Trưa thứ ba, đón chuyến tàu metro số 1 từ ga Bến Thành xuống ga Thủ Đức (TP.HCM), chúng tôi khá ngạc nhiên khi nhà ga đông đúc hơn tưởng tượng, dù lúc đó đã 10 giờ 30, qua khung giờ cao điểm sáng. Dưới cái nắng đổ lửa của TP.HCM những ngày nắng nóng gay gắt, những bước chân vội vã chạy vào nhà ga ngầm mát rượi như cái tủ lạnh khổng lồ giữa lòng “chảo lửa”. Từ sinh viên, người cao tuổi, và không ít người nước ngoài… đa số đều quẹt thẻ tháng hoặc quét CCCD vào cổng soát vé một cách thuần thục, khác hẳn vẻ loay hoay của những ngày đầu tiên đi tàu.
Trên chuyến tàu trở lại trung tâm TP từ ga Thủ Đức, số lượng người đứng trước ke ga chờ tàu tới còn đông hơn chuyến đi. Đó là lúc các bạn sinh viên bắt đầu tới trường học ca chiều. Nhẹ nhàng tháo tai nghe khi thấy chúng tôi có ý định hỏi chuyện, bạn Ngọc Quỳnh (sinh viên năm hai, Trường ĐH Luật TP.HCM) cho biết năm nhất, Quỳnh ở trọ ngay đường Nguyễn Tất Thành (Q.4 cũ), gần trường nên hằng ngày đi học bằng “chân”, không phải lo xe cộ. Tới năm hai, Ngọc Quỳnh chuyển xuống nhà chị gái ở P.Bình Thọ (Thủ Đức cũ) để tiết kiệm tiền thuê trọ. Thế nhưng vừa ra tết thì giá xăng tăng phi mã, mỗi lần đổ xăng “xót hết cả ruột” nên cô gái trẻ chuyển qua đi bằng metro.
“Từ nhà chị em đi bộ ra ga Thủ Đức chỉ mất 5 phút, sau đó lên tàu đi khoảng 20 phút là tới ga Bến Thành. Ngay gần đó là trạm trung chuyển xe buýt, bắt tuyến 155 hoặc D4 là có xe buýt điện đưa tới sát trường luôn. Sinh viên như bọn em dùng vé tháng nên đi rẻ lắm, tính ra tiết kiệm cả triệu bạc tiền xăng so với đi xe máy. Thật ra lúc đầu em chỉ nghĩ đi tàu metro cho đỡ tốn tiền thôi, nhưng mà “tòa thử chơi là tòa nghiện đấy”. Lên tàu mát lạnh, em chỉ việc ung dung nghe nhạc, đọc sách, không phải lo kẹt xe, khói bụi như trước. Những ngày nắng nóng thế này, đi đâu được bằng metro đúng đỉnh. Đến với tàu vì tránh “bão giá xăng rồi chọn ở lại luôn để né nắng bụi””, Ngọc Quỳnh hài hước nói.
Ngồi sát bên Ngọc Quỳnh, cô Loan (khoảng ngoài 60 tuổi) cũng đồng tình đi tàu điện vừa mát, vừa sạch sẽ. Hằng ngày cô đều đi tàu từ nhà ở gần ga Bình Thái tới ga Công viên Văn Thánh rồi đi xe ôm công nghệ hoặc gọi con gái ra đón về thăm cháu ngoại. “Lúc mới có tàu metro, cô với ông nhà cũng đi thử cho biết, nhưng ngại nhất khâu mua vé. Mình già rồi, chậm nên đi đâu cũng phải đi cùng con hoặc ông xã thì mới được. Từ ngày metro cho đi bằng CCCD, cứ quẹt qua cái là đi thôi. TP cũng mới có 1 tuyến nên chưa sợ lộn tàu. Ngày nào cô cũng qua trông cháu phụ con, lúc nào ông nhà bận thì cô đi một mình cũng vô tư. Đi vé tháng đỡ tốn hơn chạy xe, gọi xe ôm”, cô Loan chia sẻ.
Chưa bao giờ người dân TP.HCM lại “mê” giao thông công cộng (GTCC) như hiện nay. Nếu như trước đây, việc vận động người dân bỏ xe cá nhân để lên xe buýt hay tàu điện luôn vấp phải những rào cản về tâm lý và sự tiện lợi, thì nay chính áp lực từ túi tiền đã tự tạo động lực thúc đẩy người dân.
