Ngày 10-4, UBND xã Hòa Vang (TP Đà Nẵng) công bố kết quả thực hiện chính sách cung cấp sách giáo khoa miễn phí cho toàn bộ học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Đây là địa phương đầu tiên trong cả nước triển khai chính sách này.
Ông Lê Phú Nguyện, Chủ tịch UBND xã Hòa Vang, cho biết ngay từ thời điểm thành lập theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp (1-7-2025), Hòa Vang đã xác định là địa bàn còn nhiều khó khăn, đời sống người dân chưa cao. Từ thực tế đó, xã chủ động xây dựng mô hình “tủ sách giáo khoa dùng chung”, huy động nguồn lực xã hội hóa để cung cấp sách giáo khoa (SGK) miễn phí, giảm gánh nặng chi phí cho phụ huynh và chống lãng phí.
Giai đoạn đầu Hòa Vang huy động 551 triệu đồng, mua hơn 6.000 quyển SGK cho hơn 1.200 học sinh tại tám thôn vùng đồi núi xã Hòa Phú (cũ). Đối tượng được ưu tiên là học sinh diện chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số; đáp ứng khoảng 31% nhu cầu năm học 2025-2026.
Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị được ban hành, đặt mục tiêu cung cấp SGK miễn phí từ năm học 2029-2030. Cùng với đó quyết định 3588 của Bộ GD-ĐT quy định bộ SGK thống nhất toàn quốc – cũng chính là bộ “Kết nối tri thức” mà Hòa Vang đang triển khai – đã tạo cơ sở pháp lý để địa phương mở rộng mô hình.
Xã tiếp tục huy động thêm gần 1,5 tỉ đồng, mua 74.676 quyển SGK. Đến nay tổng số sách tại thư viện các trường đạt 91.060 quyển, đủ để miễn phí cho gần 7.000 học sinh từ tiểu học đến THCS, THPT tại sáu cơ sở giáo dục, bao gồm cả các đơn vị trực thuộc Sở GD-ĐT như Trường THPT Ông Ích Khiêm và Trung tâm Giáo dục thường xuyên số 3 – cơ sở 2. Với nguồn lực này, Hòa Vang dự kiến đáp ứng 100% nhu cầu SGK từ năm học 2026-2027.
Theo ông Nguyện, điểm cốt lõi trong cách làm là bảo đảm tính bao quát và thống nhất. Tất cả học sinh đang học tại các cơ sở giáo dục tại xã đều được mượn sách, không phân biệt thuộc quản lý của địa phương hay của ngành giáo dục.
Bài toán lớn nhất của mô hình không nằm ở khâu triển khai ban đầu mà ở khả năng duy trì lâu dài. Theo lãnh đạo xã Hòa Vang, nếu được quản lý và sử dụng tốt, mỗi cuốn SGK có thể sử dụng trong khoảng 7-10 năm. Như vậy mỗi năm chỉ cần chi một khoản kinh phí nhỏ, không đến 10%, để thay thế số sách hư hỏng, hao hụt.
“Đây là mức chi rất tiết kiệm. Nếu Nhà nước và địa phương không làm thì chi phí đó sẽ do từng gia đình gánh hằng năm, cộng lại là nguồn lực rất lớn của xã hội. Khi chính quyền đứng ra tổ chức không chỉ giúp người dân mà còn góp phần chống lãng phí”, ông Nguyện nói.
Để có được nguồn sách ban đầu xã đã huy động sự chung tay của cộng đồng doanh nghiệp. Dù trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ, nhưng vẫn sẵn sàng đồng hành khi nhận thấy ý nghĩa thiết thực và nhân văn của chính sách. Chỉ trong vài tháng địa phương đã huy động đủ nguồn lực để triển khai cho năm học.
Ông Nguyện thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn ban đầu khi triển khai, thời điểm đầu chưa có cơ sở pháp lý cụ thể trong khi điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương còn hạn chế nên việc vận động rất khó khăn, nguồn lực không dồi dào. Tuy nhiên, khi nghị quyết 71 được ban hành, địa phương có thêm cơ sở để đẩy nhanh tiến độ.
