đúng ngay cả khi lớp học đã vắng tiếng học trò.
Giáo viên không làm việc theo kiểu đến cơ quan, chấm công rồi ra về. Công việc của họ không kết thúc khi hết giờ học, và cũng không bắt đầu khi tiếng trống vang lên. Nó trải dài theo năm học, dồn lại ở những giai đoạn cao điểm như kiểm tra, thi cử, tổng kết - nơi mà cường độ làm việc không chỉ tăng lên, mà đôi khi còn "chiếm trọn" cả thời gian riêng tư. Có những buổi tối sửa bài đến khuya, những ngày cuối kỳ gần như không có khái niệm nghỉ ngơi. Nhưng những phần việc ấy lại không hiện lên trên bảng chấm công.
>> 'Chấm dứt dạy thêm khi lương giáo viên tăng'
Có một sự thật là giáo viên hiếm khi "nghỉ hè" theo đúng nghĩa của hai chữ ấy. Mùa hè đến, lớp học khép lại, nhưng công việc thì không. Người thì tranh thủ học thêm để theo kịp đổi mới chương trình, người lặng lẽ chuẩn bị giáo án cho năm học mới, chỉnh sửa từng chi tiết nhỏ với mong muốn lần dạy sau sẽ tốt hơn.
Vì thế, tôi cho rằng, nếu chia đều công sức trong suốt một năm, việc giáo viên được "nghỉ hè 8 tuần, hưởng nguyên lương và phụ cấp" không phải là ưu đãi đặc biệt, mà là phần được trả đủ cho một chu kỳ lao động đã bị nén chặt. Lương trong mùa hè, suy cho cùng, không phải là tiền cho sự nhàn rỗi, mà là cách hệ thống trả công cho những tháng ngày làm việc không có ranh giới rõ ràng giữa giờ làm và giờ nghỉ.
Hiểu như vậy để thấy, câu chuyện không nằm ở việc giáo viên có "được ưu ái" hay không, mà là chúng ta có nhìn đúng giá trị lao động của họ hay chưa? Và khi nhìn đúng, có lẽ sẽ bớt đi những so sánh vội vàng để thay vào đó là một cách nhìn công bằng hơn và cũng nhân văn hơn với một nghề vốn đã quen với việc cho đi nhiều hơn nhận lại.
Điều đáng quan tâm hơn là những thay đổi ấy có đủ để giáo viên bớt phải lo toan, để họ có thể tạm gác công việc mà nghỉ ngơi đúng nghĩa, không còn mang theo nỗi bận tâm về cơm áo hay áp lực chuyên môn. Bởi suy cho cùng, một nền giáo dục muốn bền vững thì không chỉ cần những chính sách đúng, mà còn cần những con người đủ sức đi đường dài. Và để đi được đường dài, cần có lúc dừng lại để giữ cho người thầy còn đủ sức đi tiếp trên con đường đã chọn.
Vũ Thị Minh Huyền'Em tôi giáo viên lương 5,4 triệu nhưng ai cũng nghĩ giàu'
Hơn 20 năm lương thấp khiến tôi hối hận vì không học Sư phạm
Ám ảnh giáo viên dạy thêm thu nhập 40 triệu
Vợ chồng giáo viên lương cao hơn con gái làm ngân hàng
Gia đình tôi sáu người làm giáo viên nhưng không ai kêu khổ
Tiếng oan giáo viên 'việc nhẹ, lương cao'

Gần đây, tôi đọc tin TP HCM thưởng từ 3 đến 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi. Tôi đem chuyện này kể lại với con dâu, hy vọng đó sẽ là một động lực nào đó. Nhưng con chỉ nói: "Số tiền đó mang ý nghĩa tượng trưng thôi mẹ ạ, không đủ để bọn con sinh thêm đâu".
Tôi năm nay đã lên chức bà nội được 12 năm. Tưởng rằng sau khi có cháu đầu lòng, vợ chồng con trai tôi sẽ sớm có thêm đứa thứ hai, nhưng gần 10 năm qua, điều đó vẫn chưa xảy ra, dù tôi đã nhiều lần khuyên nhủ, động viên.
