Chuyên gia du lịch kiêm nhà văn người Mỹ, Rick Steves, cho hay khi đi du lịch và tìm hiểu phong tục mới, những cử chỉ nhỏ như để lại tiền lẻ trên bàn có thể bị hiểu sai.
“Du khách đang vô tình khiến nhân viên kỳ vọng nhiều vào tiền boa và phá vỡ sự cân bằng thu nhập địa phương. Đó là một cách hành xử thiếu tinh tế. Ngoài ra, ở những nơi đông đúc, những người không liên quan có thể nẫng tay trên số tiền lẻ đó”, Steves viết trên blog.
Tại châu Âu, nơi nhân viên phục vụ được trả mức lương đủ sống, tiền boa không phải một nghĩa vụ bắt buộc. Tại các quốc gia như Đức, Áo, Bỉ hay Luxembourg, cùng với một số vùng ở Thụy Sĩ và Liechtenstein, việc dùng tiền xu để boa thậm chí còn bị coi là khiếm nhã, thiếu tôn trọng nhân viên.
Steve Schwab, CEO của Casago, công ty quản lý tài sản và cho thuê nghỉ dưỡng có trụ sở tại Arizona (Mỹ), nhấn mạnh điều quan trọng cần nhớ là tại châu Âu, không có một công thức chung nào áp dụng được cho tất cả các quốc gia.
“Mỗi quốc gia khác nhau, vì vậy chúng ta không thể đánh đồng tất cả là văn hóa tiền boa của châu Âu. Các quốc gia Bắc Âu là nơi ít kỳ vọng tiền boa nhất, phần lớn là vì họ nổi tiếng với việc trả lương cao cho nhân viên hoặc đã tính sẵn phí dịch vụ vào hóa đơn”, ông Schwab cho hay.
Tuy nhiên điều này không có nghĩa du khách bỏ hẳn việc boa. Steves khuyên nên áp dụng cách tiếp cận trực tiếp, điều này phù hợp tại các quốc gia nói tiếng Đức, nơi việc để lại tiền xu trên bàn không được thiện cảm.
“Khi thanh toán hóa đơn 10 euro bằng tờ 20 euro, bạn có thể nói ‘Lấy tôi 11 euro nhé (Eleven, please)’. Đây là tín hiệu để nhân viên giữ lại 1 euro làm tiền tip và trả phần tiền thừa còn lại”, Steves cho hay.
Nhưng tại Mỹ, nhân viên phục vụ thường phải dựa vào tiền boa để bù đắp cho mức lương cơ bản thấp. Ở Mỹ, mức boa cũng khá cao. Khoảng 5% được xem là thỏa đáng, 10% là hào phóng, nhiều nơi có thể lên tới 15% đến 20%, theo Steves.
Chính thực trạng này, cùng với sự xuất hiện dày đặc của các yêu cầu boa trên ứng dụng điện tử, đã làm gia tăng sự bức bối. Gần 90% người Mỹ cho rằng văn hóa tiền boa “đang vượt tầm kiểm soát”. Tại châu Âu, những mức boa thế này bị coi là quá mức cần thiết. “Hãy kiềm chế ý muốn boa theo kiểu Mỹ”, ông Steves nói thêm.
LaDell Carter, đối tác sáng lập của Royal Expression Travels tại Maryland (Mỹ), cho biết: “Không phải lúc nào số lượng tiền boa cũng là yếu tố quyết định. Quan trọng là cách đưa và ý định đằng sau đó”. Bà Carter nói thêm rằng, đặc biệt trong các không gian sang trọng, những đồng xu nằm rải rác trên bàn mang lại cảm giác giống như một sự bố thí hoặc hành động tùy tiện.
Steves cũng khuyến nghị rằng du khách có thể bỏ qua tiền boa tại các quầy phục vụ tự chọn, chỉ cần làm tròn tiền cước taxi và đưa những khoản boa nhỏ cho hướng dẫn viên hoặc nhân viên khách sạn.
Phương thức thanh toán cũng là một yếu tố quan trọng. Thanh toán bằng thẻ rất phổ biến, nhưng boa tốt nhất nên đưa tiền mặt để đảm bảo số tiền đó đến thẳng tay người phục vụ, bởi một số cơ sở kinh doanh có thể sẽ không chuyển lại đầy đủ khoản tiền thưởng này nếu khách hàng thanh toán thẻ.
Các chuyên gia cũng khuyên du khách kiểm tra kỹ hóa đơn đã bao gồm phí dịch vụ hay chưa, đồng thời quan sát thói quen của người bản địa trước khi quyết định boa. Nếu còn phân vân, đừng ngại hỏi người dân địa phương về những quy chuẩn riêng biệt tại quốc gia đó.
Trong khuôn khổ Ngày hội Du lịch TP.HCM 2026, talkshow “Khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo du lịch TP.HCM” đã diễn ra tại công viên 23-9, chiều 4-4.