“Chúng tôi xác định đây là việc nên làm, có thể làm và cần làm sớm. Làm càng sớm thì người dân càng giảm chi phí, xã hội càng tiết kiệm nguồn lực”, ông Nguyện nói.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, đánh giá mô hình tại Hòa Vang là bước cụ thể hóa tinh thần nghị quyết 71, không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà còn ở khía cạnh an sinh xã hội.
Trong bối cảnh Đà Nẵng mở rộng địa bàn sau sáp nhập, bao gồm nhiều khu vực còn khó khăn về hạ tầng và kinh tế, mô hình này giúp giảm gánh nặng cho các gia đình, tạo điều kiện để học sinh yên tâm học tập.
“Trong thời gian ngắn xã đã triển khai hiệu quả. TP giao ngành giáo dục nghiên cứu, lấy đây làm mô hình điểm để nhân rộng toàn TP trong thời gian tới”, ông Anh Tuấn nói.
Đồng thời ông cũng lưu ý để mô hình phát huy hiệu quả lâu dài cần phân công rõ trách nhiệm quản lý, mượn – trả – thu hồi sách; xây dựng quy chuẩn sử dụng; tăng cường tuyên truyền để phụ huynh, học sinh nhận thức đúng; đồng thời duy trì và mở rộng các nguồn lực hỗ trợ, thường xuyên theo dõi, đánh giá để điều chỉnh kịp thời.
Ngày 23/4, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM xác nhận kế hoạch đưa 5 trường mới vào hoạt động, tuyển sinh ngay năm nay.
Trong số này, 2 trường THPT được xây mới hoàn toàn tại phường Phú Mỹ và Dĩ An, thuộc khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương. Ba trường còn lại được cải tạo, chuyển đổi công năng từ trường Trung cấp nghề Dĩ An, trụ sở UBND quận 12 và Tân Phú cũ. Trong đó, mặt bằng UBND quận 12 cũ được chuyển đổi thành một trường liên cấp từ tiểu học đến THPT.
Sở đánh giá việc có thêm 5 trường mới tại các "điểm nóng" về dân cư sẽ giúp giải tỏa áp lực tuyển sinh đầu cấp. Dự kiến, mỗi trường tuyển khoảng 15 lớp 10, tổng cộng gần 3.400 suất học.
Năm nay, áp lực tuyển sinh tại TP HCM là rất lớn khi có hơn 169.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng gần 43.000 so với năm ngoái. Hệ thống công lập và các trung tâm giáo dục thường xuyên dự kiến đáp ứng khoảng 80% nhu cầu, số còn lại có thể sang trường tư thục hoặc hệ trung cấp, cao đẳng nghề.
Việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng, bàn giao trụ sở cũ nằm trong chiến dịch chiến dịch thi đua 150 ngày đêm hoàn thành 1.000 phòng học, phục vụ năm học 2026 - 2027 do Chủ tịch UBND thành phố phát động hồi đầu tháng 3. Hiện, TP HCM cần thêm gần 17.500 phòng học để đạt chỉ tiêu 300 phòng học trên 10.000 dân trong độ tuổi đi học.
Tại buổi làm việc gần đây với các phường phía nam thành phố, lãnh đạo UBND TP Đà Nẵng đã nêu đề xuất từng bước hình thành trung tâm giáo dục đào tạo tại Tam Kỳ.
Theo đó, các trường đại học có thể được bố trí về khu vực này, trong khi các cơ sở đào tạo chất lượng cao và sau đại học tiếp tục đặt tại khu vực trung tâm Đà Nẵng cũ, nơi gắn với hệ sinh thái tài chính, công nghệ và chuyển đổi số.
Theo ghi nhận hiện nay, phần lớn các trường đại học công lập và tư thục vẫn tập trung tại khu vực Đà Nẵng cũ, phân bố rải rác ở nhiều quận. Trong khi đó, một số cơ sở đã bắt đầu chuyển về khu vực Làng đại học Đà Nẵng tại Hòa Quý và Điện Bàn Đông theo quy hoạch.