Vợ chồng con tôi hiện chỉ có một bé trai. Cháu đã 12 tuổi, ngoan ngoãn, học hành ổn định. Nhiều lần, tôi nhẹ nhàng gợi ý con dâu sinh thêm, phần vì muốn cháu có anh có em, phần vì tôi nghĩ gia đình đông con vẫn ấm áp hơn. Nhưng lần nào cũng vậy, con dâu tôi chỉ cười trừ: "Ở tuổi này mà nghỉ sinh, con dễ mất việc lắm mẹ. Mà phụ nữ có con nhỏ thì chẳng chỗ nào muốn nhận cả".
Con dâu tôi làm nhân viên văn phòng ở TP HCM, công việc không phải quá áp lực nhưng cũng không hề dễ thay thế. Ở môi trường cạnh tranh như hiện nay, phụ nữ nghỉ sinh dài ngày đồng nghĩa với việc tự đặt mình vào thế rủi ro. Chưa kể, sau một thời gian gián đoạn, việc quay lại guồng công việc cũng không hề đơn giản. Thế nên, nghe con nói "thưởng 3-5 triệu chẳng thấm vào đâu", tôi cũng chẳng biết làm gì.
>> Ba năm đấu tranh sinh hai con dù chồng sợ không nuôi nổi
Không chỉ là chuyện công việc, chi phí nuôi dạy một đứa trẻ ở thành phố hiện nay cũng thực sự khiến các con tôi chùn bước khi nhắc đến chuyện sinh thêm con. Vợ chồng con tôi có tổng thu nhập khoảng 35 triệu đồng mỗi tháng, không phải thấp, nhưng cũng chỉ đủ trang trải cuộc sống, nuôi một đứa con và để dành một khoản nhỏ phòng khi ốm đau, biến cố. Nếu sinh thêm, mọi thứ chắc chắn sẽ bị xáo trộn.
Tôi hiểu nỗi lo về mức sinh đang giảm, về tương lai nguồn nhân lực của đất nước. Nhưng đứng từ phía con cái mình, tôi cũng thấy rõ những áp lực rất cụ thể mà chúng đang phải đối mặt. Sinh thêm một đứa trẻ không chỉ là câu chuyện của vài triệu đồng hỗ trợ ban đầu, mà là hành trình dài hàng chục năm với vô vàn chi phí và trách nhiệm.
Tôi nghĩ nếu muốn khuyến khích người trẻ sinh con, chính sách cần đi xa hơn những khoản thưởng mang tính động viên. Điều người trẻ cần là sự yên tâm lâu dài: chi phí giáo dục hợp lý, dịch vụ y tế đảm bảo. Sự hỗ trợ cũng cần đồng hành cùng đứa trẻ từ khi chưa chào đời cho đến lúc trưởng thành. Ngoài ra, môi trường làm việc cũng phải không khiến phụ nữ bị thiệt thòi khi sinh con.
Còn với riêng tôi, sau nhiều năm khuyên con không thành, mong muốn có thêm cháu vẫn còn đó, nhưng tôi hiểu quyết định cuối cùng phải là của các con - những người trực tiếp nuôi dạy và chịu trách nhiệm cho tương lai của đứa trẻ. Mà muốn thay đổi được suy nghĩ của chúng, có lẽ cần nhiều hơn là 5 triệu tiền thưởng.
Tin Gốc: Vnexpress
Ý Kiến
'Ba tôi không biết đường về quê nhưng con cháu vẫn ghi nguyên quán Quảng Ninh'

"Tôi là người bị vướng rắc rối vì cái vụ nguyên quán kia khi giấy tờ mấy cháu nhỏ bị yêu cầu cập nhật, hoặc trước đây nhập vào không đúng.
Ba tôi sinh ra ở Quảng Ninh, và vào trong miền Nam từ lúc ông 5 tuổi. Đến bây giờ, nói thật, ba tôi có hỏi đường để về làng, nơi sinh ra thì chắc chắn 100% cũng không biết ông là ai.
Tôi sinh ở Đồng Nai, trong khai sinh, chứng minh nhân dân và bây giờ là căn cước công dân của tôi cũng ghi nguyên quán Quảng Ninh. Hiện tại là đời cháu, tức là con tôi, sinh ở TP HCM, vẫn giữ nguyên thông tin nguyên quán là Quảng Ninh.