Theo Công ty TNHH MTV Đường sắt đô thị số 1, lưu lượng khách đi metro số 1 tăng đột biến từ đầu tháng 3 và duy trì ổn định cho đến nay. Mỗi ngày, metro số 1 phục vụ gần 70.000 lượt khách. Không chỉ metro, Trung tâm Quản lý GTCC TP.HCM cũng ghi nhận nhu cầu đi xe buýt tăng vọt từ sau khi giá xăng tăng do xung đột Trung Đông. Tính chung cả metro và xe buýt, bình quân mỗi ngày có khoảng 340.000 lượt người dân TP.HCM sử dụng phương tiện GTCC, tăng 35% so với cuối tháng 2 và cao hơn 12% so với cùng kỳ năm 2025.
Điều đặc biệt là tỷ lệ hành khách sử dụng vé tháng và các hình thức thanh toán không tiền mặt tăng vọt, chiếm hơn 60% tổng lượng khách, cho thấy nhu cầu di chuyển thường xuyên, dài hạn.
Tại Hà Nội, tuyến metro Cát Linh – Hà Đông cũng không nằm ngoài xu hướng khi duy trì lượng khách ổn định ở mức 35.000 – 40.000 lượt mỗi ngày thường và tăng mạnh vào cuối tuần. Tổng cộng trong 3 tháng đầu năm, đường sắt đô thị 2 miền đã vận chuyển hơn 6 triệu lượt hành khách, một con số vượt xa mọi kịch bản dự báo lạc quan nhất của giai đoạn trước.
Ở phân khúc phương tiện cá nhân, “cơn bão” giá xăng dầu cũng đang tạo ra một làn sóng chuyển đổi phương tiện lớn nhất trong thập niên qua: người người, nhà nhà đang ồ ạt từ bỏ xe động cơ đốt trong để tìm đến xe điện.
Thống kê cho thấy lượng người dùng tìm kiếm từ khóa “so sánh chi phí xe điện và xe xăng” đã tăng vọt 60% chỉ trong 2 tháng qua, nhất là xe máy điện. Những cái tên nổi bật như VinFast, Yadea, Pega, Selex Motors, Dat Bike, Before All… không chỉ gia nhập thị trường mà còn nhanh chóng mở rộng quy mô, gia tăng độ phủ cả về sản phẩm lẫn hệ thống phân phối.
Các hãng này liên tục tung ra mẫu xe mới, đồng thời đầu tư bài bản vào sản xuất và hạ tầng đi kèm như trạm sạc, trạm đổi pin, mạng lưới đại lý và dịch vụ hậu mãi. Nhờ đó, xe máy điện dần thoát khỏi hình ảnh sản phẩm ngách, từng bước tiếp cận đa dạng nhóm khách hàng, từ người dùng cá nhân đến các doanh nghiệp vận hành giao hàng, logistics. Mới đây, VinFast ghi nhận hơn 135.000 đơn đặt hàng, xuất xưởng hơn 93.000 xe máy điện trong tháng 3, mức cao nhất từ trước đến nay.
Theo các đại lý xe máy điện, nhu cầu tăng cao những ngày gần đây do cộng hưởng của nhiều yếu tố. Ngoài cơn bão giá xăng dầu, người dùng ở Hà Nội có xu hướng mua xe điện nhiều hơn còn do từ 1.7, nhiều tuyến đường ở nội đô cấm xe máy xăng theo giờ. Đổi sang xe điện thời điểm này vừa tiết kiệm rất nhiều chi phí và thời gian tiếp nhiên liệu, vừa không phải lo thích ứng với các quy định siết khí thải mạnh mẽ sắp tới. Đặc biệt, ngay trong tâm bão giá xăng, VinFast đã tung ra những chương trình hấp dẫn để hỗ trợ người dân chuyển đổi phương tiện nhanh chóng, dễ dàng hơn bao giờ hết.
Dạo một vòng qua bãi giữ xe của các tòa nhà văn phòng tại khu vực Q.1 (cũ) hay các khu chung cư lớn ở Q.7 (cũ) của TP.HCM, có thể thấy sự hiện diện dày đặc của các dòng xe máy điện, ô tô điện cả nội địa lẫn nhập khẩu.
Theo tính toán, với mức giá xăng dầu biến động phức tạp như thời gian qua, chi phí để vận hành một chiếc xe máy điện trung bình chỉ rơi vào khoảng 10.000 – 15.000 đồng cho 100 km, trong khi xe xăng ngốn gấp 5 – 7 lần. Đối với ô tô điện, sự chênh lệch này còn rõ rệt hơn khi kết hợp với các chính sách miễn lệ phí trước bạ và giảm thuế tiêu thụ đặc biệt mà Chính phủ đã ban hành để khuyến khích xe xanh.
