Các ngân hàng trong nhóm quốc doanh mới đây đã đồng loạt công bố báo cáo tài chính 2025 qua kiểm toán.
Ngoài các con số về kết quả kinh doanh, báo cáo cũng thuyết minh chi tiết về lượng tài sản cầm cố, thế chấp tại ngân hàng cho các khoản vay của khách hàng.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) ghi nhận quy mô tài sản bảo đảm tiếp tục gia tăng mạnh trong năm 2025. Tính đến cuối năm, tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố, chiết khấu và tái chiết khấu của khách hàng đạt hơn 3,79 triệu tỉ đồng, tăng gần 19% so với đầu năm.
Trong cơ cấu, bất động sản vẫn chiếm tỉ trọng chủ đạo với giá trị thế chấp hơn 3,37 triệu tỉ đồng, tăng trên 15% sau một năm. Phần còn lại là động sản, giấy tờ có giá cùng các loại tài sản bảo đảm khác.
Về hoạt động tín dụng, đến cuối năm 2025, tổng dư nợ cho vay khách hàng của Agribank đạt hơn 1,97 triệu tỉ đồng, tăng gần 14,7% so với đầu năm.
Trong khi đó, huy động vốn từ khách hàng đạt hơn 2,15 triệu tỉ đồng, tăng 12,6%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng.
Nhờ tăng trưởng tín dụng tích cực, thu nhập lãi thuần cả năm 2025 của Agribank đạt hơn 70.616 tỉ đồng, tăng 6% so với năm trước. Còn lợi nhuận sau thuế đạt 24.954 tỉ đồng, tăng 13%.
Agribank là ngân hàng có lượng tài sản thế chấp bằng bất động sản lớn nhất – Dữ liệu: BCTC kiểm toán
Còn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Vietcombank (VCB), báo cáo tài chính 2025 đã qua kiểm toán ghi nhận tổng dư nợ cho vay khách hàng của ngân hàng này đạt hơn 1,67 triệu tỉ đồng, tăng 15,5% so với 2024.
Song song đó, tổng giá trị tài sản bảo đảm mà Vietcombank đang nắm giữ cho các khoản vay lên gần 2,64 triệu tỉ đồng, tăng khoảng 11% so với thời điểm cuối năm 2024. Như vậy, tỉ lệ tài sản bảo đảm trên tổng dư nợ được duy trì ở mức 158%.
Đáng chú ý, bất động sản tiếp tục chiếm tỉ trọng áp đảo trong cơ cấu tài sản thế chấp, với giá trị hơn 1,89 triệu tỉ đồng, tương đương gần 72% tổng giá trị tài sản bảo đảm, tăng gần 9,4% so với đầu năm.
Phần còn lại bao gồm tiền gửi cầm cố hơn 298.369 tỉ đồng, giấy tờ có giá trên 55.115 tỉ đồng cùng các loại tài sản khác.
Ở chiều huy động vốn, tiền gửi khách hàng tại Vietcombank vẫn ghi nhận mức tăng trưởng hơn 10%, đạt trên 1,67 triệu tỉ đồng.
Về kết quả kinh doanh, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu về lợi nhuận toàn ngành ngân hàng trong năm 2025. Lũy kế cả năm, thu nhập lãi thuần đạt 58.771 tỉ đồng, tăng 6% so với năm trước; lợi nhuận sau thuế đạt 35.197 tỉ đồng, tăng 4%.
Lượng tài sản thế chấp, cầm cố tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng lớn, đạt hơn 3,71 triệu tỉ đồng tại thời điểm cuối 2025, tăng 12% so với đầu năm.
Trong đó, tài sản thế chấp là bất động sản chiếm hơn 2,6 triệu tỉ đồng, tăng hơn 10% sau một năm.
Báo cáo cũng cho biết, dư nợ cho vay khách hàng của BIDV tăng gần 15,4% năm ngoái, đạt hơn 2,37 triệu tỉ đồng. Ngược lại, lượng tiền gửi của khách hàng đạt hơn 2,22 triệu tỉ đồng, tăng gần 14%.
