Tết 2022, Mai Trâm bước lên bàn cân và nhìn thấy con số 117 kg. Cô 21 tuổi không mặc vừa bất kỳ bộ đồ nào trong những tấm ảnh gia đình chụp ngày Tết. Suốt những năm phổ thông ở TP HCM, Trâm sợ đến trường vì bị bạn bè miệt thị ngoại hình. Cô hạn chế gặp gỡ, thu mình lại.
Ngay trong gia đình, khi ai đó buột miệng “Mẹ đẹp vậy sao con lại như thế này?”, cô mang mặc cảm đó về phòng và không nói với ai. Cân nặng với Trâm lúc ấy là “một lớp vỏ ngăn cách mình với thế giới”.
Hơn hai năm sau, cô sinh viên đại học duy trì cân nặng 58-60 kg, giảm gần 60 kg so với thời điểm nặng nhất. Số đo hình thể đạt 93-66-98 cm. Chiều cao tăng thêm 3 cm, từ 1,64 m lên 1,67 m, nhờ các bài tập cải thiện tư thế kết hợp vận động đều đặn.
Trâm không dùng thuốc, không nhờ can thiệp y tế. Cô bắt đầu bằng cách chậm nhất có thể vì không có lựa chọn nào khác. “Lúc đó cơ thể tôi rất nặng, nếu tập mạnh sẽ ảnh hưởng đến khớp”, cô nói.
Khi vượt ngưỡng 100 kg, áp lực lên khớp gối của một người ở mức cân nặng đó tương đương gấp 4-6 lần trọng lượng cơ thể khi di chuyển, theo các nghiên cứu về cơ xương khớp. Thay vì tập luyện cường độ cao, Trâm giảm khẩu phần ăn và đi bộ chậm mỗi ngày.
Chế độ ăn cô áp dụng là Eat Clean kết hợp nhịn ăn gián đoạn 16:8, tức nhịn 16 giờ liên tục và ăn trong khung 8 giờ. Cô ưu tiên thực phẩm nguyên chất, hấp luộc hoặc dùng nồi chiên không dầu, nấu tại nhà để kiểm soát lượng calo. Canh chỉ nêm rất ít muối, lấy vị ngọt từ rau. Bún, phở vẫn ăn bình thường nhưng giảm tinh bột, lấy vị ngọt từ tôm hoặc củ cải thay vì gia vị công nghiệp, sốt nấu từ cà chua tươi, đường trắng được thay bằng mật ong hoặc đường cỏ ngọt.
“Tôi ăn đủ đạm, chất xơ và vẫn giữ tinh bột nhưng ở mức hạn chế. Quan trọng là hiểu cơ thể cần gì thay vì ép bản thân”, Trâm nói.
Theo khuyến nghị của các chuyên gia dinh dưỡng, một chế độ ăn khoa học cần đủ 6 nhóm chất gồm đạm, béo, bột đường, rau, trái cây và sữa. Cắt giảm bất kỳ nhóm nào có thể dẫn đến mệt mỏi, hạ đường huyết, và về lâu dài làm suy giảm hệ miễn dịch. Trâm không cắt, mà điều chỉnh tỷ lệ và nguồn gốc thực phẩm.
Khi cân nặng hạ xuống, cô mới tăng dần cường độ vận động: từ đi bộ chuyển sang cardio, rồi tập kháng lực để giữ cơ thể săn chắc. Lịch tập từ thứ Hai đến Chủ nhật, không nghỉ dù mưa hay mệt.
Khoảnh khắc Trâm thực sự nhận ra sự thay đổi không phải là lần bước lên cân, mà là lần chụp ảnh áo dài trước dịp 2/9. Khi mặc vừa áo dài size S tại tiệm, cô hỏi lại nhân viên vì sợ mình nhầm.
Trong suốt hành trình, người cha gọi cô là “con heo vàng”, một cách trêu đùa mang đầy âu yếm mà cô nói là nguồn động lực lớn nhất giúp mình không bỏ cuộc.
“Giảm cân là hành trình phải đánh đổi mồ hôi, công sức và thời gian. Khi vượt qua được, mình sẽ tự tin và trân trọng mình nhiều hơn”, Trâm nói.
Trong nghiên cứu mới công bố trên International Journal of Osteoarchaeology, dựa trên phân tích di hài người tiền sử tại Việt Nam, nhóm nhà khoa học Úc - Việt Nam - New Zealand - Nhật Bản phát hiện dấu vết của một nhóm bệnh có biểu hiện "tương tự giang mai" đã tồn tại từ hàng nghìn năm trước và đặc biệt có thể lây truyền từ mẹ sang con.
Nghiên cứu đã phân tích 309 bộ hài cốt từ 16 địa điểm khảo cổ, có niên đại từ khoảng 10.000 đến 1.000 năm trước. Trong số này, ba bộ hài cốt trẻ em, khoảng 2,5 đến 18 tuổi, cho thấy những dấu hiệu rõ rệt của bệnh lý.
Theo công bố, các di hài này được tìm thấy tại miền Bắc và miền Nam nước ta, có niên đại khoảng 4.100 đến 3.300 năm trước.
Qua phân tích X-quang và cấu trúc xương, các nhà nghiên cứu phát hiện những tổn thương đặc trưng ở xương và bất thường ở răng, dấu hiệu điển hình của nhóm bệnh xoắn khuẩn đặc hữu treponematosis. Nhóm bệnh này bao gồm giang mai, ghẻ cóc (yaws), bejel và pinta.
Điểm đáng chú ý là các dấu hiệu trên không hoàn toàn phù hợp với giang mai cổ điển, mà nhiều khả năng là một dạng bệnh không lây qua đường tình dục, chẳng hạn như ghẻ cóc.
