Ung thư miệng thường gặp nhất là ung thư biểu mô tế bào vảy (OSCC). Đây là dạng phổ biến nhất của nhóm ung thư vùng đầu và cổ. Bệnh thường gặp ở người từ 60 tuổi trở lên. Ung thư miệng ảnh hưởng đến môi, phần trước của lưỡi, vòm miệng và sàn miệng.
Bệnh cũng có thể ảnh hưởng đến hầu họng như lưỡi, vòm miệng, amidan và vùng họng. Những thay đổi nhỏ kéo dài trong miệng cần được chú ý. Phát hiện sớm thông qua khám răng định kỳ có thể cải thiện đáng kể khả năng chữa trị.
Vết loét không lành sau nhiều tuần
Hầu hết mọi người đều từng bị loét miệng và thường tự khỏi sau 1-2 tuần. Tuy nhiên, vết loét kéo dài, không khỏi sau 2-3 tuần là dấu hiệu ung thư sớm thường bị bỏ qua. Vì không gây đau nhiều nên nhiều người chủ quan song đây là dấu hiệu cần được khám sớm, không nên tự chữa trị.
Những mảng bất thường khó nhận biết
Trong miệng có thể xuất hiện các mảng trắng hoặc đỏ mà người bệnh không để ý. Những mảng này thường không đau, không ảnh hưởng ăn uống ban đầu nên dễ bị bỏ qua. Tuy nhiên, đây có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của ung thư miệng. Nhiều trường hợp chỉ phát hiện tình cờ khi khám răng.
Ăn uống trở nên khó khăn khác thường
Cảm giác khó chịu nhẹ khi nhai hoặc nuốt thường được cho là tạm thời song đây có thể là dấu hiệu quan trọng. Ban đầu, thức ăn có thể gây vướng nhẹ hoặc kích thích nhẹ trong cổ họng. Theo thời gian, triệu chứng rõ rệt hơn. Việc chú ý những thay đổi nhỏ này có thể giúp phát hiện bệnh sớm.
Cảm giác bất thường trong miệng
Miệng là vùng nhạy cảm nên bất kỳ thay đổi nào cũng cần lưu ý. Các dấu hiệu có thể gồm đau nhẹ, tê, xuất hiện khối u nhỏ, vùng niêm mạc dày lên, khó nói hoặc khó cử động hàm, lưỡi. Những biểu hiện này thường nhẹ và dễ bị bỏ qua nhưng lại là dấu hiệu cảnh báo của cơ thể.
Một số dấu hiệu không liên quan trực tiếp đến miệng nên càng dễ bị bỏ qua. Ví dụ như khàn giọng kéo dài, đặc biệt ở người hút thuốc, ngoài ra còn có chảy máu không rõ nguyên nhân, răng lung lay, tê môi hoặc lưỡi. Các triệu chứng như hôi miệng, đổi màu răng, giảm vị giác cũng thường bị nhầm với vấn đề vệ sinh song tình trạng kéo dài cần kiểm tra sớm.
Khám răng miệng định kỳ có thể giúp phát hiện sớm các bất thường khó tự nhận biết, bao gồm cả tổn thương tiền ung thư. Bác sĩ cũng có thể tư vấn điều chỉnh thói quen xấu và kiểm soát các yếu tố nguy cơ để phòng bệnh tốt hơn.
Ăn táo nguyên quả có thể hỗ trợ sức khỏe tim mạch, giảm các yếu tố nguy cơ như cholesterol cao và viêm. Flavonoid trong táo giúp cải thiện chức năng nội mô, tăng sản xuất nitric oxide, từ đó làm giãn mạch, hạ huyết áp.
Táo
Ăn táo nguyên quả có thể hỗ trợ sức khỏe tim mạch, giảm các yếu tố nguy cơ như cholesterol cao và viêm. Flavonoid trong táo giúp cải thiện chức năng nội mô, tăng sản xuất nitric oxide, từ đó làm giãn mạch, hạ huyết áp.
Quả họ cam quýt
Cam, bưởi, chanh, quýt chứa hesperidin - một flavonoid có lợi cho tim mạch. Uống nước cam hoặc ăn loại quả này mỗi ngày có thể giảm huyết áp tâm thu ở người tiền tăng huyết áp nhờ cải thiện chức năng nội mô và giảm viêm.
Quả họ cam quýt
Cam, bưởi, chanh, quýt chứa hesperidin - một flavonoid có lợi cho tim mạch. Uống nước cam hoặc ăn loại quả này mỗi ngày có thể giảm huyết áp tâm thu ở người tiền tăng huyết áp nhờ cải thiện chức năng nội mô và giảm viêm.
Chuối giàu kali, giúp cơ thể đào thải natri đồng thời giảm áp lực lên thành mạch, từ đó hỗ trợ hạ huyết áp. Người cao huyết áp có thể kết hợp chuối với yến mạch, các loại hạt để tăng thêm dưỡng chất có lợi cho tim.