Đặc biệt, khác với GTCC nếu không nhanh chóng phủ mạng lưới để đạt tiện ích tối đa đủ sức giữ chân hành khách thì mọi người có thể sẽ vẫn ưu tiên xe cá nhân, khi một người quyết định từ bỏ chiếc xe xăng để chuyển sang xe điện, cuộc chuyển đổi này sẽ đồng nghĩa cam kết đồng hành lâu dài, bền vững với giao thông xanh.
Không bỏ lỡ cơ hội lịch sử từ nhu cầu thực tế đang bùng nổ, chính quyền TP.HCM và Hà Nội đang dồn lực triển khai hàng loạt chính sách nhằm xây dựng thói quen di chuyển mới cho người dân.
Đơn cử, thủ đô Hà Nội quyết liệt triển khai vùng phát thải thấp từ 1.7, từng bước hạn chế xe xăng theo lộ trình, tạo bước đệm tiến tới kiểm soát xe cá nhân. Cùng với đó, đẩy thật mạnh mạng lưới xe buýt điện – đưa vào vận hành 10 tuyến xe buýt điện với tổng số 288 phương tiện từ 1.4, đánh dấu bước tiến quan trọng trong lộ trình phát triển GTCC xanh của TP. Chính quyền TP cũng đã đặt mục tiêu chuyển đổi toàn bộ xe taxi sang sử dụng điện hoặc các dạng năng lượng thân thiện môi trường vào năm 2030.
Để thúc đẩy quá trình này, Sở Xây dựng Hà Nội đang xây dựng các chính sách hỗ trợ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp (DN) vận tải, bao gồm hỗ trợ lãi suất vay vốn, ưu đãi về chi phí trông giữ phương tiện và phát triển hệ thống trạm sạc điện.
Tại TP.HCM, dù các kế hoạch siết xe vào nội đô vẫn đang trong giai đoạn đề xuất, nhưng TP đã chủ động triển khai “mềm” bằng cách tăng cường mạng lưới xe buýt gom. Tính đến đầu tháng 3, TP.HCM đã đưa vào vận hành thêm 169 xe buýt điện mới (loại 30 – 60 chỗ) trên 9 tuyến, do VinBus vận hành. Tính tổng thể, hệ thống GTCC TP hiện có khoảng 47 tuyến buýt điện với 627 xe và 18 tuyến buýt CNG với 449 xe, chiếm hơn 56% năng lượng sạch, phủ sóng rộng khắp các trục đường từ hẻm ra tới ga metro. TP cũng đang nghiên cứu triển khai thí điểm các khu vực ưu tiên cho phương tiện xanh tại các lõi di sản, đồng thời nối dài các lộ trình xe đạp công cộng để tạo thành một hệ sinh thái giao thông hoàn chỉnh.
Các chính sách hỗ trợ cũng được ban hành liên tục, từ việc miễn phí vé cho các đối tượng chính sách, ưu đãi sâu cho vé tháng liên thông đến việc triển khai các điểm trông giữ xe máy miễn phí hoặc giá rẻ xung quanh các nhà ga metro. Tất cả những nỗ lực này không chỉ nhằm giải quyết bài toán ùn tắc, mà còn tận dụng tối đa “cú hích” từ giá xăng để thiết lập một thói quen di chuyển mới.
Không chỉ đường bộ, ngành hàng không cũng đang hưởng ứng lời kêu gọi tiết kiệm năng lượng vượt bão xăng dầu của Chính phủ để xây dựng kế hoạch thực hiện chuyển đổi phương tiện sử dụng năng lượng điện, nhiên liệu xanh.
Lộ trình mà Cục Hàng không VN đặt ra là từ năm 2027 – 2030, nghiên cứu sử dụng nhiên liệu thay thế để bổ sung một phần trong nhiên liệu hàng không; đồng thời hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về sử dụng năng lượng và tiêu thụ nhiên liệu của các DN hàng không. Từ năm 2035, Cục yêu cầu sử dụng tối thiểu 10% nhiên liệu bền vững cho một số chuyến bay ngắn; 100% phương tiện chở khách và phương tiện khác trong sân bay đầu tư mới sử dụng điện, năng lượng xanh.
Tương tự, ở ngành hàng hải, các DN cảng cũng đang nỗ lực chuyển đổi xanh để “hạ nhiệt” chi phí. Các cảng hiện đại tại Cái Mép hay Lạch Huyện, tỷ lệ điện hóa với hệ thống cẩu bờ và cẩu khung hiện đã đạt đến mức khá cao và đang cố gắng chuyển đổi tới đội xe đầu kéo.
