Ngày 16/4, các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội nói sản phụ mang thai lần đầu, thai thụ tinh nhân tạo, một trai và một gái. Trong thai kỳ, bệnh nhân có tiền sử sinh non, từ tuần 20 bắt đầu có dấu hiệu cổ tử cung ngắn.
Từ tuần 22, bệnh nhân xuất hiện đau bụng, ra dịch, cơn co tử cung, cổ tử cung mở. Khoảng một tuần sau, bệnh nhân cấp cứu tại Khoa sản bệnh A4, cổ tử cung mở 2-3 cm.
“Lúc này, thai thứ nhất tụt thấp, chân thò ra ngoài trong bọc ối, tiên lượng rất nặng, nguy cơ sinh non và nhiễm trùng cao”, bác sĩ Trương Minh Phương, người điều trị chính, nói.
TS.BS Mai Trọng Hưng, Giám đốc Bệnh viện và bác sĩ Phương nhận định khả năng giữ thai khó, nguy cơ nhiễm trùng đe dọa mẹ và thai còn lại. Tuần 26, sản phụ chuyển dạ, bé gái sinh non, nặng 650g, chuyển Bệnh viện Nhi Trung ương điều trị. Trẻ bị biến chứng chảy máu não, nhiễm trùng.
Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng giữa nguy cơ của mẹ, thai còn lại và cơ hội sống của thai nếu nuôi thêm trong bụng, các bác sĩ đã quyết định điều trị cắt cơn chuyển dạ để giữ lại thai nhi thứ hai trong tử cung mẹ.
“Thông thường, thai thứ hai sẽ sinh ngay sau thai một. Đây là lựa chọn mang tính bước ngoặt, mở ra cơ hội sống cao hơn cho em bé”, bác sĩ Hưng nói.
Quá trình giữ thai 13 tuần với phác đồ điều trị nghiêm ngặt, điều chỉnh liên tục. Bệnh nhân phải kiểm soát nhiễm trùng chặt chẽ. Thai phát triển, tăng cân đều nhưng chậm.
Sáng 15/4, thai được 38 tuần, bác sĩ hội chẩn quyết định mổ lấy thai. Bé trai chào đời nặng 2,4 kg. Tình trạng ổn định. Bé gái nặng 1,8 kg, tự thở, tự ăn, phản xạ tốt.
Theo bác sĩ, thai thứ hai được giữ thêm 13 tuần sau khi thai một đã sinh là khoảng thời gian rất dài, hiếm gặp, bước tiến quan trọng trong sản khoa, mở ra cơ hội cho các ca song thai nguy cơ cao.
Bác sĩ khuyến cáo sản phụ cần theo dõi thai kỳ chặt chẽ bằng siêu âm 4D, doppler màu, đo tim thai… để phát hiện sớm bất thường. Nhờ đó, bác sĩ khám, siêu âm thai định kỳ mới đưa ra hướng xử trí phù hợp, an toàn cho mẹ và bé.
Ngày 22-4, Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á Vĩnh Long cho biết mới đây đã tiếp nhận liên tiếp 2 trường hợp trẻ em tại xã Tân Long Hội nhập cấp cứu trong tình trạng mệt lả, nôn ói nhiều, kèm đau đầu sau khi vô tình nuốt phải mủ hoa sứ.
Đây không phải là tình huống cá biệt, mà chỉ là một phần trong số nhiều ca tương tự đã được ghi nhận tại địa phương, cho thấy nguy cơ ngộ độc từ loại cây cảnh quen thuộc này đang bị xem nhẹ.
Ngay khi tiếp nhận tại khoa cấp cứu, các bệnh nhi được đánh giá nhanh tình trạng toàn thân, theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn và mức độ ngộ độc.
Bác sĩ lập tức triển khai các biện pháp xử trí ban đầu như: bù dịch, kiểm soát nôn ói nhằm ổn định tình trạng. Sau đó bệnh nhân được chuyển đến khoa nhi để tiếp tục điều trị chuyên sâu.
Tại khoa nhi, các bác sĩ chỉ định sử dụng than hoạt tính nhằm hạn chế hấp thu độc chất còn lại trong đường tiêu hóa, đồng thời theo dõi chặt chẽ các biến chứng có thể xảy ra trên tim mạch, thần kinh và tiêu hóa.
Theo bác sĩ Trần Đăng Khoa - Trưởng khoa nhi Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á Vĩnh Long, hoa sứ, đặc biệt là sứ Thái (còn gọi là sứ sa mạc), chứa nhóm hoạt chất glycosid tim, một loại độc chất có khả năng tác động trực tiếp lên cơ tim.
