Hình ảnh mà một binh sĩ Ukraine cho các phóng viên CNN xem thoạt nhìn không có gì ấn tượng. Hai người lính giơ cao tay đầu hàng, cẩn trọng tuân theo mệnh lệnh từ phía bên kia.
Tuy nhiên, điều gây bất ngờ là ở phía bên kia không có bóng dáng con người nào. Thay vào đó, hai binh sĩ Nga đang đầu hàng trước các robot mặt đất và thiết bị bay không người lái (drone) của Ukraine, vốn được điều khiển bởi một phi công từ vị trí an toàn cách tiền tuyến nhiều km.
Đây là tương lai của các cuộc xung đột và nó đã bắt đầu ở Ukraine. “Vị trí này đã được kiểm soát mà không cần tốn một viên đạn”, Mykola Zinkevych, chỉ huy đơn vị “NC13” thuộc Lữ đoàn Xung kích Độc lập số 3 của Ukraine, chuyên trách các hệ thống tấn công robot mặt đất, nói.
Zinkevych cho biết cảnh tượng trên diễn ra trong một chiến dịch hồi năm ngoái và là lần đầu tiên Ukraine chiếm một vị trí của đối phương mà không có bất kỳ lính bộ binh nào tham gia. Kể từ đó, những nhiệm vụ sử dụng robot thay thế con người đã trở thành công việc hằng ngày của đơn vị NC13.
Bầu trời khu vực tiền tuyến tại Ukraine đã tràn ngập drone trong nhiều năm qua, tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với bộ binh. Vì thế, Ukraine bắt đầu thử nghiệm các robot mặt đất, loại phương tiện điều khiển từ xa chạy bằng bánh lốp hoặc bánh xích, cùng những hệ thống robot trên cạn khác.
Ban đầu, chúng chủ yếu tham gia các nhiệm vụ sơ tán thương binh hay tiếp tế, nhưng theo thời gian, những robot này ngày càng được sử dụng nhiều hơn để thực hiện các cuộc tấn công trực diện.
Robot mặt đất khó bị phát hiện và đánh chặn hơn nhiều so với các phương tiện quân sự cỡ lớn. So với drone, chúng có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết và mang theo tải trọng lớn hơn nhiều. Chúng cũng bền bỉ hơn và có thời lượng pin dài hơn.
Cuối năm ngoái, Quân đoàn 3 Ukraine cho hay một robot mặt đất trang bị súng máy đã cầm chân lực lượng xung kích của Nga suốt 45 ngày. Robot này chỉ cần bảo dưỡng nhẹ và sạc lại pin hai ngày một lần.
“Chúng tôi phải hiểu rằng mình sẽ không bao giờ có thêm nhân lực và cũng không bao giờ có ưu thế về quân số trước đối phương”, Zinkevych nói. “Vì vậy, chúng tôi cần đạt được ưu thế thông qua công nghệ”.
Zinkevych cho hay mục tiêu hiện tại của quân đội Ukraine là thay thế 1/3 bộ binh bằng robot và drone trong năm nay. Ukraine không công bố dữ liệu về lực lượng bộ binh, nhưng Tổng thống Volodymyr Zelensky hồi tháng 1/2025 cho biết nước này có khoảng 880.000 binh sĩ trong biên chế, chủ yếu là bộ binh.
Ông Zelensky hồi đầu tuần cho hay robot và drone của nước này đã thực hiện hơn 22.000 nhiệm vụ chỉ trong ba tháng qua. “Hơn 22.000 sinh mạng đã được cứu khi robot tiến vào những khu vực nguy hiểm nhất thay cho người lính”, ông nói.
Robert Tollast, chuyên gia về tác chiến trên bộ tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia Anh (RUSI), nhận định những tiến bộ mới tại Ukraine “sẽ thổi bùng một cuộc tranh luận gay gắt về việc liệu những robot này có phải là tương lai của xung đột vũ trang hay không”.