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng (giảng viên cao cấp Viện Thương mại và kinh tế quốc tế, ĐH Kinh tế quốc dân) nhận định giá xăng dầu biến động mạnh chính là cơ hội rất tốt để thúc đẩy chuyển đổi sang giao thông xanh. Khi giá xăng dầu tăng, chi phí đi lại của người dân sẽ bị ảnh hưởng khá rõ, đặc biệt là với những người thường xuyên di chuyển. Vì vậy, họ sẽ có xu hướng điều chỉnh một số thói quen sinh hoạt để tiết kiệm nhiên liệu, như hạn chế những chuyến đi không cần thiết; ưu tiên đi bộ hoặc sử dụng xe đạp đối với những quãng đường ngắn; tăng cường sử dụng các phương tiện GTCC như xe buýt hoặc tàu điện đô thị nếu điều kiện cho phép. Đặc biệt, với hàng loạt chính sách ưu đãi dồn dập từ cả phía nhà nước cùng DN, sử dụng xe điện ngày càng chứng minh được lợi ích tiết kiệm vượt trội về chi phí vận hành. Sau một thời gian chuyển dịch, người dân sẽ cảm thấy nhiều lợi ích dài hạn như bản thân khỏe hơn, môi trường trong đô thị đỡ ô nhiễm hơn.
Dưới góc độ DN, việc giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch, chuyển sang các phương tiện sử dụng năng lượng xanh cũng sẽ góp phần rất lớn giảm chi phí sản xuất, ổn định hoạt động kinh doanh trong bối cảnh thị trường biến động nhất thời. Về lâu dài, việc này phù hợp với yêu cầu phát triển xanh của thế giới, tạo dựng được ưu thế khi cạnh tranh trên trường quốc tế.
Theo báo cáo kinh tế - xã hội quý 1/2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước (quý 1/2025 tăng 7,07%). Đây cũng là mức tăng GDP quý đầu năm cao nhất trong vòng 10 năm qua. Đáng chú ý, những lĩnh vực vốn được đánh giá sẽ chịu tác động trực tiếp ngay khi chiến sự tại Trung Đông nổ ra vẫn có sự bứt phá ngoạn mục. Trong đó, hoạt động xuất khẩu vẫn tăng cao bất chấp cước phí logistics nhảy vọt. Cụ thể, cước container đi Mỹ và EU tăng gấp 2 - 3 lần so với trước đó nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3 vẫn tăng đến 40,3% so với tháng 2 và tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này đưa xuất khẩu cả nước trong quý đầu năm đạt 122,93 tỉ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tương tự, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có sự đảo chiều ngoạn mục. Nếu như tháng đầu năm, vốn FDI đăng ký chỉ đạt khoảng 2,57 tỉ USD, giảm so với cùng kỳ năm trước và tổng cộng sau 2 tháng chỉ đạt hơn 6 tỉ USD thì bước sang tháng 3, vốn FDI nhảy vọt. Tổng cộng cả quý 1, VN thu hút vốn FDI đạt 15,2 tỉ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đà tăng của tổng số vốn đăng ký, vốn FDI thực hiện trong 3 tháng đầu năm đạt 5,41 tỉ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất của 3 tháng đầu năm trong 5 năm qua, tiếp tục giữ vững mức đỉnh liên tục cao nhất trong 5 năm trở lại đây của vốn giải ngân. Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) nhận định trong bối cảnh bất ổn địa chính trị thế giới gia tăng, nhiều tập đoàn đa quốc gia có xu hướng điều chỉnh chiến lược đầu tư theo hướng thận trọng hơn, ưu tiên tối ưu hóa chuỗi cung ứng hiện hữu và đánh giá lại kế hoạch mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn tiếp tục diễn ra, trong đó VN vẫn được đánh giá là điểm đến có sức hấp dẫn nhờ môi trường chính trị ổn định, mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng và vị trí thuận lợi trong chuỗi sản xuất khu vực.
Một lĩnh vực giữ vững phong độ dù bị tác động trực tiếp là du lịch. Số liệu công bố cho thấy trong tháng 3, VN đón gần 2,1 triệu lượt khách quốc tế, đánh dấu lần đầu tiên 3 tháng liên tiếp VN vượt mốc 2 triệu lượt khách quốc tế. Tổng cả quý 1, VN đón 6,76 triệu lượt khách quốc tế, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức cao nhất trong quý 1 từ trước đến nay. Tuy nhiên, nếu chỉ nói về mức tăng số lượng khách nước ngoài là chưa đủ bởi việc duy trì ở mức cao liên tục trong tháng 3 cho thấy trong mắt du khách, VN vẫn là điểm đến an toàn, hấp dẫn. Con số này càng trở nên ý nghĩa khi trong tháng 3, hàng loạt chuyến bay quốc tế bị hoãn, hủy cũng như giá vé máy bay nhảy vọt khiến nhiều người phải thay đổi kế hoạch du lịch. Thế nhưng, khách quốc tế đến VN vẫn tăng trưởng ổn định, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành thương mại và dịch vụ trong những tháng đầu năm...