Độc tính hiện diện ở toàn bộ cây, từ mủ, thân, lá đến hoa. Khi xâm nhập cơ thể, các chất này không chỉ gây kích ứng niêm mạc tiêu hóa với biểu hiện nôn ói, đau bụng mà còn có thể ảnh hưởng đến hệ tim mạch, gây rối loạn nhịp tim, tụt huyết áp.
Trong những trường hợp nặng, nguy cơ biến chứng có thể đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời.
Điều đáng lo ngại là mủ cây sứ có màu trắng đục như sữa, dễ khiến trẻ nhỏ tò mò, trong khi hoa có hình dạng đẹp mắt, dễ bị nhầm lẫn là có thể ăn được. Những yếu tố nguy cơ này tồn tại ngay trong không gian sống quen thuộc như sân vườn, nhưng lại thường bị người lớn chủ quan bỏ qua.
Chiều 10-4, theo thông tin từ Bệnh viện Tai mũi họng TP.HCM, các bác sĩ tại đây vừa điều trị thành công một trường hợp biến chứng nặng do viêm xoang. Đó là anh H., 20 tuổi, ngụ tại TP.HCM. Trường hợp này được đánh giá là điển hình cho mức độ nguy hiểm của bệnh viêm xoang khi không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Anh H. được chẩn đoán viêm đa xoang hai bên, trong đó tình trạng viêm bên phải nặng hơn, kèm theo viêm lan ra phần mềm vùng trán phải. Đáng chú ý, bệnh nhân đã bị hủy xương thành trước xoang trán phải, trên nền vẹo vách ngăn mũi trái và quá phát cuốn mũi dưới hai bên. Đây là những yếu tố làm cản trở dẫn lưu tự nhiên của xoang, khiến bệnh dễ tiến triển nặng.
Trước khi nhập viện khoảng 4 ngày, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng chảy mũi mủ đục bên phải kèm đau đầu dữ dội vùng trán. Tuy nhiên do chủ quan, bệnh nhân tự mua thuốc điều trị ngoại trú nhưng không cải thiện. Đến ngày thứ tư, vùng trán phải bắt đầu sưng nề, đỏ, lan xuống mi mắt phải, đây là dấu hiệu cảnh báo biến chứng nguy hiểm.
Kết quả chụp CT mũi xoang cho thấy tình trạng viêm đa xoang rõ rệt, đặc biệt bên phải. Hình ảnh học ghi nhận tổn thương lan từ xoang trán phải ra phần mềm vùng trán, kèm theo khuyết xương thành trước xoang trán. Đây là biểu hiện điển hình của biến chứng Pott's Puffy Tumor - một dạng viêm xương trán kèm áp xe dưới màng xương.
Ngay sau khi nhập viện, bệnh nhân được điều trị nội khoa tích cực bằng kháng sinh phổ rộng kết hợp thuốc kháng viêm đường tĩnh mạch. Việc này giúp kiểm soát nhanh tình trạng nhiễm trùng và giảm phù nề niêm mạc, tạo điều kiện thuận lợi cho can thiệp phẫu thuật.
Sau một ngày điều trị, khi tình trạng ổn định hơn, ê kíp bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật nội soi mũi xoang với sự hỗ trợ của hệ thống định vị 3 chiều hiện đại. Công nghệ này cho phép xác định chính xác vị trí tổn thương, giúp mở rộng lỗ thông các xoang, làm sạch ổ viêm và hút triệt để mủ đục bên trong.
Trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ đã lấy mẫu mủ gửi xét nghiệm, kết quả xác định tác nhân gây bệnh là vi khuẩn tụ cầu. Sau 3 ngày can thiệp, bệnh nhân có dấu hiệu hồi phục rõ rệt: vùng trán và hốc mắt hết sưng, không còn đau đầu, tình trạng chảy mũi chấm dứt hoàn toàn.
Theo các chuyên gia, Pott's Puffy Tumor không phải là khối u ác tính như nhiều người nhầm tưởng, mà là một biến chứng nhiễm trùng nặng của viêm xoang trán.
TS.BS Nguyễn Minh Hảo Hớn, trưởng khoa mũi xoang Bệnh viện Tai mũi họng, cho biết cơ chế gây bệnh liên quan đến cấu trúc xương trán mỏng và hệ thống tĩnh mạch xuyên xương không có van một chiều. Khi xoang bị bít tắc, áp lực mủ tăng cao có thể phá hủy xương, tạo áp xe dưới da, đồng thời vi khuẩn có thể lan ngược vào nội sọ, gây viêm màng não hoặc áp xe não.