Ông cho rằng các robot mặt đất có thể sẽ gặp khó khăn trong việc giữ vững trận địa, ví việc này giống như sử dụng xe tăng mà không có bộ binh hỗ trợ.
“Tuy nhiên, chúng đang cứu sống ngày càng nhiều binh sĩ trong các nhiệm vụ sơ tán, tiếp tế nguy hiểm, rà phá bom mìn và tham gia thường xuyên hơn vào các cuộc giao tranh”, Tollast nói. “Điều này cực kỳ quan trọng trong một cuộc chiến mà khả năng giám sát của drone khiến mọi chuyển động gần tiền tuyến, dù là nhỏ nhất, đều khiến bạn bị đe dọa tính mạng”.
Ưu thế của robot
Hơn 4 năm xung đột đã khiến Ukraine trở thành quốc gia dẫn đầu toàn cầu về drone và các hệ thống robot trên chiến trường. Nỗ lực giành ưu thế trong lĩnh vực này càng được thúc đẩy mạnh mẽ sau khi ông Mykhailo Fedorov được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine hồi tháng một.
Ông Fedorov trước đây là Bộ trưởng Chuyển đổi số, giám sát dự án phát triển drone tác chiến của Ukraine. Sau khi tiếp quản Bộ Quốc phòng, ông đã công bố một kế hoạch cải tổ nhằm “ép Nga phải tiến tới hòa bình”.
Chiến lược tập trung trọng tâm vào công nghệ và dữ liệu, với sự góp mặt của hàng trăm doanh nghiệp trong hàng chục dự án phát triển và sản xuất thiết bị tự hành do chính phủ điều hành.
Fedorov hôm 19/4 cho biết ông muốn các hệ thống robot mặt đất trong tương lai sẽ đảm nhận toàn bộ công tác hậu cần tại tiền tuyến của Ukraine.
Kế hoạch do Bộ trưởng Fedorov đề ra tập trung vào cả phòng thủ và tấn công. Mục tiêu là sử dụng dữ liệu và công nghệ để nhận diện mọi mối đe dọa từ trên không theo thời gian thực và đánh chặn ít nhất 95% tên lửa cũng như drone, đồng thời thiết lập một “vùng hủy diệt” rộng 15-20 km dọc tiền tuyến, nơi drone và robot hoạt động liên tục. Bộ Quốc phòng Ukraine cuối tuần trước cho biết khoảng 1.000 kíp điều khiển đã bắt đầu hoạt động trong chương trình mới này.
Zinkevych, chỉ huy lực lượng robot mặt đất của Ukraine, cho hay khả năng mở rộng quy mô lực lượng là yếu tố then chốt quyết định thành bại. Theo ông, Nga đang bị tụt lại phía sau trong cuộc đua nhưng cũng đang đạt được những tiến bộ nhất định. “Trên chiến trường, yếu tố quyết định không phải là ai đã phát minh ra công nghệ hay cách áp dụng nó mà là ai có thể tăng quy mô sử dụng trong dài hạn”.
Những tiến bộ công nghệ mới nhất đã mang lại cho Ukraine lợi thế rõ rệt. Viện Nghiên cứu Chiến tranh (ISW), cơ quan giám sát xung đột có trụ sở tại Mỹ, gần đây đánh giá ưu thế về drone “có thể đang góp phần làm chững đà tiến công của Nga và hỗ trợ cho các cuộc phản công gần đây của Ukraine”.
“Mặc dù chưa bên nào đạt được lợi thế giúp định đoạt cuộc chơi, những chiến dịch tấn công bằng drone tầm trung của Ukraine đã giúp Kiev giành lại thế chủ động”, các chuyên gia ISW viết trong một báo cáo, thêm rằng “thách thức hiện nay đối với Ukraine là phải luôn đi trước một bước khi Nga có những động thái đáp trả”.
Đổi chuyên môn lấy tên lửa
Dù lợi thế trên chiến trường nhờ drone có thể không mang tính then chốt đối với toàn bộ cuộc chiến, vị thế dẫn đầu rõ rệt của Ukraine trong lĩnh vực này đang ngày càng nhận được nhiều chú ý bên ngoài châu Âu.