Chuyên gia kinh tế, đại biểu Quốc hội, PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhận định kết quả tăng trưởng ấn tượng quý 1/2026 của VN không đến một cách tự nhiên mà là kết quả của quá trình cải cách, chuẩn bị trong thời gian vừa qua. Đó là cải cách thể chế, thực hiện chính quyền theo mô hình 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp phân quyền cho địa phương. "Xuất phát từ khát vọng, niềm tin của người dân từ các hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày đất nước thống nhất, kỷ niệm 80 năm thành lập nước, thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và cả dân tộc bước vào kỷ nguyên mới cũng góp phần tạo nên tăng trưởng kinh tế cao. Hơn nữa, kết quả đó cũng thể hiện sự điều hành sát sao, kịp thời của Chính phủ, đặc biệt trong bối cảnh bất ổn địa chính trị thế giới lên cao trong đầu năm nay", ông Trần Hoàng Ngân lý giải.
Đáng chú ý, trong bối cảnh nhiều quốc gia Đông Nam Á lao đao vì cú sốc năng lượng khi chiến sự tại Trung Đông bùng nổ từ cuối tháng 2, VN nổi lên như một điểm sáng hiếm hoi giữa cơn khủng hoảng được đánh giá là nghiêm trọng nhất trong nhiều thập niên khi giữ ổn định thị trường xăng dầu, duy trì nguồn cung năng lượng cho các hoạt động kinh tế - xã hội…
Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, từ đầu tháng 3 đến nay, tình hình thế giới bắt đầu có những biến động lớn. Căng thẳng tại khu vực Trung Đông, đặc biệt là xung đột giữa Iran và Mỹ - Israel đã tạo ra nguy cơ khủng hoảng năng lượng. Giá dầu thô tăng cực mạnh, chi phí logistics, phí bảo hiểm hàng hóa và chi phí vận chuyển đều tăng vọt. Nhờ Chính phủ có những chính sách kịp thời như giảm thuế, phí liên quan đến xăng dầu, sử dụng Quỹ bình ổn để bình ổn giá nhiên liệu, kịp thời cắt đứt tâm lý kỳ vọng lạm phát và tình trạng đầu cơ, tích trữ. "Chính sách phản ứng linh hoạt, đồng bộ đã giúp kinh tế trong nước vượt qua cú sốc lớn từ thế giới. Đồng thời, việc tiếp tục triển khai tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, các dự án tồn đọng hay giải ngân đầu tư công đã mang lại kết quả rõ nét. Cùng với sự điều hành linh hoạt của Chính phủ và sự đồng lòng của các địa phương, nhất là những đầu tàu kinh tế như TP.HCM, Hà Nội… chúng ta đã đạt được kết quả tích cực. Nếu không có cú sốc từ chiến sự ở khu vực Trung Đông, tăng trưởng kinh tế VN trong quý đầu năm nay có thể còn tăng cao hơn, vượt 8%", PGS-TS Trần Hoàng Ngân nhấn mạnh.
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng (Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, ĐH Kinh tế quốc dân) cũng đánh giá rất cao quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Bộ Chính trị. Bởi VN đã trải qua 40 năm đổi mới với nhiều thành tựu quan trọng nhưng vẫn thiếu những đột phá mang tính bước ngoặt, khiến nền kinh tế chưa thể vượt khỏi bẫy thu nhập trung bình. Nếu tiếp tục duy trì tốc độ phát triển như hiện nay, phải cần thêm hàng chục năm để hình thành nền công nghiệp hiện đại. Chưa kể, các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" đang hội tụ, nếu không kịp nắm bắt, cơ hội này sẽ khó lặp lại.
Với tinh thần đó, Chính phủ đã có ứng biến rất nhanh, rất linh hoạt trước cơn bão giá nhiên liệu bất ngờ ập tới. Mặc dù đã tích lũy được sức mạnh nội sinh vững chắc, song, với đặc thù phụ thuộc một phần vào năng lượng nhập khẩu, VN khó tránh khỏi những tác động lan tỏa từ thị trường quốc tế. Trong bối cảnh đó, nguồn cung xăng dầu trong nước vẫn cơ bản được bảo đảm, chuỗi cung ứng duy trì thông suốt, góp phần giảm áp lực lên sản xuất, kinh doanh và chi phí sinh hoạt của người dân. Một loạt quyết sách thuế mang tính "phòng thủ" và "trợ lực" rất mạnh mẽ, thậm chí hiếm thấy, như rút ngắn chu kỳ điều hành giá xăng dầu, đã được ban hành thần tốc, không chỉ giúp bình ổn tâm lý thị trường mà còn trực tiếp kiềm chế lạm phát trong bối cảnh áp lực chi phí đầu vào tăng cao. Đặc biệt, Chỉ thị 09 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông điện được PGS-TS Nguyễn Thường Lạng ví như "cơn mưa đúng lúc", giúp định hướng rõ ràng cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong việc ứng phó thách thức trước mắt, đồng thời chuẩn bị cho chiến lược dài hạn.
