Bà Sharon Simmons, mặc áo có dòng chữ “DoorDash Grandma”, bước đến cửa ngoài của Phòng Bầu dục và gõ cửa khi các máy quay truyền thông đang ghi hình. Khi đó, Tổng thống Trump bước ra và nói, “Chào. Rất vui được gặp bà”.
Sau đó, ông Trump nhìn về phía một nhóm phóng viên gần đó, nói thêm: “Việc này trông không giống dàn dựng, phải không?”.
Tất nhiên, đó là một màn dàn dựng, theo AP. Chỉ riêng việc vào khuôn viên Nhà Trắng đã cần phải được cấp phép trước và đi qua khu vực an ninh, trong khi việc vào Phòng Bầu dục, chưa kể đến việc được ở gần tổng thống – sẽ là điều không thể xảy ra nếu không có thêm các bước kiểm tra và xác minh lý lịch.
Tuy nhiên, Nhà Trắng vẫn đang cố gắng thu hút sự chú ý hơn nữa đến một phần trong gói chi tiêu và thuế do ông Trump ủng hộ. Gói này được thông qua vào mùa hè năm ngoái, cho phép người Mỹ tạm thời khấu trừ một số khoản thuế liên bang từ thu nhập kiếm được từ tiền boa.
Hôm 13.4, bà Simmons đã kể lại việc những thay đổi về thuế đã giúp giảm số tiền thu nhập mà bà phải khai báo. Sau đó, bà Simmons nói với các phóng viên rằng bà đã kiếm được hơn 11.000 USD tiền boa mỗi năm.
Ông Trump sau đó hỏi bà Simmons: “Bà có muốn tham gia một cuộc họp báo nhỏ với tôi không?” và đề nghị bà đứng cạnh ông trong tình huống khá gượng gạo khi nhà lãnh đạo Mỹ trả lời các câu hỏi về lời đe dọa phong tỏa eo biển Hormuz và việc ông từ chối xin lỗi Giáo hoàng Leo.
Khi một phóng viên sau đó hỏi liệu Nhà Trắng có hào phóng trong việc boa tiền hay không, bà Simmons ngập ngừng: “Ừm… có thể”.
“Chờ đã”, ông Trump nói, rồi thò tay vào túi lấy tờ 100 USD đưa cho bà Simmons. Bà nhận tiền, cười và nói thêm: “Vâng, rất hào phóng”, khi Tổng thống Trump vỗ nhẹ vào lưng bà và mỉm cười.
Ông Trump cũng đã mời bà Simmons và chồng đến xem một trận đấu võ của công ty UFC mà ông đang hỗ trợ tổ chức trên bãi cỏ Nhà Trắng để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của mình vào tháng 6, theo AP.
Theo Hãng tin Reuters, ngày 18-4, Úc và Nhật Bản đã ký các hợp đồng, chính thức khởi động thỏa thuận mang tính bước ngoặt trị giá 10 tỉ AUD (khoảng 7 tỉ USD) nhằm cung cấp tàu chiến cho Úc.
Đây được xem là thương vụ bán vũ khí quan trọng nhất của Tokyo kể từ khi dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí ra nước ngoài năm 2014, và đồng thời là thương vụ xuất khẩu quốc phòng lớn nhất của nước này từ sau Thế chiến II.
Theo Bộ Quốc phòng Úc, hai Bộ trưởng Quốc phòng Richard Marles và Koizumi Shinjiro đã ký kết tại Melbourne, xác nhận cam kết chung trong việc triển khai chương trình đóng tàu hộ vệ đa năng cho Hải quân Hoàng gia Úc.
Theo kế hoạch, ba tàu đầu tiên sẽ do Tập đoàn Mitsubishi Heavy Industries đóng tại Nhật Bản và dự kiến bàn giao từ năm 2029, sau đó chuyển sang giai đoạn đóng tám tàu còn lại tại xưởng Henderson ở Tây Úc.
Thỏa thuận này nằm trong kế hoạch tăng cường năng lực quân sự quy mô lớn của Canberra, với mục tiêu mở rộng đội tàu chiến chủ lực từ 11 lên 26 chiếc trong thập kỷ tới.
Các tàu hộ vệ lớp Mogami cải tiến được thiết kế theo hướng tàng hình, có khả năng săn ngầm, tấn công tàu mặt nước và phòng không, phục vụ bảo vệ các tuyến hàng hải chiến lược và khu vực phía bắc của Úc tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Giới chức Úc cũng đánh giá đây là thương vụ mua sắm nhanh nhất của hải quân nước này trong thời bình, đồng thời nhấn mạnh các tàu mới thuộc nhóm hiện đại nhất thế giới trong phân khúc tàu hộ vệ đa năng.
Hợp đồng lần này cũng cho thấy sự hợp tác chặt chẽ giữa ngành công nghiệp quốc phòng hai nước.
Về phía Nhật Bản, thỏa thuận được xem là bước đi tiếp theo trong quá trình điều chỉnh chính sách an ninh, khi Tokyo ngày càng mở rộng hợp tác quốc phòng ngoài khuôn khổ liên minh với Mỹ. Việc xuất khẩu tàu chiến cho Úc cũng phản ánh nỗ lực tăng cường liên kết với các đối tác cùng chí hướng trong khu vực.
Hợp đồng này được Mitsubishi Heavy Industries giành được sau khi vượt qua đối thủ Đức Thyssenkrupp Marine Systems.