Trước đây giới khoa học cho rằng chỉ giang mai mới có thể lây truyền từ mẹ sang con (giang mai bẩm sinh). Chính giả định này đã củng cố giả thuyết bệnh xuất hiện muộn trong lịch sử nhân loại.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy các bệnh do xoắn khuẩn đặc hữu treponematosis không lây qua đường tình dục cũng có thể truyền từ mẹ sang thai nhi. Điều này làm thay đổi cách hiểu về các bằng chứng khảo cổ học trước đây.
Tiến sĩ Melandri Vlok, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết phát hiện này cho thấy cần xem xét lại nhiều trường hợp từng được chẩn đoán là giang mai bẩm sinh trong quá khứ.
Từ lâu, giả thuyết "Columbus mang giang mai từ Tân Thế giới về châu Âu" được xem là một trong những nền tảng quan trọng trong lịch sử y học. Tuy nhiên, nếu các bệnh tương tự đã tồn tại ở châu Á từ hàng nghìn năm trước, giả thuyết này có thể không còn chính xác.
Nhà nghiên cứu Nicola Czaplinski nhận định rằng phát hiện mới cho thấy giới khoa học vẫn còn rất xa mới có thể giải mã hoàn toàn nguồn gốc của giang mai.
Không chỉ là câu chuyện về quá khứ, nghiên cứu này còn có ý nghĩa quan trọng đối với y học hiện đại. Việc hiểu rõ cách các bệnh truyền nhiễm tiến hóa và lây lan qua thời gian có thể giúp cải thiện chẩn đoán và điều trị ngày nay.
Đặc biệt, phát hiện về khả năng lây truyền bẩm sinh ở các bệnh không lây qua đường tình dục có thể buộc các nhà khoa học phải đánh giá lại dữ liệu bệnh học trong cả hiện tại và quá khứ.
Dù mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, phát hiện từ Việt Nam cũng cho thấy còn rất nhiều khoảng trống trong hiểu biết về lịch sử bệnh tật của loài người. Những gì được tìm thấy chỉ là một phần nhỏ trong bức tranh lớn về tiến hóa của các bệnh truyền nhiễm.
Trong khi đó, các nhà khoa học tiếp tục mở rộng nghiên cứu sang nhiều khu vực khác, với hy vọng một ngày nào đó có thể trả lời câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng đầy phức tạp: giang mai thực sự bắt nguồn từ đâu.
Ngày 7/4, BS.CK2 Nguyễn Minh Tiến, Bệnh viện Nguyễn Trãi, cho biết bệnh nhân vào viện với khối u vùng niêm mạc má trái, kích thước khoảng 3x3 cm. Trước đó, người bệnh phát hiện tổn thương trong miệng, khối cứng tăng dần kích thước, đau nhẹ khi ăn nhai, nhưng nghĩ là loét thông thường nên không đi khám sớm.
Thăm khám, sinh thiết xác định bệnh nhân mắc ung thư niêm mạc má. Kết quả MRI cho thấy khối u đã xâm lấn sâu vào khoang má, chưa ghi nhận di căn xa. Do nguy cơ ảnh hưởng ăn nhai và nuốt, các bác sĩ hội chẩn và tiến hành mở thông dạ dày nuôi ăn trước khi phẫu thuật cắt rộng khối u, nạo hạch cổ và tái tạo bằng vạt dưới cằm.
Sau mổ, bệnh nhân hồi phục thuận lợi, vết mổ khô, lành tốt, được nuôi ăn qua sonde dạ dày và xuất viện sau 5 ngày. Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy khối u đã được cắt bỏ hết.
Theo bác sĩ Tiến, phẫu thuật cắt rộng kết hợp nạo hạch và tái tạo tức thì bằng vạt dưới cằm giúp điều trị triệt căn, hạn chế biến dạng khuôn mặt, đồng thời cải thiện khả năng ăn nhai và phát âm sau mổ. Việc chuẩn bị dinh dưỡng trước phẫu thuật cũng góp phần giảm biến chứng và rút ngắn thời gian hồi phục.
Ung thư niêm mạc má thường khởi phát bằng những tổn thương nhỏ, dễ nhầm với loét miệng thông thường. Bác sĩ khuyến cáo người dân cần đi khám sớm khi có dấu hiệu loét miệng kéo dài trên 2 tuần không lành, xuất hiện khối cứng trong khoang miệng hoặc chảy máu bất thường. Người trên 40 tuổi, có thói quen hút thuốc, uống rượu nên tầm soát định kỳ để phát hiện bệnh sớm.
Tại Nghị quyết 72/NQ/TW ngày 9/9/2025 về một số giải pháp đột phá tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, Bộ Chính trị đã quyết định lấy ngày 7/4 hằng năm là Ngày Sức khỏe toàn dân, và năm 2026 là năm đầu tiên triển khai với chủ đề: “Chủ động phòng bệnh - Vì một Việt Nam khỏe mạnh”.
Từ năm 2026, người dân sẽ được khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc miễn phí ít nhất một lần mỗi năm. Xa hơn, đến năm 2030, chính sách hướng tới miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình.
Trong bối cảnh mới, hệ thống y tế Việt Nam đang từng bước chuyển hướng từ mô hình tập trung vào điều trị sang chú trọng nhiều hơn đến dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Phóng viên báo Dân trí đã ghi nhận nhiều tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ y bác sĩ về việc tiến tới bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ tầm soát cơ bản, phát hiện sớm và quản lý sức khỏe ngay từ cộng đồng.
Đây được xem là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng sống và tuổi thọ của người dân.