"Việc tăng cường tiết kiệm năng lượng được xem là giải pháp "hai trong một" khi vừa giúp giảm áp lực lên nguồn cung, vừa trực tiếp cắt giảm chi phí cho nền kinh tế. Có thể thấy, từ các biện pháp ngắn hạn đến định hướng dài hạn về cung ứng, dự trữ nguyên, nhiên liệu, các quyết định đều được đưa ra rất nhanh, linh hoạt, bám sát thực tiễn. Các quyết sách không chỉ hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô trong biến động ngắn hạn của thị trường năng lượng mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của những người lãnh đạo đất nước tiến tới một mô hình tăng trưởng bền vững hơn trong tương lai", PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhận xét.
Kết quả tăng trưởng quý 1 khả quan nhưng các chuyên gia kinh tế cũng cho rằng trong quý 2/2026, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động từ các biến động địa chính trị thế giới, dịch bệnh, thiên tai khó dự báo. Với sự kiên định từ Đảng và Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên thì nhiệm vụ của các quý còn lại trong năm rất nặng nề. PGS-TS Nguyễn Thường Lạng lưu ý trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, chính sách tài khóa và tiền tệ cần phải phối hợp nhịp nhàng, vừa định hướng, vừa khuyến khích phát triển, phù hợp chiến lược tăng trưởng của đất nước. Cách triển khai cũng phải linh hoạt, nới lỏng có kiểm soát để vừa thúc đẩy sản xuất và đầu tư, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Cụ thể, cần tập trung thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số. Các công cụ như thuế, chi tiêu công, đặc biệt là đầu tư công, phải được sử dụng hiệu quả, có trọng tâm, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm và hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn.
Quan trọng hơn, cần nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, nhất là về công nghệ; nếu phụ thuộc vào bên ngoài sẽ khó đạt tốc độ phát triển nhanh và bền vững. Chính sách tài khóa, tiền tệ cần hướng tới xây dựng năng lực nội sinh vững mạnh, từ công nghệ, mô hình phát triển đến nguồn lực và phương thức tổ chức. Nhà nước cần nhanh chóng đầu tư mạnh mẽ vào khoa học, công nghệ, tập trung giải quyết những vấn đề then chốt, đặc biệt là 11 công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ trọng điểm. Sau đó, ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, dịch vụ và đời sống. Đây là nền tảng để nâng cao năng suất, hiệu quả và xây dựng mô hình phát triển thông minh, bền vững. Bên cạnh đó, cần tập trung vào "đại dự án", "đại tập đoàn" và "đại vùng kinh tế" có sức lan tỏa lớn, khả năng kết nối mạng lưới rộng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và cập nhật xu hướng công nghệ, phát triển toàn cầu. Những dự án trọng điểm sẽ trở thành hạt nhân dẫn dắt, tạo mô hình phát triển thông minh, sáng tạo và nâng cao chất lượng tăng trưởng. PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh: "Đây sẽ là những "động lực của động lực", dẫn dắt VN bước vào kỷ nguyên tăng trưởng mới với tốc độ và hiệu quả chưa từng có".
Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng để đảm bảo đạt mục tiêu tăng trưởng cao đã đề ra, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phân cấp phân quyền cho các địa phương. Chính phủ phải có niềm tin và để địa phương quyết, địa phương làm và địa phương tự chịu trách nhiệm. Việc này song hành với hoàn thiện thể chế sẽ tháo gỡ được các điểm nghẽn lâu nay của nền kinh tế. Từ đó giúp các bộ ngành hay tỉnh, thành tránh được tình trạng có tiền nhưng không tiêu được, các dự án đầu tư công sẽ được triển khai kịp thời, đúng tiến độ. Đặc biệt, Chính phủ cần triển khai kịp thời 3 đột phá chiến lược đã đề ra tại Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Đó là đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, đột phá về nguồn nhân lực và đột phá về hạ tầng. Đồng thời, phát triển khoa học - công nghệ, chuyển đổi số vẫn là chiến lược xuyên suốt để tạo động lực cho các ngành kinh tế tăng tốc đi lên. Song song đó, Chính phủ cũng cần bám sát các nghị quyết của Bộ Chính trị ban hành trong điều hành kinh tế - xã hội. Tất cả những hoạt động cần phải được thực hiện nhanh hơn, thực chất hơn để tạo ra sự đồng lòng của cả nước. Từ đó có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng cao, thực chất và bền vững mà Đảng đã đề ra.