Dự án này đang được đẩy nhanh tiến độ để tiếp nhận thêm các đơn vị thành viên của Đại học Đà Nẵng trong sự chờ đợi của rất nhiều người dân trong vùng quy hoạch treo trước đây.
Trong khi đó theo quy hoạch thành phố thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Đà Nẵng định hướng phát triển hai "đô thị đại học".
Trong đó, khu phía bắc gắn với chiến lược phát triển Đại học Quốc gia Đà Nẵng, còn khu phía nam gắn với Khu kinh tế mở Chu Lai và đô thị Tam Kỳ. Mục tiêu là đưa Đà Nẵng trở thành trung tâm giáo dục - đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực Đông Nam Á.
Tuy nhiên đề xuất di dời đại học cũng làm dấy lên nhiều băn khoăn. Không ít ý kiến lo ngại việc "dịch chuyển cơ học" có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái học thuật vốn cần thời gian dài để tích lũy.
PGS.TS Võ Văn Minh cho rằng việc di dời các trường đại học cần được cân nhắc thận trọng, dựa trên nhận thức đúng về vai trò của đại học như một thiết chế của tri thức, văn hóa và thời gian.
Theo ông Minh, một đại học có thể xây dựng trong vài thập niên, nhưng để hình thành một không gian học thuật đúng nghĩa cần cả thế kỷ tích tụ.
Từ thực tiễn quốc tế, các đại học lớn đều phát triển trên nền tảng ổn định, mở rộng theo thời gian thay vì di dời. "Đại học không lớn lên bằng cách dịch chuyển, mà bằng sự tích tụ bền bỉ trong một không gian ổn định" - ông Minh nhận định.
Ở góc nhìn quy hoạch, KTS Hoàng Quang Huy - nguyên Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Đà Nẵng - cho rằng việc di dời hay hình thành làng đại học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là nguồn lực và khả năng tổ chức thực hiện.
Ông Huy cho biết nếu định hướng, quy hoạch lâu dài thì vẫn có khả thi nếu muốn hình thành đô thị đại học.
Tuy nhiên theo ông Huy, yếu tố quyết định không nằm ở vị trí mà là con người. Nếu không tập trung được đội ngũ giảng viên, sinh viên và các điều kiện hỗ trợ đi kèm, việc di dời có thể không đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Cùng quan điểm thận trọng, PGS.TS Bùi Quang Bình (Trường đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng) cho rằng việc quy hoạch, di dời các trường đại học vào Tam Kỳ cần được tính toán kỹ lưỡng trên các khía cạnh pháp lý, kinh tế, xã hội và đào tạo.
"Không thể làm theo cảm tính hay ý chí, mà phải có cơ sở khoa học và lộ trình rõ ràng" - ông nói.
Theo ông Bình, hiện vị trí của Đại học Đà Nẵng đã được xác định trong quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch thành phố.
Đồng thời đơn vị này đang thực hiện sứ mệnh trở thành một trong những đại học trọng điểm, hướng đến mục tiêu đưa một số ngành đào tạo vào top 100 thế giới. Việc di dời, nếu có, sẽ rất phức tạp, tốn kém và có thể ảnh hưởng đến tiến trình này.
Ngoài ra bài toán tài chính cũng là thách thức lớn. Việc di dời đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn trong khi chủ trương chung là hạn chế sử dụng vốn đầu tư công cho xây dựng trụ sở.
"Giáo dục và y tế chất lượng cao là hai trụ cột dịch vụ quan trọng của Đà Nẵng. Nếu di dời các trường đại học ra khỏi nội đô, hệ sinh thái dịch vụ này có thể bị xáo trộn, ảnh hưởng đến thương hiệu thành phố.
Chưa kể, với lịch sử hàng chục năm, Đại học Đà Nẵng đã gắn bó với sự phát triển của miền Trung, thu hút người học từ nhiều nơi. Nếu chuyển đến khu vực chưa có môi trường học tập và giao lưu tương xứng, liệu sinh viên có sẵn sàng theo học?" - ông Bình đặt vấn đề.