Tôi cũng không hiểu ở ngoài đó gia đình tôi còn gì, hay ai đó ngoài đó biết gì về gia đình tôi? Trong khi lỡ có sai lệch một chút là giấy tờ không làm được. Thật là rắc rối, cái gì quan trọng thì ghi vào, không quan trọng thì bỏ ra".
Độc giả nickname Mít Tơ Bin chia sẻ như trên, về câu chuyện nhiều thế hệ trong một gia đình vẫn mang cùng một quê quán trên giấy tờ, dù thực tế không còn bất kỳ mối liên hệ nào. Bình luận này được viết sau bài Quê quán để làm gì?,trong bài viết này, tác giả trình bày rằng người lớn cũng dễ nhầm lẫn giữa các khái niệm như nơi sinh, nơi cư trú, thường trú, tạm trú, quê quán hay nguyên quán dù chúng có ý nghĩa pháp lý khác nhau.
Nơi cư trú là nơi đang sinh sống, gồm thường trú và tạm trú; nơi sinh là địa điểm được ghi trên giấy khai sinh và không thay đổi.
Trong khi đó, quê quán là thông tin bắt buộc trên giấy khai sinh và trong dữ liệu dân cư nhưng chưa có định nghĩa rõ ràng, chủ yếu xác định theo quê cha hoặc mẹ. Còn nguyên quán là khái niệm mơ hồ hơn, thường được hiểu là quê gốc của ông bà và hiện ít sử dụng.
Độc giả Hằng kể: "Bố chồng tôi sinh ra và lớn lên ở Nam Định, sau đó lên Hà Nội năm 18 tuổi và lấy vợ ở Hà Nội. Chồng tôi sinh ra ở Hà Nội vẫn ghi quê quán Nam Định, giờ con trai tôi cũng sinh ở Hà Nội vẫn ghi mục quê quán Nam Định.
Chồng tôi và con trai tôi không có khái niệm về quê quán mấy vì bố chồng tôi có hai anh em, mọi người tản mát đi thoát ly nơi khác nên ít gặp nhau. Vậy, thử hỏi cái quê quán Nam Định ấy phải ghi đến đời thứ bao nhiêu mặc dù không có khái niệm gì về nơi ông, cụ mình sinh ra".
Tương tự, độc giả nickname Hannah: "Bố tôi và tôi đều sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng quê quán thì vẫn ghi theo quê gốc của ông nội, và các con tôi cũng sẽ như vậy mặc dù các cháu (thậm chí cả tôi) không có ký ức hay kỷ niệm nào với nơi đó (do ông bà đều không còn nhà ở quê và cũng không còn họ hàng thân thiết ở quê gốc nữa).
Mỗi lần bạn bè hỏi quê ở đâu, tôi cũng không biết trả lời sao cho đúng, nói là Hà Nội lại bảo mất gốc, mà nói ở quê quán lại thấy sai sai".
Vấn đề càng trở nên phức tạp trong môi trường giáo dục và quản lý hồ sơ, độc giả Phạm Minh nói: "Đúng là vấn đề nan giải, giáo viên chủ nhiệm các cấp và quản lý cũng đang đau đầu vấn đề này. Ví dụ như nơi sinh, chưa có hướng dẫn ghi thế nào, có em học sinh được ghi trên giấy khai sinh là bệnh viện mình sinh ra, có em ghi nơi bố mẹ ở khi sinh ra mình.
Còn quê quán và nguyên quán mới đau đầu. Quê quán mà ghi nơi bố sinh ra thì nếu bố lại ghi theo bệnh viện mình sinh ở tận bệnh viện lớn do gia đình đưa lên thì sao?
Hay là ghi theo quê của bố? Nếu cứ ghi theo quê quán của bố thì có khi đến 10 đời nữa mặc dù họ ở qua hết các tỉnh thành thì vẫn chỉ ghi một quê vì cứ truyền lại cho nhau theo tính chất bắc cầu: quê ông là quê bố, quê bố là quê con, quê con là quê cháu... Qua nhiều đời sẽ nhiều thế hệ không còn biết ai ở quê đó nữa nhưng vẫn ghi như vậy thì rất vô lý".