Tại dự án luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Thuế thu nhập cá nhân, luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và luật Thuế giá trị gia tăng, Bộ Tài chính đề xuất nhiều nội dung đáng chú ý về ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ.
Theo đó, sửa đổi quy định về mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ kinh doanh theo hướng không quy định cụ thể là 500 triệu đồng/năm tại luật mà giao Chính phủ quy định. Tinh thần theo hướng nâng ngưỡng này lên để tiếp tục hỗ trợ hộ kinh doanh quy mô nhỏ và trung bình thấp.
Ngoài ra, cần bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc xác định doanh thu làm căn cứ miễn thuế.
Những đề xuất trên nhận được sự đồng tình của nhiều chuyên gia. Nhìn từ góc độ so sánh tổng thể với một số quốc gia bên cạnh Việt Nam, có GDP bình quân đầu người và mức doanh thu miễn thuế tương ứng, theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh nên điều chỉnh lên tối thiểu 1 tỉ đồng/năm.
"So với Trung Quốc, ngưỡng doanh thu miễn thuế nên cân nhắc là 1,5 tỉ đồng/năm; so với Malaysia và Thái Lan, các ngưỡng nên cân nhắc lần lượt là 1 tỉ đồng/năm và 750 triệu đồng/năm", ông Tuấn nói.
Về ngưỡng miễn thuế cho doanh nghiệp nhỏ, ông Tuấn cho rằng, nên bằng với ngưỡng của hộ kinh doanh.
Luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cũng đề xuất nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế với hộ kinh doanh lên 1 tỉ đồng/năm và xây dựng ngưỡng miễn thuế với doanh nghiệp nhỏ tương tự.
Tuy nhiên, mấu chốt là sau khi nâng ngưỡng, cần áp dụng việc trừ ngưỡng này khi tính thuế thu nhập cá nhân với cả nhóm hộ kinh doanh có doanh thu năm từ trên 1 tỉ đồng đến 3 tỉ đồng tính thuế theo (doanh thu - chi phí) x thuế suất, thay vì chỉ áp dụng với nhóm hộ kinh doanh quy mô này nhưng tính thuế theo doanh thu (x) thuế suất.
Ông Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, lại đề xuất xác định ngưỡng miễn thuế đối với doanh nghiệp nhỏ trong khoảng 3 - 5 tỉ đồng doanh thu/năm.
Theo ông, vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở việc doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ hay các doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh có muốn thực hiện nghĩa vụ thuế hay không, mà là khả năng tuân thủ trong điều kiện năng lực quản trị còn hạn chế.
Đối với nhóm doanh nghiệp này, các chi phí liên quan đến kế toán, kê khai, hóa đơn… trong nhiều trường hợp đang trở thành gánh nặng đáng kể. Nếu ngưỡng miễn thuế được xác định ở mức quá thấp, chính sách sẽ khó đạt mục tiêu hỗ trợ thực chất.
Ở góc độ tiếp cận chính sách, ông Nam cho rằng, không nên nhìn thuế theo hướng "thu ngay từ đầu". Cách tiếp cận này có thể tạo ra một phần nguồn thu trước mắt, nhưng lại làm suy giảm khả năng hình thành nguồn thu bền vững trong tương lai.
Một doanh nghiệp không vượt qua được giai đoạn đầu sẽ khó có cơ hội trở thành đối tượng nộp thuế ổn định. Do đó, việc xác định ngưỡng miễn thuế trong khoảng 3 - 5 tỉ đồng/năm không đơn thuần là ưu đãi, mà là lựa chọn chính sách mang tính nuôi dưỡng và đầu tư cho phát triển.
Về tương quan chính sách giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, ông Nam nhấn mạnh, cần tránh tư duy cào bằng, mà phải thiết kế khoảng chênh lệch hợp lý để tạo động lực chuyển đổi.
Cụ thể, nếu ngưỡng miễn thuế của hộ kinh doanh ở mức 3 tỉ đồng/năm thì ngưỡng đối với doanh nghiệp nhỏ cần tối thiểu khoảng 5 tỉ đồng/năm. Tương tự, nếu hộ kinh doanh ở mức 5 tỉ đồng/năm thì doanh nghiệp nhỏ cần ở mức khoảng 7 - 8 tỉ đồng/năm.