Thu nhập lãi thuần của BIDV năm 2025 ở mức 63.295 tỉ đồng, tăng hơn 9% so với 2024. Lợi nhuận sau thuế của ngân hàng quốc doanh này đạt mức 30.430 tỉ đồng, tăng gần 19%.
Còn tại Ngân hàng Vietinbank (CTG), tổng giá trị tài sản, giấy tờ có giá nhận thế chấp, cầm cố và chiết khấu, tái chiết khấu của khách hàng ở thời điểm cuối năm ngoái lên tới 3,88 triệu tỉ đồng, tăng tới 18% so với đầu năm.
Trong đó, lượng tài sản thế chấp là bất động sản lên tới 2,75 triệu tỉ đồng, cũng tăng khoảng 18%.
Ngân hàng này ghi nhận thu nhập lãi thuần cả năm ngoái đạt 66.453 tỉ đồng, còn lợi nhuận sau thuế 34.871 tỉ đồng.
Theo báo cáo điện năng toàn cầu của tổ chức nghiên cứu Ember ngày 21/4, thế giới đã "bước vào kỷ nguyên tăng trưởng xanh", khi năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn cung điện đạt 34%, lần đầu vượt nhiệt điện. Đây là báo cáo thường niên lần thứ 7 của Ember, phân tích dữ liệu từ 215 quốc gia.
Theo báo cáo, điện mặt trời tăng 30%, thêm 636 TWh, gấp đôi nhu cầu điện hàng năm của Vương quốc Anh. Hơn một nửa sản lượng này đến từ Trung Quốc. Cùng với điện gió và hạt nhân, năng lượng tái tạo đạt 887 TWh, vượt tổng nhu cầu điện tăng thêm (849 TWh). Trong đó, riêng điện mặt trời đáp ứng được ba phần tư nhu cầu này.
Giới phân tích cũng lưu ý rằng đây là lần thứ hai trong lịch sử, ngành điện ghi nhận công suất mới từ một nguồn tăng vượt 500 TWh. Lần đầu họ ghi nhận mức tăng này là năm 2021 với điện than, khi toàn ngành phục hồi sau Covid-19.
Theo Ember, 10 năm trước, lượng điện mặt trời chỉ đạt 256 TWh, bằng một phần mười điện hạt nhân và một phần ba năng lượng gió. Hiện tại, nguồn điện này tăng công suất gấp 10 lần, tỷ trọng tương đương hạt nhân.
Pin lưu trữ (BESS) là công nghệ then chốt giúp điện mặt trời tăng mạnh, khi biến chúng thành nguồn năng lượng sử dụng được "bất kể lúc nào", thay vì chỉ tận dụng được ban ngày.
Năm ngoái, thế giới lắp đặt được lượng pin đủ lưu trữ 14% sản lượng điện mặt trời tăng thêm, nhờ chi phí giảm gần một nửa. Riêng tại Chile và Australia, tỷ lệ này lần lượt là 76% và 53%, do tỷ trọng điện mặt trời lớn.
Với Chile, công suất pin lưu trữ tăng gấp đôi năm 2024, giúp mức lãng phí điện mặt trời do quá tải lưới giảm về 8%, thay vì 43%. Còn tại Australia, việc lưu trữ năng lượng khi nắng và dùng khi cần giúp giảm 44% giá bán buôn điện vào quý IV/2025.
Nhờ mức tăng điện sạch kỷ lục, nhu cầu với điện than giảm 38 TWh, tương đương 0,2%. Đây là lần đầu tiên nguồn điện này giảm kể từ 2020. Tỷ trọng nhiệt điện năm ngoái là 33%, thấp hơn mức 34% của năng lượng tái tạo trong tổng cung toàn cầu.