Chuối
Chuối giàu kali, giúp cơ thể đào thải natri đồng thời giảm áp lực lên thành mạch, từ đó hỗ trợ hạ huyết áp. Người cao huyết áp có thể kết hợp chuối với yến mạch, các loại hạt để tăng thêm dưỡng chất có lợi cho tim.
Lựu
Uống nước ép quả lựu có thể hỗ trợ giảm huyết áp, đặc biệt là huyết áp tâm thu. Nên chọn nước ép nguyên chất, không thêm đường để tối đa hóa lợi ích của loại quả này.
Lựu
Uống nước ép quả lựu có thể hỗ trợ giảm huyết áp, đặc biệt là huyết áp tâm thu. Nên chọn nước ép nguyên chất, không thêm đường để tối đa hóa lợi ích của loại quả này.
Kiwi
Ăn kiwi giúp bổ sung hàm lượng kali, vitamin C và chất chống oxy hóa cho cơ thể. Những chất dinh dưỡng này đặc biệt hữu ích cho những người bị tăng huyết áp nhẹ hoặc trung bình.
Kiwi
Ăn kiwi giúp bổ sung hàm lượng kali, vitamin C và chất chống oxy hóa cho cơ thể. Những chất dinh dưỡng này đặc biệt hữu ích cho những người bị tăng huyết áp nhẹ hoặc trung bình.
Cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy, Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á TP.HCM, cho biết đứng đầu trong danh sách các loại vi khuẩn thường gây ngộ độc thực phẩm là Salmonella, một loại trực khuẩn gram âm có khả năng thích nghi cực cao. Chúng không chỉ tồn tại trong các thực phẩm tươi sống như gia cầm, trứng, sữa chưa tiệt trùng mà còn "ẩn mình" bền bỉ trong các môi trường khô hanh như sữa bột hay socola. Ngay cả khi thực phẩm được cấp đông, số lượng vi khuẩn có thể giảm đi nhưng chúng vẫn duy trì sức sống trong thời gian dài, chờ đợi cơ hội tấn công vật chủ. Người bị nhiễm khuẩn Salmonella có thời gian ủ bệnh kéo dài từ 6 giờ đến 48 giờ (thậm chí tới 4 ngày).
Bên cạnh đó, Escherichia coli (E. coli) là loại vi khuẩn thường lây qua thực phẩm nhiễm phân động vật hoặc do lây chéo từ tay người chế biến và dụng cụ bếp không sạch. Tùy chủng, E. coli có thể sinh độc tố hoặc xâm nhập trực tiếp vào ruột, gây xuất huyết nghiêm trọng và kéo dài bệnh đến 10 ngày.
Đáng lo ngại nhất về khả năng chịu nhiệt là tụ cầu vàng Staphylococcus aureus. Để phá hủy hoàn toàn độc tố do vi khuẩn này tạo ra, thực phẩm phải được đun sôi liên tục ít nhất 2 giờ. Đáng chú ý, tụ cầu vàng vẫn có thể tồn tại trong môi trường có nồng độ muối tới 15% hoặc hàm lượng đường cao. Các thực phẩm dễ nhiễm gồm thịt bảo quản không đúng cách, xà lách, khoai tây, trứng và các loại bánh kem.
Theo cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy, tùy thuộc vào thời gian ủ bệnh của các loại vi khuẩn đôi khi là vài tiếng hoặc thậm chí là vài ngày. Sau đó sẽ phát bệnh với các triệu chứng: Nôn ói, đau bụng, co thắt, chóng mặt, sốt, tiêu chảy có hoặc không kèm máu,… Đó là lý có những vụ ngộ độc thực phẩm mà ăn trong hôm trước qua 1-2 ngày sau mới xuất hiện các triệu chứng.
Sau loạt vụ ngộ độc thực phẩm gần đây, chuyên gia cảnh báo chỉ một sai sót nhỏ trong lựa chọn, chế biến hay bảo quản cũng có thể khiến vi khuẩn sinh sôi và gây hại cho sức khỏe.
Tủ lạnh - nơi chứa thực phẩm trong gia đình: Cần đạt đúng nhiệt độ tiêu chuẩn, được bảo trì định kỳ. Cần sắp xếp, phân chia sống chín phù hợp để tránh việc sinh sôi vi khuẩn, lây nhiễm chéo giữa các thực phẩm với nhau.
Nếu không ăn ngay sau khi nấu, thịt cần được làm nguội và bảo quản lạnh ở nhiệt độ tiêu chuẩn (0-4°C).
"Nấu chín đúng nhiệt độ không có nghĩa là an toàn vĩnh viễn. Việc để thức ăn chín trong nhiều giờ liền, kể cả sau khi đã nấu đạt chuẩn, vẫn tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển trở lại. Nhiệt độ vi khuẩn phát triển mạnh mẽ từ 5 đến 60°C", cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy khuyến cáo.