Nếu không tạo ra sự khác biệt đủ lớn về nghĩa vụ thuế và chi phí tuân thủ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sẽ không có động lực chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Khi đó, mục tiêu đưa khu vực kinh doanh phi chính thức vào khu vực chính thức sẽ khó đạt được trong thực tiễn.
Về khía cạnh để ngưỡng miễn thuế của hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ bằng nhau, ông Được bày tỏ, không lo hộ kinh doanh ngại "lớn".
Vị này đề xuất, bên cạnh chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu như hiện hành, để tạo động lực cho hộ kinh doanh tự nguyện chuyển đổi, cần có thêm chính sách nhóm doanh nghiệp có doanh thu từ 3 tỉ đồng/năm trở xuống đang tính thuế theo (doanh thu - chi phí) x thuế suất cũng được áp dụng trừ đi ngưỡng doanh thu miễn thuế trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Theo EVN, với tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện ngày càng cao, BESS sẽ phát huy hiệu quả rõ ràng trong việc nâng cao tính ổn định của hệ thống điện. Đáng kể, BESS góp phần phủ đỉnh phụ tải, qua đó có thể giảm hoặc thay thế một phần nhu cầu đầu tư vào các nguồn điện chạy đỉnh truyền thống. Đặc biệt, BESS cũng có thể hỗ trợ cung cấp điện, giảm nguy cơ quá tải trong các giai đoạn cao điểm…
Để đáp ứng nhu cầu phụ tải đỉnh, đảm bảo khả năng cung ứng điện trong năm 2026 và các năm tiếp theo, EVN đã giao các tổng công ty, đơn vị chủ động triển khai các thủ tục để đầu tư lắp đặt pin lưu trữ trên lưới điện.
Thông tin tại cuộc họp về tình hình triển khai BESS rên lưới điện mới đây, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) Đỗ Nguyệt Ánh cho biết, Tổng công ty đã chỉ đạo các đơn vị rà soát, khảo sát các trạm biến áp 110kV có khả năng triển khai hệ thống lưu trữ năng lượng. Kết quả tính toán ban đầu cho thấy, tổng công suất BESS có thể lắp đặt tại các đơn vị thuộc EVNNPC đạt khoảng 530 MW, với thời gian lưu trữ 2 giờ, tương đương 1.060 MWh.
Trong giai đoạn 1, EVNNPC triển khai các bước đầu tư BESS với tổng công suất 305 MW, dự kiến hoàn thành vào cuối tháng 6 năm nay.
Tổng công ty Điện lực TP.Hà Nội (EVNHANOI) được giao phát triển BESS với tổng công suất 275 MW. Trong giai đoạn thí điểm, đơn vị này cho biết đang triển khai BESS với tổng công suất 50 MW tại 5 trạm biến áp trên địa bàn thành phố.
Tại khu vực miền Nam, ông Nguyễn Phước Đức - Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) thông tin, Tổng công ty đang xúc tiến làm việc với các doanh nghiệp liên quan để nghiên cứu, xem xét triển khai BESS tại đảo Phú Quý. Còn Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia cũng đang thúc đẩy triển khai, dự kiến đến tháng 1.2027 sẽ hoàn tất lắp đặt 100 MW BESS đầu tiên tại các trạm biến áp.
Ban Quản lý dự án Điện 1 được EVN giao nhiệm vụ nghiên cứu khả năng đầu tư BESS với tổng quy mô dự kiến từ 300-500 MW. Khảo sát của đơn vị này cho thấy, có 4 vị trí tiềm năng gắn với khu vực một số nguồn điện tại miền Bắc để xem xét triển khai trong các giai đoạn tiếp theo.
Theo Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, pin lưu trữ năng lượng đến năm 2030 đạt từ 10.000 - 16.300 MW.
Lãnh đạo EVN nhấn mạnh, BESS được xác định là một trong những giải pháp quan trọng trong quá trình vận hành và phát triển hệ thống điện. Một trong những ưu điểm nổi bật của BESS là thời gian triển khai lắp đặt nhanh. Mặc dù chi phí đầu tư hiện vẫn ở mức tương đối cao, song khi đặt trong tương quan tổng thể với các nguồn điện truyền thống, BESS không hẳn kém lợi thế, đặc biệt nếu xét đến các giá trị về tính linh hoạt và hiệu quả vận hành hệ thống.
Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An yêu cầu các đơn vị xây dựng lộ trình phát triển BESS một cách bài bản, đồng bộ, bảo đảm hiệu quả đầu tư. Đặc biệt, tại khu vực miền Bắc, các đơn vị cần ưu tiên đẩy nhanh triển khai hệ thống pin lưu trữ năng lượng.