Độc giả hieuleminhbloc:
"Tôi xin trích dẫn nguyên một đoạn mà cô giáo chủ nhiệm lớp 12 của con tôi gửi cho quý phụ huynh (QPH) như sau:
'Kính gửi QPH, thông tin học sinh, mỗi bạn sẽ nằm ở 2 trang, kính nhờ QPH cùng tham gia dò lại thật chính xác, vì đây là dữ liệu ký số gửi về Bộ, mọi sai sót sau này nếu PH không dò kỹ sẽ không thể thay đổi và phải chịu trách nhiệm. QPH nói cho các con tổ/thôn/xóm theo quê quán đầy đủ để các con báo lại với cô vào ngày mai. Các mục khác nếu sai chỗ nào QPH nhắn tin riêng cho GVCN trong hôm nay. Trân trọng cảm ơn QPH'.
Bản thân tôi còn không biết tổ/thôn/xóm của cái gọi là quê quán thì làm sao con tôi biết? Hơn 50 năm từ ngày sinh ra đã không sinh ở nơi gọi là "quê quán" thì làm sao biết được những thay đổi về địa giới ở nơi đó.
Mỗi lần mấy đứa nhỏ phải khai báo những thông tin liên quan đến quê quán thì mình thấy càng áp lực và bức xúc vì thấy việc yêu cầu thông tin ngày càng chi tiết hơn, trong khi từ ngày xưa lúc còn nhỏ mình còn không phải khai báo thế này".
Trong khi đó, một số độc giả lại nghĩ khác. Độc giả nickname simpler1981 nói:
"Quê quán trên trường dữ liệu cá nhân là hình thức minh bạch đâu là quê hương của một cá nhân. Đối với nhiều người, quê hương là một phạm trù thiêng liêng, trân quý, là cội nguồn truyền thống.
Tôi nghĩ không có lý do gì để loại bỏ trường thông tin 'quê quán' trên dữ liệu cá nhân; điều quan trọng là cần minh bạch, cụ thể, thống nhất cách xác định quê quán của mỗi cá nhân".
Đồng tình, độc giả nickname hoanghai.ats: "Xin hỏi nếu không có quê quán thì khi bạn cần xác minh nguồn gốc bạn dựa vào cái gì? Có một số ngành nghề khi con em đăng ký thi cần được xác minh các đời trước nữa đấy. Mình nghĩ có vẻ tác giả không có quê xa hay chưa phải gặp trường hợp làm giấy tờ cần nhiều thủ tục xác minh.
Ngoài ra, về cách hiểu, quê quán nó không chỉ là một nét văn hóa mà còn là trách nhiệm của thế hệ trước chỉ dẫn, truyền đạt cho thế hệ tiếp theo biết về nguồn gốc cũng như văn hóa của quê mình, đừng chỉ lo chạy theo cơm áo gạo tiền mà quên đi nguồn cội".
Độc giả Lê Hoàng đề xuất: "Đầu tiên, cần có định nghĩa và giải thích rõ để tất cả mọi người hiểu và ghi cho đúng bởi hiện có nhiều cách hiểu và ghi khác nhau, ví dụ: có người cho rằng đó là nơi sinh, sống từ bé của ông bà nội, có người lại cho rằng đó là nơi sinh, sống từ bé của bố mẹ...
Ngay cả trẻ em hoặc những người lần đầu phải khai hồ sơ cũng đều phân vân khi ghi quê quán bởi có bố mẹ sinh ra lớn lên ở Hà Nội và bản thân sinh ra ở Hà Nội nhưng vẫn ghi quê quán theo bố mẹ trước đây đã từng ghi (tức là căn cứ theo ông bà, cụ kỵ...). Sau này, các đời kế tiếp mặc dù tiếp tục sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nhưng vẫn mặc định ghi bắt buộc như đời trước đã từng ghi.
Vậy nên có chuyện vui là có nhiều người căn cứ vào quê quán ghi trong hồ sơ và đến nhận đồng hương (hoặc xin tham gia vào các hội đồng hương), thậm chí bảo là cùng xã, cùng huyện nhưng thực tế mấy đời nay đã sống ở Hà Nội, đâu có biết quê quán có xã, có huyện đó ở đâu đâu?
Tiếp đến, đó là mục đích quản lý thông tin phần quê quán để làm gì? Để thống kê về việc di dân, chuyển địa bàn sinh sống hay để xác định gốc gác nhân thân của người dân? Còn nếu đây chỉ là việc từ xưa để lại và đến nay không thấy có giá trị gì thì đề xuất xem xét bỏ".
Tin Gốc: Vnexpress

