Hồi cuối tháng 3, khi xung đột Mỹ – Iran leo thang và có nguy cơ lan rộng ra toàn khu vực, Pakistan đã triển khai một nỗ lực ngoại giao hậu trường nhằm kéo các bên trở lại bàn đàm phán. Trong tiến trình này, Tư lệnh Lục quân Pakistan Asim Munir trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy đối thoại.
New York Times ngày 7/4 đưa tin ngay trước khi công bố thỏa thuận ngừng bắn với Iran, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã thực hiện hai cuộc điện đàm quan trọng, lần lượt với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và tướng Munir. Việc một tư lệnh nước ngoài nằm trong danh sách liên lạc của ông Trump ở thời điểm then chốt cho thấy ông Munir có vị thế đặc biệt.
Tại Pakistan, dù chính phủ dân sự nắm quyền điều hành, quân đội, đặc biệt là Tư lệnh Lục quân, mới là bên thực sự định hình các chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia cốt lõi. Mọi quyết sách lớn liên quan đến Mỹ, Ấn Độ hay Iran đều phải có sự gật đầu của tướng Munir, theo Viện Hòa bình Mỹ.
“Tư lệnh Munir là người kiến tạo chính sách đối ngoại của Pakistan”, cựu đại sứ Pakistan tại Mỹ Maleeha Lodhi nói với Wall Street Journal. “Ông ấy có lẽ là quan chức quốc tế duy nhất mà Tổng thống Trump thường xuyên đưa ra những nhận xét tích cực”.
Ông Munir được cho là bắt đầu trao đổi với Tổng thống Trump về chiến sự Iran từ khoảng hai tuần trước, khi tình hình leo thang nguy hiểm. Axios dẫn lời một quan chức Mỹ thêm rằng ông Munir còn thiết lập được mối quan hệ với Phó tổng thống JD Vance, mở rộng thêm kênh liên lạc với giới lãnh đạo Mỹ.
“Ông Munir có chỉ số cảm xúc cao và tất nhiên là cả khả năng hòa giải”, Lin Minwang, phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nam Á tại Đại học Phúc Đán, nói với SCMP. “Tổng thống Trump có xu hướng coi trọng quan hệ cá nhân, khiến yếu tố này mang tính quyết định”.
Ông Munir góp phần đáng kể trong việc khôi phục quan hệ song phương với Mỹ, vốn lao dốc từ khi tình báo Mỹ phát hiện trùm khủng bố Osama bin Laden ẩn náu tại thành phố Abbottabad ở Pakistan năm 2011. Tình hình thêm tồi tệ trong nhiệm kỳ thủ tướng Imran Khan, vì Pakistan theo đuổi chính sách đối ngoại ít phụ thuộc Mỹ.
Tại một sự kiện về Gaza vào tháng 10/2025, Tổng thống Trump gọi ông Munir là “nguyên soái yêu thích của tôi”, dù Tư lệnh Lục quân Pakistan không có mặt. Tháng 6/2025, ông Trump mời ông Munir đến Nhà Trắng và gặp riêng. Đây được xem là động thái đặc biệt, khi một lãnh đạo quân đội Pakistan được Tổng thống Mỹ tiếp đón trong bối cảnh chính phủ dân sự vẫn nắm quyền.
Ba tháng sau, ông Munir tiếp tục xuất hiện tại Phòng Bầu dục, lần này cùng Thủ tướng Shehbaz Sharif, diễn biến được cho là củng cố thêm mối quan hệ cá nhân và chính trị giữa hai bên.
Trong khi đó, quân đội Pakistan vốn có quan hệ chặt chẽ với các chỉ huy quân sự Iran. Hai nước có biên giới chung khoảng 900 km, từng xảy ra đụng độ dọc biên giới hồi tháng 1/2024 và ông Munir đã tham gia kiểm soát, hạ nhiệt căng thẳng bằng các mối liên hệ trực tiếp với Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC).
“Ông ấy đã xây dựng được một mức độ tin cậy nhất định”, Abdul Basit, nhà nghiên cứu tại Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore, nói.
Pakistan là quốc gia có cộng đồng Hồi giáo dòng Shiite lớn thứ hai thế giới, sau Iran, sở hữu vũ khí hạt nhân và không có căn cứ Mỹ trên lãnh thổ. Do đó, Iran có thể coi Pakistan là nước trung lập hơn những bên khác.
Ngoài ra, Tư lệnh Munir còn chủ động mở rộng mạng lưới quan hệ với các cường quốc khác, như Trung Quốc hay Arab Saudi.