Ở cấp quốc gia, sự chuyển đổi năng lượng sạch nói trên nhờ hai quốc gia tỷ dân là Trung Quốc và Ấn Độ. Trong hai thập kỷ qua, họ sử dụng nhiên liệu hóa thạch nhiều nhất toàn cầu. Tuy nhiên, năm 2025, hai quốc gia đều chứng kiến lượng điện sạch tăng đột biến, vượt xa tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện năng.
Theo South China Morning Post, trong bối cảnh xung đột Trung Đông, số liệu này cho thấy điện sạch là giải pháp cho các quốc gia đang tìm cách giảm phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng.
Điều này đồng nghĩa những giao dịch trên mức 500 triệu đồng có thể mất vài giờ hoặc phải chờ ngày làm việc kế tiếp để xử lý.
Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) mới đây thông báo dừng tính năng "tự động chia nhỏ lệnh" trên nền tảng ngân hàng số, nhằm tuân thủ quy định mới tại Thông tư 40/2024 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Theo thông báo, kể từ ngày 21-4, các giao dịch chuyển khoản liên ngân hàng có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên sẽ không còn được hệ thống tự động chia nhỏ để thực hiện qua kênh chuyển tiền nhanh Napas 24/7.
Thay vào đó, những giao dịch giá trị lớn sẽ được xử lý theo luồng chuyển khoản thường phù hợp với quy định hiện hành.
Trước đây, hệ thống chuyển tiền nhanh Napas 24/7 áp dụng hạn mức tối đa dưới 500 triệu đồng cho mỗi giao dịch. Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu chuyển tiền giá trị lớn của khách hàng, nhiều ngân hàng đã triển khai giải pháp kỹ thuật cho phép tự động tách một giao dịch trên 500 triệu đồng thành nhiều lệnh nhỏ hơn, mỗi lệnh dưới ngưỡng quy định.
Nhờ cơ chế này, tiền vẫn có thể được chuyển gần như ngay lập tức kể cả ngoài giờ hành chính. Sau thời điểm 21-4, cơ chế này sẽ bị dừng hoàn toàn.
Nếu cần chuyển nhanh, khách hàng sẽ phải thực hiện nhiều giao dịch riêng, mỗi giao dịch có giá trị dưới 500 triệu đồng.
Không chỉ Eximbank, TPBank, VPBank cũng phát đi thông báo tương tự. Đồng thời khuyến cáo khách hàng nếu vẫn muốn chuyển nhanh các khoản tiền lớn sẽ phải chủ động chia thành nhiều giao dịch riêng biệt, mỗi giao dịch dưới 500 triệu đồng để tiếp tục sử dụng kênh 24/7.
Theo các chuyên gia, việc "làm chậm" các giao dịch giá trị lớn ngoài mục tiêu kiểm soát dòng tiền, tăng minh bạch còn nhằm hạn chế rủi ro, ngăn các vụ trộm tiền trong tài khoản lớn như đã từng xảy ra thời gian qua.
Trước đó từ ngày 1-7-2024, theo Quyết định 2345 của Ngân hàng Nhà nước, các giao dịch chuyển tiền trực tuyến trên 10 triệu đồng/lần hoặc tổng hơn 20 triệu đồng/ngày, nạp ví điện tử trên 10 triệu đồng/ngày buộc phải xác thực sinh trắc học bằng khuôn mặt qua ứng dụng ngân hàng.
Mục đích của quy định này là nhằm tăng cường bảo mật, phòng chống gian lận và xác thực chính chủ.
Ngoài ra, hệ thống Thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) đã được triển khai tại 149 đơn vị, bao gồm 99 tổ chức tín dụng và 50 tổ chức trung gian thanh toán.
Không chỉ dừng ở vai trò tập trung dữ liệu, hệ thống còn hỗ trợ cảnh báo trực tiếp tới khách hàng khi phát sinh giao dịch có dấu hiệu rủi ro. Tính đến cuối tháng 3, đã có 3,5 triệu lượt cảnh báo được gửi đi, trong đó hơn 1,1 triệu lượt khách hàng đã chủ động tạm dừng hoặc hủy giao dịch sau khi nhận được cảnh báo.