Một ví dụ điển hình là tại Trung Đông, nơi nhiều quốc gia từng chi những khoản tiền khổng lồ để xây dựng năng lực quân sự truyền thống, đã rơi vào tình cảnh phải sử dụng những quả tên lửa trị giá 4 triệu USD chỉ để bắn hạ một drone có chi phí sản xuất vỏn vẹn 50.000 USD được Iran phóng ra.
Trong khi đó, Ukraine đã phát triển những phương thức rẻ hơn và hiệu quả hơn nhiều để đối phó với drone Nga. Điều đó đã thuyết phục được nhiều nước Trung Đông.
Ông Zelensky đã thực hiện chuyến công du tới Arab Saudi, Qatar và Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) trước khi lên đường sang Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, nhằm đề xuất chia sẻ những kinh nghiệm thực chiến quý báu của Ukraine về phòng thủ drone để đổi lấy hỗ trợ về tài chính hoặc vũ khí.
Kiev có nhiều “bài học” cho các quốc gia vùng Vịnh, những nước vốn sở hữu nguồn lực mà Ukraine đang rất cần, như tên lửa cho hệ thống phòng không. Ngoài ra, ông Zelensky cũng đã ký kết một loạt thỏa thuận mới với nhiều quốc gia châu Âu.
Điều quan trọng tiếp theo đối với Ukraine và bất kỳ lực lượng quân sự nào trên thế giới chắc chắn là AI. Ukraine đang đạt được những bước tiến dài trong việc phát triển và huấn luyện các mô hình AI cho những hệ thống không người lái bằng cách sử dụng dữ liệu thực tế từ chiến trường.
Tuy nhiên, nhiều người vẫn tỏ ra thận trọng về việc áp dụng AI vào các loại robot mặt đất. Zinkevych cho biết ông có thể hình dung ra việc tự động hóa một số quy trình nhất định, nhưng không chắc rằng những công nghệ tự hành hoàn toàn sẽ có chỗ đứng trên chiến trường.
“Quyết định cuối cùng luôn phải do con người đưa ra”, ông nói. “Liệu bạn có dám giao phó vũ khí cho AI không? Làm sao chúng ta chắc chắn được rằng nó có thể phân biệt giữa đồng đội và kẻ thù? Làm sao đảm bảo sẽ không xảy ra sự cố hay sai sót nào?”.
Song với tư cách một cựu lính bộ binh và từng chỉ huy các nhóm đột kích, Zinkevych cho biết ông liên tục cảm thấy kinh ngạc trước những tiến bộ công nghệ mà mình đã chứng kiến trong suốt 4 năm qua.
“Nếu nghe chính mình nói những điều này vào năm 2022, tôi sẽ bảo rằng đó là lời của kẻ điên, tất cả chỉ là khoa học viễn tưởng”, ông cho hay.
Nhưng giờ đây ông hoàn toàn tin tưởng vào hướng đi này. “Sinh mạng con người là vô giá, trong khi robot lại không đổ máu. Chính vì vậy, quan điểm của tôi là cần phải đẩy nhanh hơn nữa việc phát triển các hệ thống robot mặt đất với quy mô lớn hơn, đồng thời triển khai chúng như một hệ thống tổng thể trên chiến trường”.
Iran ngày 18/4 tuyên bố tái áp đặt kiểm soát ở eo biển Hormuz, đảo ngược thông báo mở cửa hoàn toàn cho tàu thương mại đưa ra một ngày trước đó. Tehran cho hay mọi tàu được phép đi qua đều phải sử dụng các làn đường mới sát bờ biển Iran, đồng thời cảnh báo những tuyến chính trong eo biển có thể đã bị rải thủy lôi.
Tổng thống Mỹ Donald Trump cuối tuần trước tuyên bố tất cả phương tiện rải mìn của Iran đã bị đánh chìm. Tuy nhiên, một số chuyên gia cảnh báo vẫn có khả năng Tehran sẽ triển khai thêm thiết bị mới.