Úc và Nhật Bản đều là thành viên của cơ chế hợp tác an ninh "Bộ tứ" (Quad) cùng với Mỹ và Ấn Độ, trong bối cảnh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương chứng kiến cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng, đặc biệt khi sự hiện diện quân sự của Trung Quốc mở rộng.
Thỏa thuận ấy còn là sự kết hợp lợi ích chiến lược riêng của từng bên với lợi ích chiến lược chung của cả hai.
Xuất khẩu kỹ thuật và công nghệ quân sự quốc phòng không chỉ đơn thuần là chuyện lợi ích kinh tế và thương mại đối với Nhật Bản mà trước hết phục vụ mục tiêu chiến lược lâu dài mà Tokyo kiên định theo đuổi bấy lâu nay là gây dựng và tăng cường vai trò và ảnh hưởng, đặc biệt ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Trên nhiều phương diện, Nhật Bản và Úc thật sự là những đối tác lý tưởng của nhau, đồng sàng đồng mộng và cùng hội cùng thuyền. Thỏa thuận mới giúp Nhật Bản và Úc củng cố cái gọi là "trục liên kết đối tác" trong mạng lưới các mối liên kết và liên thủ song phương cũng như đa phương mà từng bên đã gây dựng về quân sự, quốc phòng và an ninh với các đối tác và đồng minh trong cũng như ngoài khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Đối với Úc, tàu chiến này của Nhật Bản là sự bổ sung tuyệt hảo cho liên minh an ninh ba bên giữa Mỹ, Anh và Úc (AUKUS). Úc có được sự bổ sung ấy thì Nhật Bản cũng chẳng khác nào gây dựng được thế đứng chân trong, chân ngoài với AUKUS thông qua Úc.
Theo báo South China Morning Post ngày 20-4, dữ liệu mới công bố từ cơ quan hải quan Trung Quốc cho biết nhập khẩu từ Iran trong tháng 3-2026 đã giảm 48% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi xuất khẩu sang nước này lao dốc tới 90%.
Trên phạm vi rộng hơn, xuất khẩu của Trung Quốc sang tám nền kinh tế vùng vịnh Ba Tư - bao gồm Saudi Arabia và Qatar - giảm 57%, còn nhập khẩu giảm gần 33%.
Nguyên nhân chính của sự sụt giảm này đến từ eo biển Hormuz - tuyến hàng hải huyết mạch của thế giới - bị hạn chế nghiêm trọng, trong bối cảnh xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran leo thang.
Trong tháng 3, nhập khẩu dầu của Trung Quốc từ khu vực vùng Vịnh đã giảm 25% so với cùng kỳ, phản ánh rõ mức độ ảnh hưởng của việc tắc nghẽn tuyến đường này.
Tình hình trở nên phức tạp hơn khi Iran từng mở lại eo biển trong thời gian ngắn, nhưng nhanh chóng đảo ngược quyết định chỉ sau một ngày, trong khi Mỹ duy trì phong tỏa hải quân đối với các tàu ra và vào cảng Iran.
Các chuyên gia nhận định eo biển Hormuz giờ đây không chỉ là tuyến vận chuyển năng lượng, mà đã trở thành một đòn bẩy địa chính trị quan trọng.
Theo ông Alfredo Montufar-Helu từ công ty tư vấn Ankura China Advisors có trụ sở ở Mỹ, ngay cả khi đạt được lệnh ngừng bắn, chi phí bảo hiểm năng lượng và vận tải biển vẫn khó giảm do rủi ro an ninh còn kéo dài.
Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã tìm cách giảm thiểu thiệt hại bằng cách tăng nhập khẩu từ Nga, Indonesia và Malaysia. Nhờ vậy, tổng mức suy giảm nhập khẩu dầu của nước này chỉ ở mức 2,24% - thấp hơn nhiều so với mức giảm từ riêng khu vực vùng Vịnh.
Tuy nhiên, không phải mọi mặt hàng đều có thể bù đắp dễ dàng. Nguồn cung lưu huỳnh - hơn một nửa vốn phụ thuộc vào Trung Đông - đã giảm tới 42% trong thời gian xung đột, cho thấy những điểm nghẽn khó thay thế trong chuỗi cung ứng.
Triển vọng ngừng bắn sắp tới vẫn cho thấy nhiều bất ổn. Lệnh ngừng bắn mong manh giữa Mỹ - Iran dự kiến hết hiệu lực trong tuần này, làm dấy lên nguy cơ xung đột tái leo thang.
Sự bất định này không chỉ ảnh hưởng đến thương mại và năng lượng, mà còn lan sang nội bộ Mỹ. Cuộc khảo sát của Đài NBC News ngày 19-4 cho thấy tỉ lệ ủng hộ Tổng thống Trump đã giảm xuống 37%, trong bối cảnh người dân lo ngại về tình hình kinh tế và cách xử lý khủng hoảng Iran.
Theo giới phân tích, giá năng lượng duy trì ở mức cao sẽ tiếp tục gây áp lực buộc Washington phải tìm kiếm giải pháp.
Tuy nhiên, các yêu cầu cốt lõi của Mỹ - như việc Iran từ bỏ chương trình hạt nhân - vẫn là "lằn ranh đỏ" đối với Tehran, khiến khả năng đạt được đột phá trong đàm phán trở nên mong manh.