Cách tiếp cận đa hướng giúp Pakistan duy trì vị thế đặc biệt, vừa là đồng minh lớn ngoài NATO của Mỹ, vừa là đối tác của Trung Quốc, duy trì được quan hệ tốt với cả Iran và Arab Saudi, hai nước đối thủ của nhau tại Trung Đông. Khi các kênh đối thoại truyền thống rơi vào bế tắc, mạng lưới đa phương linh hoạt này đã giúp duy trì liên lạc giữa các bên, tạo tiền đề cho thỏa thuận ngừng bắn hai tuần.
Sinh năm 1968, ông Munir không đi theo con đường thăng tiến thường thấy. Ông từng đứng đầu cả Cơ quan Tình báo Quân đội (MI) và Cơ quan Tình báo Liên quân (ISI), có vai trò then chốt trong hệ thống an ninh quốc gia Pakistan. Tuy nhiên, ông đã bị cách chức lãnh đạo ISI dưới thời thủ tướng Khan.
Những biến động trên chính trường Pakistan sau đó, đặc biệt là việc thủ tướng Khan bị phế truất tháng 4/2022, đã mở đường cho ông Munir trở lại. Ông nhậm chức Tư lệnh Lục quân tháng 11 cùng năm, nhanh chóng củng cố quyền lực và mở rộng ảnh hưởng.
Trong cuộc xung đột Ấn Độ – Pakistan vào tháng 5/2025, ông Munir đưa ra các tuyên bố cứng rắn nhằm vào New Delhi, trở thành tiếng nói mang tính quyết định. Tháng 11/2025, Munir được thăng cấp Thống chế, trở thành người thứ hai trong lịch sử Pakistan mang quân hàm này.
Ông lên đỉnh cao quyền lực một tháng sau đó, làm Tổng tư lệnh Lực lượng Phòng vệ, vị trí cho phép kiểm soát toàn bộ lực lượng vũ trang. Vai trò này đi kèm với quyền miễn trừ pháp lý suốt đời, củng cố thêm vị thế của ông trên chính trường Pakistan, do quân đội nước này lâu nay thường tác động tới các chính sách an ninh của chính phủ.
Đến tối qua (4.4, theo giờ VN), số phận phi công điều khiển máy bay tiêm kích F-15 của Mỹ vẫn chưa rõ.
Trước đó, chiều tối 3.4 (theo giờ VN), Lực lượng Vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) tuyên bố bắn rơi thêm một máy bay tiêm kích tàng hình F-35 của Mỹ, nhưng kết quả xác minh sau thì chiến đấu cơ bị bắn hạ là dòng F-15. Chiến đấu cơ này được điều khiển bởi 2 thành viên phi hành đoàn. Trong đó, người phụ trách điều khiển vũ khí của chiến đấu cơ đã được giải cứu thành công, còn phi công trực tiếp điều khiển máy bay thì chưa rõ số phận giữa bối cảnh người này đang bị Iran ra sức truy lùng. Vụ việc tạo ra những thách thức quân sự và ngoại giao cho Mỹ. Vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn nếu phi công Mỹ bị Iran bắt làm tù binh.
Tiếp đến, Iran cũng đã bắn trúng 2 trực thăng UH-60 Blackhawk tham gia tìm kiếm và cứu nạn thành viên phi hành đoàn chiếc F-15. Một số binh sĩ trên 2 trực thăng UH-60 Blackhawk bị thương nhẹ nhưng tất cả đều an toàn.
Không những vậy, đến rạng sáng 4.4, 1 chiếc máy bay cường kích A-10 Thunderbolt II đã bị Iran bắn trúng. Tuy nhiên, phi công đã kịp điều khiển chiếc A-10 ra khỏi lãnh thổ Iran, rồi nhảy dù và được giải cứu. Quân đội Iran tuyên bố chiếc máy bay rơi xuống vịnh Ba Tư sau khi bị hệ thống phòng không của nước này bắn ở gần eo biển Hormuz.
Tờ The Washington Post dẫn lời chuẩn tướng không quân về hưu Houston Cantwell (Mỹ) cho biết lần cuối cùng một chiến đấu cơ của Mỹ bị bắn hạ trong chiến đấu là chiếc A-10 Thunderbolt II. Vụ việc xảy ra trong cuộc chiến Iraq năm 2003. Chính vì thế, việc chiếc F-15 vừa bị bắn hạ được cho là điều chưa từng xảy ra với không quân Mỹ trong hơn 20 năm qua.
Nhận xét về vụ việc, ông Behnam Ben Taleblu, Giám đốc cấp cao chương trình Iran tại Quỹ bảo vệ dân chủ - một tổ chức tư vấn chính sách ở Washington (Mỹ), đánh giá nhiều khả năng phía Iran đã sử dụng tên lửa đối không vác vai để bắn hạ chiếc F-15. Khi tác chiến, chiến đấu cơ có thể phải bay rất thấp.
Bộ Tư lệnh trung tâm Mỹ (CENTCOM) ngày 1.4 công bố quân đội nước này đã tiến hành hơn 13.000 lượt không kích trong cuộc tấn công Iran từ ngày 28.2, và đã đánh trúng 12.300 mục tiêu.
Mỹ cũng đã tự tin rằng đã vô hiệu hóa hoàn toàn hệ thống phòng không Iran. Cách đây vài ngày, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth cho biết hệ thống phòng không của Iran đã bị phá hủy đến mức Mỹ triển khai máy bay ném bom B-52 dễ dàng tấn công lãnh thổ nước này. Ra đời và chiến đấu hơn 70 năm, oanh tạc cơ B-52 có ưu thế mang lượng vũ khí lớn, nhưng tốc độ bay chậm hơn các dòng oanh tạc cơ hiện đại và cũng thiếu khả năng tàng hình. Việc tăng cường triển khai B-52 trực tiếp tấn công cho thấy Mỹ tự tin đã phá hủy năng lực phòng không của Iran.
Chính vì thế, việc F-15 bị bắn hạ là lời cảnh báo cho không quân Mỹ trong cuộc chiến chưa hạ nhiệt ở Iran, nhất là khi Tổng thống Trump đe dọa sẽ sử dụng không quân để đưa đối phương "về thời kỳ đồ đá".
Bên cạnh đó, một điểm nghẽn khác của cuộc chiến là eo biển Hormuz - nơi Iran đang phong tỏa để gây áp lực với Mỹ. Để "mở cửa" Hormuz, Mỹ nhiều khả năng có thể sử dụng sức mạnh quân sự. Với giải pháp này, máy bay cường kích A-10 đóng vai trò quan trọng để có thể triệt hạ các ổ tấn công di động mà Iran có thể triển khai ở vùng núi dọc eo biển Hormuz. Các máy bay này cần tiến hành các phi vụ liên tục và đảm bảo một chuỗi tiêu diệt chặt chẽ để có thể nhanh chóng vô hiệu hóa các mục tiêu. Dòng máy bay cường kích này cũng là vũ khí hữu hiệu để hỗ trợ lực lượng Mỹ nếu đổ bộ lên đảo Kharg của Iran. Thực tế, từ ngày 1.4, tờ The New York Times dẫn lời quan chức Mỹ Lầu Năm Góc đang điều động thêm 18 cường kích A-10 để gia nhập 12 chiếc A-10 hiện có ở Trung Đông.
Song song là lớp phòng thủ với trực thăng vũ trang để thiết lập lực lượng yểm trợ chống lại tàu tấn công nhanh, tàu không người lái của Iran. Có như thế, Mỹ mới hạn chế việc các tàu chiến bị tập kích ở vùng biển này. Tuy nhiên, với việc 2 chiến đấu cơ bị bắn hạ và 2 máy bay trực thăng bị tấn công chỉ trong 1 ngày khiến các toan tính trên của Washington gặp thách thức lớn.
Trong video do nhóm vũ trang Hezbollah công bố hôm 8/4, thiết bị bay không người lái góc nhìn thứ nhất (drone FPV) tiếp cận xe tăng chủ lực Merkava Mark 4M hiện đại nhất của Israel, được trang bị lồng thép trên nóc tháp pháo và hệ thống phòng thủ chủ động Trophy.
Drone của Hebollah lao vào vị trí đài radar của hệ thống Trophy ở mặt bên tháp pháo, không có dấu hiệu nào cho thấy hệ thống phòng vệ được kích hoạt.
Video thứ hai cho thấy drone FPV nhắm vào phía cửa đuôi đang mở của một chiếc Merkava Mark 4M, vốn là vị trí hiểm yếu nhất trên mẫu xe tăng này. Những video tiếp theo ghi lại cảnh đòn tập kích nhằm vào xe chiến đấu bộ binh Eitan, cùng hai xe tăng Merkava Mark 4M đang di chuyển trên đường.
Khác với xung đột Ukraine, lực lượng Hezbollah không triển khai drone trinh sát để ghi lại kết quả đòn đánh, các video đều kết thúc khi drone FPV lao vào mục tiêu.
Howard Altman, biên tập viên chuyên trang quân sự Mỹ War Zone, chỉ ra rằng chất lượng video không suy giảm khi drone bay thấp và lao vào mục tiêu cho thấy chúng đều kết nối với người điều khiển bằng cáp quang.
Ryan Brobst, chuyên gia quân sự tại viện nghiên cứu mang tên Quỹ Phòng vệ Dân chủ (FDD) có trụ sở tại Mỹ, đánh giá nhóm vũ trang Hezbollah đã học cách vận hành drone cáp quang nhờ quan sát xung đột Nga - Ukraine.
"Một yếu tố cần xem xét là sự gia tăng về số lượng drone cáp quang. Chưa rõ Hezbollah đã chuyển hẳn sang sử dụng drone cáp quang hay chưa, cũng như liệu các mẫu drone dùng sóng vô tuyến có mất hiệu quả hoàn toàn hay không", Brobst nói.
Các chuyên gia nói rằng không thể đánh giá mức độ thiệt hại cụ thể sau những đòn đánh như vậy, do Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) áp dụng chính sách kiểm soát thông tin chặt chẽ và không tiết lộ cụ thể tổn thất trong xung đột.
Trong báo cáo tình hình chiến sự hôm 26/3, IDF chỉ xác nhận nhiều binh sĩ thuộc Lữ đoàn Thiết giáp số 7 đã bị thương, trong đó một người thiệt mạng. "Chưa rõ những trường hợp này có phải do drone FPV của Hezbollah gây ra hay không, nhưng Lữ đoàn 7 là đơn vị chuyên vận hành xe tăng Merkava Mark 4", Brobst cho hay.
Một quan chức cấp cao giấu tên của IDF cho biết các video cho thấy Hezbollah sở hữu drone tự sát có độ chính xác cao, đủ khả năng nhắm vào các điểm yếu trên xe tăng. "Video cho thấy một số đòn đánh có thể là thật, song chúng không thể hiện thiệt hại đối với xe tăng Merkava. Dù vậy, drone vẫn là mối đe dọa hiện hữu và ngày càng gia tăng", người này cho hay.
Xe tăng chủ lực Merkava Mark 4M được Israel triển khai từ năm 2011, có đặc điểm nổi bật là hệ thống phòng thủ chủ động Trophy được ví như tấm "màn thép" bảo vệ phương tiện trước tên lửa dẫn đường và đạn chống tăng.
Hệ thống này bao gồm các cảm biến, radar cảnh giới, máy tính và tổ hợp đánh chặn. Radar Trophy có thể quét khu vực 360 độ quanh xe để phát hiện vũ khí chống tăng bắn tới. Khi phát hiện mục tiêu, máy tính sẽ phân tích và ra lệnh phóng các quả đạn kim loại để vô hiệu hóa mối đe dọa trước khi nó tiếp cận giáp chính của xe tăng.
Điều này khiến Merkava Mark 4M được mệnh danh là mẫu xe tăng được bảo vệ tốt nhất thế giới hiện nay. Tuy nhiên, các biện pháp bảo vệ trên dòng Merkava Mark 4M đã không thể đối phó được drone tự sát, vũ khí ngày càng phổ biến trong các xung đột.
Một nghiên cứu mới công bố cho thấy người Neanderthal, họ hàng của loài người hiện đại, có thể đã tạo ra và sử dụng một chất dính vừa dùng làm keo vừa để điều trị vết thương, đi trước nền y học hiện đại tới 200.000 năm.
Các nhà nghiên cứu đã biết rằng người Neanderthal sử dụng nhựa cây bạch dương để dán đầu mũi giáo vào cán.
Chất này đã được tìm thấy trên khắp châu Âu, phục vụ nhiều mục đích khác nhau và là chất trám kín chống nước cổ xưa nhất trong lịch sử, và còn sử dụng làm kẹo cao su.
"Song song với những phát hiện này, ngày càng có nhiều bằng chứng về các thực hành y học và việc sử dụng thực vật ở người Neanderthal, đó là lý do chúng tôi quan tâm việc sử dụng nhựa bạch dương trong bối cảnh này", theo trang Science Alert ngày 5.4 dẫn lời ông Tjaark Siemssen, nhà khảo cổ học tại Đại học Cologne (Đức) và Đại học Oxford (Anh), đồng thời là tác giả chính của nghiên cứu.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu tại Đại học Cologne, Đại học Oxford và Đại học Liège (Bỉ) đã tái tạo loại nhựa bạch dương này bằng cách sử dụng các nguyên liệu và quy trình có thể đã được người Neanderthal sử dụng.
Sau đó, các nhà nghiên cứu tại Đại học Cape Breton ở Nova Scotia (Canada) tiến hành các thử nghiệm sinh học để xác nhận đặc tính y học của loại nhựa này.
"Đó chính xác là điều chúng tôi đã chứng minh. Giờ đây chúng tôi biết rằng chất mà người Neanderthal tạo ra cách đây 200.000 năm cũng có đặc tính kháng khuẩn", theo ông Matthias Bierenstiel, giáo sư hóa học tại Đại học Cape Breton và là đồng tác giả nghiên cứu.
Các mẫu nhựa bạch dương cho thấy mức độ hoạt tính kháng khuẩn khác nhau nhưng đều có tác động đối với Staphylococcus aureus, vi khuẩn liên quan nhiễm trùng vết thương.
Những phát hiện này dẫn đến suy đoán rằng các cộng đồng cổ đại đã sử dụng nhựa bạch dương để điều trị vết thương hoặc các vấn đề về da có nguy cơ nhiễm trùng.