Thông tư 26/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên ĐH vừa được Bộ GD-ĐT ban hành thay thế cho thông tư năm 2020, đã mở rộng phạm vi áp dụng đối với cả giảng viên trường ĐH ngoài công lập nhằm thống nhất về chuẩn nghề nghiệp trong toàn hệ thống giáo dục ĐH.
Theo đó, thông tư này áp dụng đối với giảng viên ĐH, bao gồm: giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp trong cơ sở giáo dục ĐH công lập và ngoài công lập.
Trước đó, Thông tư số 40/2020/TT-BGDĐT chỉ áp dụng đối với viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục ĐH công lập.
Cụ thể, đối với giảng viên, có 6 nhiệm vụ gồm giảng dạy, hướng dẫn và đánh giá đồ án, khóa luận tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ ĐH; tham gia giảng dạy chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và hướng dẫn, đánh giá luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nếu có đủ tiêu chuẩn theo quy định.
Bên cạnh đó tham gia xây dựng, phát triển chương trình đào tạo; chủ trì phát triển chương trình đào tạo đối với học phần do giảng viên phụ trách giảng dạy; chủ trì hoặc tham gia biên soạn giáo trình, sách phục vụ đào tạo
Tham gia các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; các hoạt động hợp tác quốc tế và bảo đảm chất lượng giáo dục ĐH; viết và tham gia báo cáo khoa học...
Đối với giảng viên chính cũng có các nhiệm vụ như giảng viên, tuy nhiên nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo ở mức độ cao hơn.
Đặc biệt, giảng viên cao cấp còn có nhiệm vụ phát hiện năng lực sở trường của người học để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tài năng; chủ trì xây dựng, phát triển chương trình đào tạo của chuyên ngành; chủ động cập nhật thường xuyên những thành tựu khoa học vào việc xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, tư vấn hỗ trợ đồng nghiệp trong phát triển chương trình đào tạo...
Về trình độ, giảng viên và giảng viên chính cần có bằng thạc sĩ trở lên phù hợp với vị trí việc làm, ngành hoặc chuyên ngành giảng dạy, có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên ĐH.
Trong khi đó, giảng viên cao cấp cần có bằng tiến sĩ phù hợp với vị trí việc làm, ngành hoặc chuyên ngành giảng dạy; có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên ĐH.
Về nghiên cứu khoa học, không yêu cầu cụ thể đối với giảng viên. Trong khi đó, giảng viên chính phải chủ trì thực hiện ít nhất một hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cơ sở hoặc cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên; chủ trì hoặc tham gia biên soạn ít nhất một sách phục vụ đào tạo được hội đồng khoa học của trường thẩm định, nghiệm thu và đưa vào sử dụng trong đào tạo, bồi dưỡng từ trình độ ĐH trở lên phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy hoặc đào tạo của giảng viên và có mã số chuẩn quốc tế ISBN.
Bên cạnh đó, phải là tác giả của ít nhất 3 bài báo khoa học là công trình nghiên cứu khoa học phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy của giảng viên đã được công bố trên tạp chí khoa học có mã số chuẩn quốc tế ISSN.
Còn đối với giảng viên cao cấp, phải chủ trì thực hiện ít nhất 2 hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cơ sở hoặc một hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên.
Giảng viên cao cấp phải hướng dẫn ít nhất 2 học viên được cấp bằng thạc sĩ hoặc hướng dẫn chính, phụ hoặc độc lập ít nhất một nghiên cứu sinh được cấp bằng tiến sĩ.
Nếu giảng viên không tham gia hướng dẫn luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ thì số lượng hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được nghiệm thu phải gấp 2 lần.
Ngoài ra, phải chủ trì biên soạn ít nhất một sách phục vụ đào tạo được hội đồng khoa học của trường thẩm định, nghiệm thu và đưa vào sử dụng trong đào tạo, bồi dưỡng từ trình độ ĐH trở lên phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy hoặc đào tạo của giảng viên và có mã số chuẩn quốc tế ISBN;
Là tác giả của ít nhất 6 bài báo khoa học là công trình nghiên cứu khoa học phù hợp với ngành, chuyên ngành giảng dạy của giảng viên đã được công bố trên tạp chí khoa học có mã số chuẩn quốc tế ISSN.