Iran được cho là sở hữu nhiều loại thủy lôi, bao gồm thủy lôi nằm dưới đáy biển, thủy lôi có dây neo nổi gần mặt nước, thủy lôi trôi tự do và mìn dính gắn trực tiếp vào thân tàu, theo Reuters.
"Tác chiến bằng thủy lôi rất hiệu quả, vì vũ khí này rẻ nhưng chi phí rà phá lại đắt đỏ. Ngay cả một bãi mìn cũng đủ để ngăn chặn tàu bè, đặc biệt là tàu thương mại", Jon Pentreath, chuẩn đô đốc hải quân Anh đã nghỉ hưu và hiện là chuyên gia tư vấn, cho biết.
Wall Street Journal dẫn lời các nhà phân tích quân sự chỉ ra rằng rà phá thủy lôi là điều kiện cần thiết để tàu bè có thể lưu thông trở lại ở eo biển Hormuz, thay vì phải đi theo các tuyến đường dài và chậm hơn do Iran đưa ra.
Quân đội Mỹ đang sử dụng các tàu lặn không người lái để giúp rà phá thủy lôi tại eo biển Hormuz. Những phương tiện này ngày càng trở thành một phần quan trọng trong nỗ lực của hải quân Mỹ khi họ đã loại biên nhiều tàu quét mìn chuyên biệt.
"Bạn sẽ ít phải lo lắng về tổn thất sinh mạng, vì vậy đưa tàu lặn không người lái qua bãi thủy lôi sẽ dễ chấp nhận hơn nhiều. Đó là những mất mát có thể thay thế được", Scott Savitz, kỹ sư cao cấp tại hãng nghiên cứu RAND, cho biết.
Trước đây, hải quân Mỹ thường dựa vào tàu quét mìn lớp Avenger cho nhiệm vụ rà phá thủy lôi. Chúng được chế tạo bằng gỗ và bọc sợi thủy tinh, có dấu hiệu từ tính rất thấp để tránh kích hoạt thủy lôi dùng ngòi nổ từ trường. Các tàu thường trực tiếp tiến vào khu vực nghi có mìn, dùng hệ thống định vị thủy âm (sonar) để tìm kiếm thủy lôi rồi phá hủy bằng tàu lặn hoặc thiết bị cơ khí kéo phía sau.
Tuy nhiên, phần lớn đội tàu cũ này đã được loại biên. Hải quân Mỹ đã rút toàn bộ 4 tàu quét mìn lớp Avenger khỏi Trung Đông hồi đầu năm, sau hàng chục năm triển khai chúng ở khu vực.
Lực lượng này được thay bằng 3 tàu chiến đấu ven biển (LCS) lớp Independence, mang theo những thiết bị hiện đại như drone và robot điều khiển từ xa, cho phép chiến hạm giữ khoảng cách an toàn với bãi mìn.
Tuy nhiên, hai trong 3 chiếc đã rút về Singapore với lý do "bảo dưỡng" chỉ vài ngày sau khi xung đột bùng phát. Chúng chỉ hướng tới Trung Đông trong những ngày gần đây, khi giới chức Mỹ thể hiện quyết tâm rà phá thủy lôi để mở cửa eo biển Hormuz.
Hải quân Mỹ không phản hồi yêu cầu bình luận về các lực lượng rà phá thủy lôi đang triển khai ở Trung Đông. Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan đặc trách hoạt động của quân đội Mỹ ở khu vực, cũng từ chối cung cấp thêm thông tin chi tiết.
Cassell Bryan-Low, nhà bình luận của Reuters, cho hay chiến dịch của Mỹ có khả năng bắt đầu bằng tìm kiếm thủy lôi với xuồng và tàu lặn không người lái trang bị cảm biến. Khi phát hiện vật thể nghi ngờ, dữ liệu sẽ được chuyển về cho đội ngũ vận hành trên tàu chiến ở ngoài bãi mìn để nhận dạng, đưa ra phương án vô hiệu hóa.