Trường hợp bệnh nhân H.M.H đặc biệt phức tạp do có sự hiện diện của tế bào liên xoang trán khó tiếp cận, kết hợp với tình trạng viêm phù nề cấp tính gây bít tắc hoàn toàn. Điều này khiến việc xác định và dẫn lưu ổ mủ gặp nhiều khó khăn. Nhờ sự hỗ trợ của hệ thống định vị 3 chiều, ê kíp phẫu thuật đã xử lý chính xác tổn thương, hạn chế tối đa nguy cơ biến chứng.
PGS Lê Trần Quang Minh, Giám đốc Bệnh viện Tai mũi họng, cho biết theo các nghiên cứu quốc tế, có đến 72% bệnh nhân trẻ tuổi mắc biến chứng này có tổn thương lan vào nội sọ. Trước khi có kháng sinh, tỉ lệ tử vong của bệnh có thể lên đến hơn 60%. Vì vậy, việc phát hiện sớm và điều trị đúng cách đóng vai trò quyết định trong việc cứu sống người bệnh.
Các bác sĩ khuyến cáo người dân không nên chủ quan với các triệu chứng tưởng chừng đơn giản của viêm xoang.
Người dân cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa khi xuất hiện các dấu hiệu như đau đầu kéo dài không giảm, sưng nề vùng trán hoặc quanh mắt, chảy mũi mủ đục kèm sốt, ớn lạnh hoặc mệt mỏi. Việc thăm khám sớm giúp phát hiện bệnh kịp thời, tránh những biến chứng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng.
Tình trạng không thể uống hết 2 lít nước lọc một ngày không phải là dấu hiệu "yếu" mà cho thấy hệ thống điều hòa nước của cơ thể đang hoạt động hiệu quả. Các cơ chế sinh học như giảm cảm giác khát, tăng bài tiết nước tiểu và tạo cảm giác đầy bụng được thiết kế để ngăn cơ thể hấp thu quá nhiều nước trong thời gian ngắn.
Nước là nhu cầu sinh tồn nên cơ thể có cơ chế kiểm soát rất nghiêm ngặt. Chỉ cần nồng độ muối trong máu tăng nhẹ, não bộ lập tức phát tín hiệu khát để thúc đẩy việc uống nước. Ngược lại, khi cơ thể đã nhận đủ nước, các tín hiệu "tắt khát" sẽ được kích hoạt rất nhanh. Chỉ cần vài tín hiệu từ miệng, họng và dạ dày khi nước vừa được uống vào, não đã nhận biết rằng cơ thể sắp được bù nước. Khi đó, cảm giác khát giảm ngay cả trước khi nước được hấp thu hoàn toàn. Đồng thời, thận bắt đầu tăng thải nước tiểu để giữ cân bằng dịch.
Các nghiên cứu thần kinh học cho thấy khi cơ thể đã đủ nước, việc nuốt thêm trở nên khó khăn hơn rõ rệt. Điều này giải thích vì sao nhiều người cảm thấy rất khó uống tiếp khi đã uống quá nhiều nước.
Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác là cảm giác căng dạ dày. Khi uống nước liên tục, dạ dày nhanh chóng bị giãn ra và tạo cảm giác đầy bụng. Trong các thử nghiệm sinh lý, nhiều người bắt đầu cảm thấy "no nước" sau khoảng 400-700 ml.
Trái ngược với nước lọc, bia lại tác động đến cơ thể theo nhiều con đường khiến người uống dễ tiêu thụ nhiều hơn. Bia thường được uống lạnh, có ga và có hương vị đặc trưng. Các yếu tố này làm tăng cảm giác sảng khoái và dễ uống. Khí CO₂ trong bia còn có thể tạo ra hiện tượng ợ hơi, giúp giảm áp lực trong dạ dày, khiến người uống cảm thấy "nhẹ bụng" hơn dù lượng chất lỏng đã khá lớn.
Thứ hai là tác động của rượu lên não bộ. Ethanol trong bia là một chất hướng thần, có khả năng kích hoạt hệ thống thưởng của não, đặc biệt là hệ dopamine. Chỉ riêng mùi hoặc vị bia cũng có thể làm tăng cảm giác muốn uống thêm, ngay cả khi lượng cồn chưa đủ gây say.
Không chỉ vậy, rượu bia còn làm suy giảm khả năng kiểm soát hành vi. Khi nồng độ cồn trong máu tăng, não bộ trở nên kém nhạy với các tín hiệu nội cảm như đầy bụng hoặc "đủ rồi". Điều này khiến người uống dễ tiếp tục uống dù cơ thể đã bắt đầu quá tải. Khi uống nhiều bia trong thời gian dài, tổng lượng cồn lớn vẫn có thể gây mất nước, rối loạn điện giải và nhiều nguy cơ sức khỏe khác.
Bác sĩ Nguyễn Huy HoàngHội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam