Đặc biệt phim tài liệu The Greatest Night in Pop (2024) đoạt giải và được đề cử ở nhiều giải thưởng danh giá tại Mỹ, trong đó có Critics’ Choice Documentary Award 2024, Grammy, Primetime Creative Arts Emmy, Giải thưởng Hiệp hội Nhà sản xuất Mỹ…
Gần đây nhất, phim tài liệu âm nhạc BTS: The Return của Bảo Nguyễn được đánh giá cao, ghi lại hành trình trở lại của nhóm nhạc lớn nhất thế giới BTS sau bốn năm vắng bóng, tập trung vào quá trình họ thực hiện album mới nhất Arirang với nhiều băn khoăn, trăn trở.
* Nếu The Greatest Night in Pop nhìn lại những huyền thoại âm nhạc thế giới trong quá khứ, BTS: The Return ghi lại những siêu sao của âm nhạc thế giới đương đại. Sự khác biệt lớn nhất giữa hai chủ đề – quá khứ và hiện tại – là gì?
– Một trong những khác biệt lớn nhất là góc nhìn. The Greatest Night in Pop là câu chuyện nhìn ngược lại một khoảnh khắc biểu tượng đã đi vào lịch sử.
Căng thẳng trong bộ phim đó đến từ việc tái khám phá những huyền thoại và hé lộ phần nhân tính bên trong.
Còn với BTS: The Return, tôi đang ghi lại các nghệ sĩ ở thì hiện tại, trong lúc họ vẫn đang sống qua sự bất định, áp lực và những thay đổi theo thời gian thực.
Điều này tạo ra một năng lượng rất khác biệt. Có phim, lịch sử đã lắng đọng. Có phim, câu chuyện vẫn đang được viết tiếp.
Điều khiến tôi hào hứng với BTS là dù họ là những biểu tượng toàn cầu, họ vẫn đang đặt ra những câu hỏi rất con người: bây giờ chúng ta là ai, chúng ta nên giữ lại gì, thay đổi gì, và làm thế nào để cùng nhau bắt đầu lại?
Trailer BTS: The return
* Là một nghệ sĩ châu Á đã nỗ lực và gặt hái thành công ở Mỹ, dù gặp phải nhiều rào cản, điều gì khiến anh đồng cảm nhất với ban nhạc BTS?
– Tôi nghĩ điều tôi đồng cảm nhất là cảm giác phải gánh vác nhiều hơn chính bản thân mình. Khi là một nghệ sĩ châu Á làm việc trên sân khấu toàn cầu, bạn thường nhận thức rằng mọi người có thể đặt những giả định lên bạn, thu hẹp bạn hoặc yêu cầu bạn đại diện cho thứ gì đó lớn lao hơn khả năng gánh vác của bất kỳ cá nhân nào.
Điều khiến tôi xúc động về BTS là họ dường như rất ý thức về gánh nặng đó, nhưng họ biến nó thành mục đích. Họ tự hào khi mang bản sắc của mình và không làm phai nhạt chính mình để dễ được thấu hiểu hơn.
Là một nhà làm phim châu Á, tôi đồng cảm sâu sắc. Thật mạnh mẽ khi thấy các nghệ sĩ vẫn giữ được nét văn hóa riêng biệt và nhờ đó lại càng trở nên phổ quát hơn.
* Anh sinh ra ở Mỹ, có sự nghiệp ở Mỹ, nhưng các tác phẩm và thành tựu của anh vẫn được truyền thông ở Việt Nam quan tâm, anh cảm thấy thế nào?
– Tôi sinh ra và lớn lên ở Mỹ nhưng Việt Nam luôn là một phần quan trọng về mặt tình cảm và văn hóa trong cuộc sống của tôi. Vì vậy bất cứ khi nào tác phẩm của tôi được đón nhận ở Việt Nam, hoặc khi có sự quan tâm từ khán giả và truyền thông Việt Nam, tôi cảm thấy vô cùng biết ơn và gắn kết.
Ta lớn lên ở một nơi, nhưng một phần trí tưởng tượng, lịch sử và di sản của mình đến từ một nơi khác. Tôi luôn có mong muốn kết nối hai thế giới bằng cách nào đó. Nên việc tác phẩm của mình có thể quay trở lại Việt Nam và trở thành một phần của cuộc đối thoại ở đó có ý nghĩa rất lớn đối với tôi.
* Nhiều năm trước từng làm việc trong ngành điện ảnh ở TP.HCM, tại sao anh quyết định trở về Mỹ?
– Thời gian làm việc ở TP.HCM đã định hình rất nhiều cho tôi và tôi rất biết ơn. Điều đó giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về Việt Nam không chỉ như một di sản mà còn là một đất nước sống động, luôn thay đổi, tràn đầy năng lượng, tham vọng. Tôi trở về Mỹ vì con đường sự nghiệp và những cơ hội vào thời điểm đó.
Mỹ là nơi tôi được đào tạo, nơi có phần lớn mạng lưới quan hệ chuyên nghiệp của tôi và nơi tôi nhìn thấy con đường xây dựng sự nghiệp làm phim mà tôi mong muốn. Nhưng tôi không nghĩ đó là việc chọn cái này hay cái kia. Tôi vẫn di chuyển giữa hai thế giới cả về mặt cảm xúc và sáng tạo.
* Mối liên hệ hiện tại của anh với điện ảnh Việt Nam là gì? Anh có nhiều bạn bè là nhà làm phim ở Việt Nam, anh có muốn trở lại đây làm phim không?
– Tôi vẫn rất gắn bó với điện ảnh Việt Nam và cộng đồng sáng tạo ở đó. Tôi có nhiều bạn bè ở Việt Nam là nhà làm phim, nhà sản xuất và nghệ sĩ và tôi vẫn luôn theo dõi công việc của họ với sự ngưỡng mộ sâu sắc. Tôi nghĩ điện ảnh Việt Nam đang ở trong một giai đoạn rất thú vị.
Thông qua EAST Films, tôi cũng tiếp tục phát triển các dự án ở Việt Nam với các đối tác của mình. EAST Films là một trong những công ty sản xuất đứng sau BTS: The Return và mối liên hệ xuyên Thái Bình Dương đó là yếu tố cốt lõi trong cách chúng tôi suy nghĩ về kể chuyện.
Chúng tôi đang giúp đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh khởi quay bộ phim mới Picturehouse của anh ấy. Và vâng, tôi rất muốn trở lại Việt Nam để làm phim. Nếu có câu chuyện và hoàn cảnh phù hợp sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với tôi.
* The Stringer là một tác phẩm rất đặc biệt của anh. Tại sao anh lại quyết định dấn thân vào chủ đề này?
– Tôi bị thu hút bởi The Stringer vì nó không chỉ nói về một bức ảnh hay một tranh luận lịch sử. Nó nói về quyền tác giả, ký ức và ai là người được nhìn nhận trong lịch sử. Những câu hỏi đó có ý nghĩa sâu sắc đối với tôi.
Tranh cãi là một phần lý do khiến câu chuyện trở nên quan trọng.
Tôi quan tâm đến tranh cãi không phải chỉ để gây chú ý, mà vì những câu hỏi khó và chưa được giải quyết thường hé lộ điều gì đó sâu sắc hơn về cách lịch sử được xây dựng.
Tôi cảm thấy nếu có cơ hội nhìn nhận lại một câu chuyện đã được chấp nhận và tạo không gian cho những tiếng nói bị bỏ quên, thì điều đó đáng được thực hiện một cách cẩn thận và nghiêm túc.
Đối với tôi, đó không chỉ là một động lực điều tra mà còn là một động lực về cảm xúc và đạo đức.
* Sự thật trong phim tài liệu khác với sự thật trong điện ảnh như thế nào? Anh theo đuổi điều gì khi làm phim?
– Tôi nghĩ cả phim tài liệu và phim hư cấu đều có thể chứa đựng sự thật nhưng chúng đạt được điều đó theo những cách khác nhau.
Phim tài liệu bắt đầu từ hiện thực, từ kinh nghiệm sống, từ những con người và sự kiện tồn tại ngoài trí tưởng tượng của nhà làm phim. Phim hư cấu có thể tạo ra các tình huống nhưng vẫn tiết lộ những sự thật về mặt cảm xúc hoặc triết học mà cảm giác vô cùng chân thực.
Điều tôi theo đuổi trong làm phim không chỉ là sự thật khách quan, mặc dù điều đó vô cùng quan trọng trong phim tài liệu. Tôi cũng đang theo đuổi sự thật về mặt cảm xúc.
Điều đó mang lại cảm giác như thế nào? Điều gì đang bị đe dọa? Tại sao nó lại quan trọng đối với những người đang trải qua nó? Dù làm phim tài liệu hay phim truyện, tôi luôn tìm kiếm sự thật sâu sắc hơn ẩn dưới vẻ bề ngoài.
Đồng thời tôi tin rằng làm phim mang một trách nhiệm lớn. Đặc biệt là trong phim tài liệu, bạn đang làm việc với những cuộc sống thực, những ký ức thực và những hậu quả thực. Vì vậy, đối với tôi, sự thật không chỉ là thông tin. Nó còn là sự quan tâm, sự trung thực và tính chính trực trong cách bạn kể câu chuyện.
Lê Phương Khánh Như đoạt danh hiệu Á hậu 1 tại chung kết cuộc thi diễn ra hôm 29/3 ở TP HCM. Người đẹp nói về quá trình rèn luyện sự bản lĩnh, tự lập ở tuổi 22.
- Sau một tuần đăng quang, cảm xúc hiện tại của chị thế nào?
- Tôi chưa hết cảm giác vỡ òa khi chạm đến danh hiệu. Tôi đón nhận kết quả với tâm thế bằng lòng, cảm thấy mọi thứ vừa vặn. Một tuần qua, tôi có cơ hội tham dự nhiều sự kiện, hoạt động giải trí. Tôi biết ơn tình cảm của khán giả dành cho mình.
Nhìn lại bốn tháng tại cuộc thi, tôi xúc động. Từ cô sinh viên ít người biết đến, giờ tôi có lượng khán giả yêu mến, theo dõi mình trong mọi hoạt động. Cuộc sống của tôi thời gian tới chắc chắn sẽ có thêm sự thay đổi. Tôi đang trong quá trình thích nghi, học hỏi để có thể hoàn thành tốt nhất vai trò.
- Điều gì khiến chị quyết định đi thi nhan sắc khi đang là sinh viên năm cuối khoa Du lịch, Đại học Kinh tế?
- Ghi danh Miss World Vietnam là quyết định can đảm nhất trong nhiều năm qua của tôi. Tôi từng có nhiều hoài nghi lẫn nỗi sợ về năng lực của bản thân. Trước khi gửi hồ sơ, tôi hỏi ý kiến anh chị, bạn bè xung quanh và nhận được nhiều lời góp ý. Cuối cùng, tôi nhận ra quyết định nằm ở chính mình. Nếu không thực hiện, tôi nghĩ những băn khoăn ấy sẽ theo mình rất lâu, thậm chí có thể khiến tôi không bao giờ dám bứt phá.
Sân chơi mở ra cánh cửa để tôi được cọ xát, có thêm trải nghiệm quý giá. Ở chặng đầu, tôi áp lực khi đối diện nhiều thí sinh giỏi xung quanh. Thế nhưng, tôi chưa bao giờ có suy nghĩ bỏ cuộc. Tôi nhìn vào các bạn để học hỏi, phấn đấu để tốt hơn mỗi ngày. Tôi tự nhủ dù kết quả ra sao, điều quan trọng là đã làm hết sức.
- Tại cuộc thi, chị còn thắng giải Người đẹp bản lĩnh. Chị rèn luyện thế nào trong cuộc sống để có được điều này?
- Với tôi, bản lĩnh là biết cân bằng giữa cảm xúc và lý trí, không để cảm xúc lấn át quyết định nhưng cũng không khiến bản thân thiếu đi sự rung động.
Để rèn tính cách ấy, từ khóa tôi chọn là "chấp nhận". Khi đối diện khó khăn, tôi không né tránh, cũng không ép mình phải lạc quan. Nếu cứ cố tỏ ra ổn, đến một lúc nào đó khi không chịu được nữa, mình sẽ dễ "vỡ" và không còn đủ tỉnh táo để giải quyết vấn đề. Nếu quá áp lực, tôi cho phép mình được khóc thật to để giải tỏa. Sau đó, tôi sẽ ngồi lại để nhìn nhận, suy xét và tiếp thu.
- Hoàn cảnh gia đình tác động đến con người, tính cách chị thế nào?
- Ba mẹ tôi sống ở Ninh Thuận, bán quán ăn nhỏ trong một con hẻm. Anh trai tôi đã lập gia đình, hiện ở TP HCM. Từ nhỏ, tôi đã thấy được sự vất vả của ba mẹ khi phải thức dậy từ sớm để dọn hàng, rồi kết thúc lúc tối muộn. Họ chưa bao giờ than thở hay để các con lo lắng, vẫn lo đủ cho tôi đến trường hoặc học thêm tại trung tâm Anh ngữ.
Càng lớn, tôi thấu hiểu rõ hơn sự nỗ lực của ba mẹ, cũng như giá trị đồng tiền làm được từ sức lao động. Vì vậy, khi còn là học sinh, tôi luôn cố gắng để đạt kết quả tốt nhất, như một cách để họ yên tâm.
- Bài học nào từ cha mẹ được chị coi như kim chỉ nam trong quá trình trưởng thành?
- Từ nhỏ, tôi thích quan sát xung quanh. Tôi hay để ý cách mẹ nói chuyện với mọi người hay đối diện vấn đề sức khỏe, tài chính. Tôi biết mẹ cũng có những áp lực nhưng bà không bao giờ để điều đó ảnh hưởng đến con cái. Mẹ tôi luôn chọn cách chấp nhận rồi vượt qua mọi thứ một cách nhẹ nhàng. Với tôi, mẹ là người phụ nữ bản lĩnh, vừa cân bằng công việc vừa chăm lo cho tổ ấm.
Ba tôi không quen với những nơi sang trọng hay ăn món đắt tiền. Ông luôn tận hưởng mọi thứ theo cách bình dị và thoải mái. Có thể người khác cho rằng việc ăn bữa cơm 15.000 đồng hay ổ bánh mì là thiếu thốn nhưng ba không bao giờ nghĩ đó là khổ sở mà xem như niềm vui. Nhờ ba, tôi học được cách tôn trọng giá trị giản đơn trong cuộc sống.
Điều tôi trân trọng nữa đó là việc họ không bao bọc con quá mức. Sau mỗi lần mắc lỗi, tôi tự đứng dậy bằng những bài học.
- Điều chị tự hào nhất về mình cho đến nay là gì?
- Thời sinh viên, tôi đi làm thêm với vai trò gia sư, MC song ngữ. Vào năm nhất, tôi đã có thể bắt đầu tự trang trải học phí, sinh hoạt, giảm bớt gánh nặng cho ba mẹ. Khi tự chủ hơn về tài chính, tôi từng nói: "Thôi ba mẹ nghỉ bán quán để ở nhà nghỉ ngơi". Họ bảo nếu ở nhà suốt ngày, không làm gì sẽ buồn. Vì vậy, hiện họ vẫn duy trì việc bán đồ ăn sáng. Tuy nhiên, tôi tin ba mẹ làm vì yêu thích thay vì áp lực mưu sinh như trước.
Họ chưa bao giờ đặt nặng chuyện con cái có mức lương bao nhiêu mỗi tháng, phải mua được nhà lầu, xe đẹp. Ba mẹ khuyên tôi điều quan trọng nhất là sống khỏe mạnh. Nhờ đó, tôi không bị áp lực phải thành công theo những tiêu chuẩn hào nhoáng của xã hội. Tôi ưu tiên cuộc sống ổn định về thể chất, bình yên trong tinh thần.
- Chị nghĩ gì về hào quang khi bước vào showbiz?
- Quan điểm sống của tôi sẽ không thay đổi so với lúc chưa phải là người của công chúng. Giống như thông điệp tôi từng nói tại vòng thi Người đẹp Bản lĩnh rằng nếu cả đời không rực rỡ cũng chẳng sao, miễn sao mình sống đúng cảm xúc và thấy hài lòng về mọi quyết định.
Tôi không đặt mục tiêu mỹ mãn trong mọi việc bởi hiểu nếu không chạm đến sẽ có cảm giác ngã rất đau, mất thời gian để đứng dậy. Tuy nhiên, không phải vì thế mà tôi hời hợt, thiếu kỷ luật. Một khi tôi đã làm hết sức, kết quả ra sao cũng không tiếc nuối.
- Cuộc sống đời thường của chị diễn ra thế nào?
- Tôi cân bằng giữa công việc MC và trau dồi thêm các kỹ năng, ngoại ngữ, luyện giao tiếp bằng cách nghe podcast. Khi rảnh, tôi đi gặp gỡ thầy cô, nói chuyện với bạn bè. Với tôi, việc giữ sự kết nối rất quan trọng bởi chẳng ai đạt thành tựu trong cuộc sống mà đi một mình.
Tôi không phủ nhận nỗ lực cá nhân, thường tự thưởng sau mỗi lần hoàn thành tốt công việc bằng bữa ăn ngon với món gà rán yêu thích hay mua một chiếc áo. Tôi thích hát, múa, xem đây là cách thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng. Cứ vài tuần, tôi lại bắt xe về quê chơi với bố mẹ.
Về chuyện tình cảm, tôi chưa bận tâm, cũng không gặp bất cứ sự hối thúc nào từ gia đình.
Tại hậu trường lễ trao giải Saturn Awards 2026 của Viện Hàn lâm Phim Khoa học Viễn tưởng, Giả tưởng và Kinh dị (Mỹ) đầu tháng 3, đạo diễn James Cameron cho biết êkíp chưa đưa ra phương án về việc ra mắt phần thứ tư và năm.
"Điều đó có khả năng xảy ra nhưng không chắc chắn 100%. Chúng tôi sẽ rút kinh nghiệm từ ba phần trước", ông nói.
Giới chuyên môn cho rằng kế hoạch phát hành cho các phần tiếp khá mơ hồ. Ban đầu, đội ngũ lên kế hoạch thực hiện năm phim và đã quay một phần của phần bốn, dự kiến phát hành ngày 21/12/2029. Tập cuối Avatar 5 lên lịch vào ngày 19/12/2031. Nhưng theo nguồn tin nội bộ của The Wrap, hãng Disney đang thảo luận về cách làm giảm chi phí và rút ngắn thời lượng các phần tiếp theo nhằm tránh rủi ro tài chính khi sản xuất. Không chỉ ở mảng điện ảnh, kế hoạch mở rộng khu chủ đề Avatar tại một trong những công viên giải trí của họ ở California đang được xem xét lại.
Sự thận trọng của hãng phim đến từ việc Fire and Ash - với ngân sách khoảng 350 triệu USD, thêm 150 triệu USD cho hoạt động quảng bá - bị so sánh với những phần trước. Bộ phim đầu tiên Avatar hiện là tác phẩm ăn khách nhất mọi thời với hơn 2,9 tỷ USD, còn Avatar: The Way of Water đạt khoảng 2,3 tỷ USD và đứng trong nhóm phim ăn khách nhất lịch sử phòng vé.
Khi đặt cạnh những cột mốc này, doanh thu 1,4 tỷ USD của phần ba giảm sút đáng kể, dù thực tế đây vẫn là con số rất cao đối với thị trường điện ảnh toàn cầu. So với các dự án khác của Disney, chẳng hạn Zootopia 2 với hơn 1,8 tỷ USD, Fire and Ash bị nhìn nhận như bước lùi, dù quy mô và tính chất của hai phim khác nhau.
Trên The Wrap, ông Paul Dergarabedian - trưởng bộ phận xu hướng thị trường của công ty phân tích truyền thông Comscore - nhận xét thương hiệu đã thiết lập tiêu chuẩn doanh thu phòng vé, nên việc bị đối chiếu là không thể tránh khỏi. "Ngay khi tác phẩm mở màn ở Bắc Mỹ với 89 triệu USD và gần 1,5 tỷ USD toàn cầu, kết quả này - xét ở mọi góc độ - là con số gây thất vọng. Nhận thức ấy xuất phát từ vị thế của loạt phim này".
Quá trình phát hành Fire and Ash cho thấy một số vấn đề. Chiến dịch quảng bá bị cho là chưa tạo khác biệt, khiến khán giả không cảm nhận rõ tính mới mẻ. Thời lượng gần 200 phút làm người xem mất tập trung, đôi lúc làm nhịp kể chậm lại. Ngoài ra, sự thiếu vắng các sản phẩm ăn theo như đồ chơi, áo thun, poster hoặc đồ lưu niệm - vốn là phần quan trọng trong chiến lược truyền thông của Disney - khiến độ phủ của bộ phim bị hạn chế.
Thách thức lớn khác đến từ chi phí. Avatar nổi tiếng với quy trình thực hiện phức tạp, kết hợp giữa ghi hình chuyển động và xử lý kỹ xảo ở mức cao. Mỗi chi tiết như thiết kế phục trang, tạo hình nhân vật đòi hỏi thời gian và nguồn lực lớn. Việc cắt giảm chi phí mà vẫn duy trì chất lượng là "bài toán" không dễ để đưa ra lời giải. Dù có ý kiến đề xuất áp dụng trí tuệ nhân tạo, Cameron nhiều lần khẳng định ông không sử dụng công nghệ này trong quá trình sản xuất.
Nhà sản xuất được cho là tính đến việc chuyển giao series cho đạo diễn khác. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng dấu ấn cá nhân của Cameron là yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc. Việc tách ông khỏi series có thể làm suy giảm chất lượng và sức hấp dẫn của loạt phim.
Nhà sản xuất Jon Landau (1960-2024) từng nhiều lần nhấn mạnh tham vọng của series, gồm mở rộng câu chuyện ra ngoài bối cảnh hành tinh Pandora, đưa các nhân vật trở lại Trái Đất khai thác các xung đột quy mô lớn. Hiện đạo diễn Cameron quay trước một phần nội dung của phần bốn và hoàn thiện kịch bản cho hai tập mới. Đội ngũ sáng tạo gồm các tên tuổi hàng đầu Hollywood như biên kịch Rick Jaffa, Amanda Silver, Josh Friedman và Shane Salerno.
Trong cuộc phỏng vấn với Inverse đầu tháng 4, nhà sản xuất Rae Sanchini nói: "Chúng tôi đang nỗ lực hết sức, từ việc lập ngân sách, lên lịch quay, xây dựng hệ thống sản xuất mới cho các phần tiếp theo".
Dù vậy, quyết định phụ thuộc vào tính toán chiến lược của Disney và hiệu quả tiếp nhận của thị trường. Trong một ngành công nghiệp ngày càng khắt khe về hiệu quả đầu tư, những thương hiệu lớn nhất phải đối mặt những áp lực chưa từng có, nhất là sự phát triển vượt trội của trí tuệ nhân tạo ở lĩnh vực sản xuất phim.
Không chỉ Avatar mà nhiều thương hiệu lớn của Disney đang được rà soát hiệu quả hoạt động. Marvel Studios trải qua giai đoạn khó khăn sau một số dự án phát hành năm ngoái như Captain America: Brave New World, Thunderbolts không đạt kỳ vọng. Lucasfilm đang tìm hướng đi mới cho Star Wars, còn Pixar phụ thuộc các phần phim ăn theo.
Trên The Wrap, một thành viên giấu tên trong êkíp cho biết: "Tôi tin chắc James Cameron sẽ hoàn thành loạt phim năm phần. Đừng bao giờ đánh giá thấp ông ấy".
Ra mắt năm 2009, Avatar vượt Titanic trở thành phim điện ảnh ăn khách nhất mọi thời. Series dẫn dắt khán giả đến thế giới kỳ ảo, mang tính cảnh tỉnh về các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh con người đứng trước cuộc cách mạng AI và ô nhiễm môi trường. James Cameron không đạo diễn phim điện ảnh nào ngoài Avatar mà dành nhiều thời gian nghiên cứu công nghệ và chuẩn bị kịch bản cho các phần kế tiếp.