Các cựu quan chức hải quân Mỹ nói rằng khả năng tìm kiếm hiện nay sẽ dựa vào các thiết bị không người lái trang bị sonar, cũng như trực thăng quần thảo bên trên để phát hiện thủy lôi gần mặt nước.
Để phá hủy mục tiêu, tàu chiến Mỹ có thể triển khai những hệ thống như Archerfish. Đây là thiết bị có hình dạng giống ngư lôi, dài khoảng 2 m, mang theo thuốc nổ, có khả năng truyền video trực tiếp về người điều khiển qua dây cáp và có giá hàng chục nghìn USD mỗi chiếc.
Bryan Clark, cựu sĩ quan hải quân Mỹ và chuyên gia tại Viện Hudson, cho biết Washington cũng có thể sử dụng xuồng không người lái kéo theo thiết bị rà phá mìn để kích nổ hoặc thu gom thủy lôi. Thợ lặn đôi khi cũng được huy động để thu thập thông tin tình báo.
Mỹ còn có một số thiết bị cho nhiệm vụ này, như tàu mặt nước không người lái phổ thông (CUSV) do tập đoàn RTX chế tạo. Chúng được trang bị hệ thống sonar AN/AQS-20 để rà quét từng dải rộng hơn 30 m dưới đáy biển.
Ngoài ra, họ còn có tàu ngầm không người lái chạy bằng ắc quy MK18 Mod 2 Kingfish và Knifefish do General Dynamics sản xuất. Chúng có thể được thả xuống nước từ một chiếc thuyền nhỏ, sau đó quét tìm thủy lôi theo lộ trình định sẵn.
Giới phân tích cho biết quân đội Mỹ có thể thực hiện quét sơ bộ để tìm thủy lôi khá nhanh trong phạm vi eo biển Hormuz. Sau khi xác định vị trí mìn, một đợt robot thứ hai có thể được triển khai để phá hủy chúng bằng thuốc nổ hoặc kích hoạt từ xa.
"Có thể khảo sát một luồng nhỏ ở khu vực đó trong vài ngày thay vì vài tuần, bằng cách sử dụng phương tiện không người lái. Sau khi giải tỏa được một tuyến di chuyển nhỏ, tàu thuyền có thể bắt đầu lưu thông qua đó, trước khi nó được mở rộng dần theo thời gian", Kevin Donegan, phó đô đốc hải quân Mỹ về hưu, cho biết.
Quan chức Mỹ cho biết Iran dường như đã triển khai ít thủy lôi hơn dự kiến, do lực lượng tàu và xuồng rải mìn hứng chịu thiệt hại trong xung đột.
Tuy nhiên, cựu sĩ quan Clark nhận định khơi thông eo biển Hormuz vẫn sẽ cần ít nhất 2-3 tuần, trong khi các cuộc tấn công của Iran nhằm vào lực lượng rà phá thủy lôi cũng có thể làm chậm tiến độ và gia tăng rủi ro. Do đó, quân đội Mỹ có thể phải triển khai các biện pháp phòng vệ như tàu chiến và UAV tuần tra.
"Tìm kiếm và phá hủy thủy lôi rất tốn thời gian", tư lệnh hải quân Mỹ Daryl Caudle phát biểu hồi tháng 3, thêm rằng điều này khiến các lực lượng quét mìn "dễ bị tổn thương".
Jared Malsin, nhà bình luận của Wall Street Journal, cũng cảnh báo rằng mọi hoạt động nhằm mở cửa eo biển Hormuz cũng sẽ tạo thêm thách thức cho hải quân Mỹ, vốn đã căng thẳng vì những đợt triển khai dài ngày.
Trong bài đăng trên mạng xã hội hôm 17/4, Tổng thống Trump tuyên bố "Iran, với sự giúp đỡ của Mỹ, đã và đang loại bỏ tất cả thủy lôi".
Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo ngành vận tải biển cảnh báo điều này không chính xác. Jakob Larsen, giám đốc về an toàn và an ninh của Hội đồng Hàng hải Baltic và Quốc tế (BIMCO), cho biết những thông tin đáng tin cậy hiện tại cho thấy nguy cơ từ thủy lôi vẫn hiện hữu và "tàu thuyền nên cân nhắc tránh khu vực này".
Ngày 17/4, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi trong bài đăng trên mạng xã hội X tuyên bố eo biển Hormuz mở hoàn toàn cho các tàu thương mại. Động thái khiến giá dầu giảm và ngay lập tức nhận được sự hoan nghênh từ Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Araghchi là nhà ngoại giao kỳ cựu có tư tưởng thực dụng trong đội ngũ đàm phán. Một quan chức Iran giấu tên cho biết tuyên bố của ông Araghchi là nỗ lực phát đi tín hiệu sẵn sàng thỏa hiệp vào thời điểm lệnh ngừng bắn hai tuần với Mỹ, bắt đầu từ ngày 8/4, sắp hết hiệu lực.
"Tuyên bố của ông Araghchi dường như nhằm khơi thông đàm phán hơn là khai thông eo biển Hormuz", Michael Singh, cựu giám đốc cấp cao về các vấn đề Trung Đông tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, nhận định.
Ông thêm rằng động thái này diễn ra sau một nhượng bộ từ phía Washington. Mỹ đã thúc đẩy lệnh ngừng bắn 10 ngày giữa Israel và Lebanon và tuyên bố "cấm" Israel tiếp tục ném bom nước láng giềng. Tehran trước đó yêu cầu Israel phải chấm dứt chiến dịch chống lại Hezbollah, nhóm vũ trang mà Iran hậu thuẫn ở Lebanon.
Tuy nhiên, nỗ lực của ông Araghchi lập tức vấp phản kháng từ chính trong nội bộ Iran. Ngay trong đêm đó, một người tự xưng là thành viên hải quân của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đã phát tin nhắn qua đài vô tuyến hàng hải, tuyên bố eo biển vẫn đóng cửa và các tàu cần có sự cho phép của lực lượng này mới được đi qua.
"Chúng tôi mở cửa theo lệnh của Lãnh tụ Tối cao Mojtaba Khamenei, chứ không phải theo những dòng tweet của một kẻ ngớ ngẩn nào đó", nội dung tin nhắn nêu rõ.
Cùng lúc đó, hãng tin Tasnim thân cận với IRGC cũng chỉ trích gay gắt Ngoại trưởng Iran vì tuyên bố trên mạng xã hội, khẳng định "Bộ Ngoại giao nên xem xét lại kiểu truyền thông này".
Morteza Mahmoudi, nghị sĩ cấp cao thuộc phe cứng rắn ở Iran, thậm chí còn kêu gọi cách chức ông Araghchi, cho rằng tuyên bố của ông đã làm hạ giá dầu và là một "món quà" tặng cho Mỹ.
Ngày 18/4, Bộ tư lệnh Trung tâm Khatam al-Anbiya của quân đội Iran chính thức thông báo tái áp đặt hạn chế ở eo biển Hormuz. Trung tâm Điều phối Thương mại Hàng hải Anh (UKMTO) cho biết đã nhận được thông tin rằng một tàu dầu ngoài khơi Oman bị xuồng cao tốc Iran áp sát và nổ súng, không có thương vong trong sự việc.
Hải quân IRGC cảnh báo các chủ tàu rằng mọi nỗ lực vượt eo biển mà không được cấp phép "sẽ phải đối mặt với phản ứng khốc liệt từ lực lượng Iran". Một cố vấn cấp cao của IRGC cho biết lực lượng này cảm thấy tức giận khi ông Araghchi đã không phối hợp với họ trước khi đưa ra tuyên bố.