Tổng giá trị các giao dịch được ngăn chặn hoặc gián đoạn nhờ cơ chế này lên tới hơn 3.990 tỉ đồng, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc giảm thiểu thiệt hại từ gian lận trực tuyến.
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam - Petrolimex (PLX) vừa công bố tài liệu phục vụ Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026.
Hội đồng quản trị trình cổ đông kế hoạch doanh thu đạt 315.000 tỉ đồng, tăng 2% so với mức thực hiện năm 2025. Nếu hoàn thành đây sẽ là mức doanh thu cao nhất từ trước tới nay của doanh nghiệp.
Ở chiều ngược lại, tập đoàn đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 3.380 tỉ đồng, giảm 7% so với cùng kỳ.
Sản lượng xăng dầu xuất bán hợp nhất dự kiến đạt khoảng 19,4 triệu m³/tấn (tương đương 19,443 triệu tấn), tăng 10% so với kết quả năm 2025. Tập đoàn dự kiến chi trả cổ tức với tỉ lệ 10%.
Doanh nghiệp khép lại năm 2025 với sản lượng xăng dầu bán ra đạt 17,7 triệu m³/tấn, tăng 2% so với cùng kỳ.
Doanh thu đạt 309.875 tỉ đồng và lợi nhuận hợp nhất trước thuế đạt 3.643 tỉ đồng, lần lượt tăng 25% và 14% so với thực hiện năm 2024. PLX dự kiến sử dụng 1.525 tỉ đồng để trả cổ tức cho cổ đông, tương ứng tỉ lệ 12%.
Trong năm, PLX thí điểm xây dựng mới và cải tạo tổng thể 12 cửa hàng xăng dầu theo mô hình trạm dịch vụ xe tải.
Hệ thống bán lẻ tiếp tục được mở rộng với 76 cửa hàng xăng dầu phát triển mới, nâng tổng số cửa hàng lên 2.831 điểm trên toàn quốc.
Theo Petrolimex, xe điện đã bắt đầu tạo ảnh hưởng rõ nét hơn, song chưa chiếm ưu thế trên thị trường khi số lượng phương tiện sử dụng động cơ đốt trong vẫn ở mức lớn.
Trong kịch bản nền kinh tế vận hành theo định hướng của Chính phủ, Petrolimex dự báo giai đoạn 2026 - 2027, tốc độ tăng trưởng sản lượng có thể dao động trong khoảng 8,5 - 10%.
Động lực chính đến từ các chủ trương, định hướng phát triển của Nhà nước, cùng với việc triển khai các dự án cao tốc mới; đồng thời, nhu cầu của nền kinh tế được kỳ vọng sẽ phần nào bù đắp cho giai đoạn đầu của các chính sách hạn chế phương tiện và sự gia tăng của xe điện.
Bước sang giai đoạn 2028 - 2030, tốc độ tăng trưởng sản lượng có thể chậm lại, ở mức 6 - 7%. Khi đó, tác động từ xe điện, nhiên liệu xanh và các chính sách hạn chế phương tiện được dự báo sẽ thể hiện rõ hơn. Tính chung giai đoạn 2026 - 2030, tập đoàn đặt mục tiêu sản lượng kinh doanh xăng dầu tăng trưởng bình quân khoảng 7%/năm.
Về doanh thu, doanh nghiệp đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 không thấp hơn mức tăng sản lượng, dự kiến đạt khoảng 7%/năm. Lợi nhuận trong cùng giai đoạn được kỳ vọng tăng trưởng bình quân 6-7%/năm.
Tỉ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu của công ty mẹ dự kiến duy trì trong khoảng 6-7%/năm; đồng thời, tỷ lệ chi trả cổ tức được đặt mục tiêu bình quân 8-10%/năm.