Cát Tiên (theo The Wrap)
Gần 6 năm đồng hành cùng chương trình Thần tài gõ cửa, Phúc Zelo trở thành gương mặt quen thuộc trong vai Thổ Địa, cùng MC Đình Toàn mang lại hy vọng cho những mảnh đời kém may mắn. Thế nhưng, phía sau nét diễn hài hước, hóm hỉnh, Phúc Zelo là một người dễ xúc động trước những câu chuyện đời thực.
Nam diễn viên nhớ lại một kỷ niệm khó quên khi ghi hình: "Có một tập về một cô bé phải bỏ học vì bị bạn bè trêu chọc là con của người khuyết tật. Giây phút ấy, tôi đã không kìm được nước mắt". Giọt nước mắt của Phúc Zelo không chỉ là sự xót thương cho hoàn cảnh của nhân vật, mà còn là nỗi đau và sự tự ti anh từng trải qua trong quá khứ.
Để có thể trò chuyện và chia sẻ với các nhân vật, Phúc Zelo luôn nhắc bản thân giữ sự chừng mực. Anh cho biết phải cân bằng yếu tố hài hước, tránh nói điều quá đà có thể ảnh hưởng đến tâm lý người tham gia. Với nam diễn viên, việc góp mặt trong chương trình không đơn thuần là biểu diễn mà còn là hành trình giúp anh thay đổi góc nhìn về cuộc sống. "Nhìn lên mình không bằng ai, nhưng nhìn xuống vẫn còn nhiều người khổ hơn mình rất nhiều", nam diễn viên bày tỏ.
Lý do khiến Phúc Zelo dễ rơi nước mắt trước cảnh một đứa trẻ phải rời xa mái trường chính vì anh cũng từng trải qua một tuổi thơ nhiều thiếu thốn. Năm 15 tuổi, trong khi bạn bè đồng trang lứa còn sống trong sự che chở của gia đình, Phúc Zelo một mình rời quê nhà Cà Mau lên Sóc Trăng (cũ, nay là Cần Thơ) để kiếm sống. "Gia đình kinh tế khó khăn, tôi quyết định đi để cha mẹ đỡ phần gánh nặng chi phí", nam diễn viên kể lại.
Tại đây, cậu thiếu niên bắt đầu chuỗi ngày vừa học vừa làm, từ bán chè đến phục vụ quán nhậu để trang trải học phí. Anh chấp nhận ở lại quán để được lo ăn ở, dành dụm từng khoản thu nhập ít ỏi gửi về quê. Dù vất vả, nam diễn viên chưa từng nghĩ đến việc bỏ học. "Tôi từng đi làm thêm những công việc lao động chân tay rất vất vả. Khi đó, những người bạn làm thêm luôn nói: "Phải học để sau này được ngồi làm ở văn phòng, có máy lạnh". Những câu nói đó cứ in sâu vào đầu tôi. Tôi tự nhủ, bằng lớp 12 chỉ là bằng "xóa mù chữ", mình nhất định phải học cao hơn nữa", Phúc Zelo tâm sự.
Sự quyết tâm ấy đã đưa Phúc Zelo chạm ngõ nghệ thuật. Con đường học tập tại Trường đại học Sân khấu – Điện ảnh TP.HCM không hề dễ dàng, từng có lúc anh muốn bỏ cuộc vì áp lực học phí. Tuy nhiên, bằng ý chí bền bỉ, anh tiếp tục làm thêm, tích góp để theo đuổi ước mơ. Sự kiên trì đã giúp anh gặt hái được những thành công đầu tiên với ngôi vị quán quân Làng hài mở hội (2016), giải 3 tại Tiếu lâm tứ trụ (2016), tạo dấu ấn với khán giả nhờ phong cách hài duyên dáng.
Không dừng lại ở vai trò diễn viên, Phúc Zelo tiếp tục trau dồi kiến thức khi theo học và tốt nghiệp chuyên ngành đạo diễn sân khấu vào năm 2017 và tiếp tục con đường cao học. Với Phúc Zelo, tri thức là nền tảng để trụ vững trong môi trường giải trí nhiều cạnh tranh. Đó cũng là “cứu cánh” giúp anh vượt qua những giai đoạn khó khăn và tiếp tục theo đuổi con đường nghệ thuật một cách bền bỉ.