Trong khi các bên trung gian cho biết Mỹ và Iran đã thể hiện sự linh hoạt về lập trường đàm phán và ông Trump tuyên bố thỏa thuận đã cận kề, những gì diễn ra ở eo biển Hormuz cho thấy những người sẵn lòng thỏa hiệp ở Iran có thể không nhận được sự ủng hộ hoàn toàn từ phe cứng rắn đầy quyền lực.
"Phương Tây nghĩ Iran là một quốc gia có chuỗi mệnh lệnh xuyên suốt: Bạn đàm phán với Bộ Ngoại giao, họ trình lên để phê chuẩn, các quyết định được đưa ra. Xong chuyện", Mohamed Amersi, chuyên gia về Iran kiêm thành viên Hội đồng Cố vấn Toàn cầu thuộc Trung tâm Wilson ở Mỹ, nhận định. "Nhưng khi tình hình trở nên căng thẳng, tiếng nói quyết định lại thường thuộc về lực lượng đang nắm trong tay vũ khí, máy bay không người lái và xuồng cao tốc".
Trita Parsi, Phó chủ tịch điều hành Viện Quincy, cảnh báo sự phản kháng của phe cứng rắn đối với thỏa thuận hòa bình "đang ngày càng lớn hơn, tạo ra thách thức chính trị lớn".
Diễn biến tại eo biển Hormuz cuối tuần qua gợi nhớ đến tình huống hồi đầu cuộc chiến, khi Tổng thống Masoud Pezeshkian xin lỗi về các cuộc tấn công vào các nước láng giềng vùng Vịnh và hứa sẽ cắt giảm quy mô tấn công. Ngay lập tức, ông bị phe cứng rắn công khai phản bác.
Các nhà phân tích cho rằng sau khi lãnh tụ tối cao Ali Khamenei bị hạ sát trong những cuộc tập kích đầu tiên của Mỹ - Israel, giới lãnh đạo ở Iran đã mất đi sự thống nhất.
"Vì trọng tài chính đã không còn, mâu thuẫn giữa các phe phái đã bắt đầu bùng nổ", Saeid Golkar, chuyên gia về an ninh Iran tại Đại học Tennessee ở Mỹ, kết luận.
Chuyện thứ nhất là Tổng thống Mỹ Donald Trump bị mất đồng minh thân cận trong EU và NATO là Thủ tướng Hungary Viktor Orban sau cuộc bầu cử quốc hội vừa rồi ở Hungary. Chuyện thứ hai là sự đổ vỡ tình thân ái giữa ông Trump và Thủ tướng đương nhiệm của Ý Giorgia Meloni.
Bà Meloni được coi là cầu nối giữa Tổng thống Trump với EU và NATO trong thời điểm EU và NATO bị ông Trump gây nhiều khó khăn và khó xử về chính trị đối ngoại và an ninh cũng như trong quan hệ kinh tế và thương mại giữa EU với Mỹ. Nguyên nhân của sự đổ vỡ này liên quan cuộc chiến của Mỹ với Iran, đến việc bà Meloni ngừng hợp tác quân sự giữa Ý với Israel và những phát ngôn của Tổng thống Trump về Giáo hoàng Leo XIV bị Thủ tướng Meloni coi là không thể chấp nhận được. Bà Meloni không ủng hộ và không cho phép Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ Ý phục vụ cuộc chiến với Iran. Ông Trump đã công khai coi đấy là "sự phản bội" của bà Meloni. Thời thân ái xem ra đã qua rồi giữa họ.
Ông Orban thất cử là chuyện khó cưỡng còn bà Meloni có nhu cầu đối nội cấp thiết để thể hiện tính độc lập cũng như bản lĩnh trong quan hệ với ông Trump. Bà phải lựa chọn giữa sự tương đồng về ý thức hệ với ông Trump và sự ổn định quyền lực của mình ở Ý cùng với lợi ích an ninh của Ý và EU.
Cả hai chuyện trên sẽ làm cho mối quan hệ giữa Mỹ với các thành viên khác trong NATO thêm bất hòa và sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn tiến trình tự chủ hóa của EU về quân sự và an ninh.