Chủ tịch Dong Travel và nhà đầu tư thiên thần Đồng Hoàng Thịnh nói về “điểm chạm” giữa doanh nghiệp lữ hành và công nghệ gần như đang đứng trên hai “chân”: chân phải là vận hành thực tế, chân trái là công nghệ.
Khoảng 10 năm trước, ở góc độ vận hành, anh thấy các bạn đưa ra rất nhiều ý tưởng và giải pháp công nghệ rất hay. Nhưng khi triển khai thực tế lại "vỡ trận" vì không xử lý được các tình huống ngoại lệ.
Ví dụ 3h khách hạ cánh xuống sân bay mà không có người đón thì lúc đó mọi công nghệ, mọi ý tưởng nếu không giải quyết được tình huống này đều trở nên vô nghĩa.
“Điểm chạm quan trọng nhất là công nghệ nào có khả năng xử lý các tình huống ngoại lệ trong vận hành. Công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi giải quyết được những bài toán khó, những vấn đề phát sinh ngoài kịch bản”, anh Thịnh bày tỏ.
Anh Thịnh cho hay hiện nay nhiều bạn trẻ phát triển các ứng dụng, nền tảng với ý tưởng rất tốt. Nhưng khi đưa vào vận hành thực tế, mọi thứ không diễn ra như kỳ vọng, dẫn đến sản phẩm bị “vỡ”.
CEO và đồng sáng lập Huuk & partner of Deal Flow Mic Nguyễn cho biết trong năm 2024, Việt Nam đón khoảng 17,5 triệu khách quốc tế và hơn 110 triệu khách nội địa. Tổng quy mô kinh tế du lịch khoảng 840.000 tỉ đồng. Trong đó có đến khoảng 70% tiền đó đến từ các hoạt động kinh tế đêm.
“Ban ngày du khách chủ yếu tham quan, nhưng ban đêm mới là thời điểm họ thực sự chi tiêu từ ăn uống, vui chơi, mua sắm cho đến các trải nghiệm giải trí khác", anh Mic nói.
Anh nói kinh tế đêm, du khách xoay quanh bốn nhu cầu chính của du khách: Ăn gì, chơi gì, ở đâu, đi lại. Cả bốn lĩnh vực này đều tạo ra doanh thu.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ứng dụng công nghệ nhằm tối ưu dòng tiền trong cả bốn lĩnh vực đó?
Anh Mic chia sẻ ở góc độ doanh nghiệp, bài toán luôn xoay quanh hai yếu tố chi phí và doanh thu. Mục tiêu là giảm chi phí và tăng doanh thu để tối đa hóa lợi nhuận, đây chính là nơi công nghệ phát huy vai trò.
Ví dụ, các startup có thể tập trung vào việc giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí vận hành. Nếu trước đây doanh nghiệp phải tốn 10 đồng để vận hành, nhờ công nghệ có thể giảm xuống còn 5 đồng hoặc thấp hơn. Khi chi phí giảm mà chất lượng vẫn đảm bảo, hiệu quả kinh doanh sẽ tăng lên đáng kể.
Anh Mic nói có rất nhiều công nghệ có thể áp dụng như dữ liệu lớn (Big Data), AI, tự động hóa… Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp luôn tồn tại ba cấp: con người, quy trình và công nghệ.
“Trước tiên, doanh nghiệp cần có đúng người. Sau đó là xây dựng quy trình vận hành rõ ràng, hiệu quả. Cuối cùng, công nghệ tối ưu hóa quy trình và hỗ trợ con người làm việc hiệu quả hơn”, anh Mic cho hay.
Vì vậy, với các startup, điều quan trọng là phải ngồi lại với doanh nghiệp du lịch và trả lời những câu hỏi rất thực tế: Vấn đề lớn nhất trong vận hành hiện tại là gì? Trong bốn lĩnh vực: ăn, chơi, ở, đi thì điểm nghẽn nằm ở đâu? Doanh nghiệp đang giải quyết vấn đề đó như thế nào? Từ đó mới đề xuất giải pháp công nghệ phù hợp.
Để góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong ngành xây dựng, Cục Hàng không Việt Nam yêu cầu Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phổ biến nội dung Chỉ thị 09 ban hành ngày 19.3 của Thủ tướng Chính phủ đến cán bộ, công chức và người lao động.
Theo đó, các phòng thuộc Cục căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các chiến lược, quy hoạch, chương trình, đề án, văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý để thực hiện lồng ghép mục tiêu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Đồng thời, triển khai các giải pháp hiệu quả, tăng cường kiểm soát tiêu thụ năng lượng tại trụ sở làm việc, công trình do cơ quan, đơn vị quản lý.
Ngoài ra, Cục cũng yêu cầu các Cảng vụ hàng không tuyên truyền, khuyến khích các doanh nghiệp trong lĩnh vực cảng hàng không, bảo đảm hoạt động bay, vận tải hàng không... chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện chuyển đổi phương tiện mặt đất sang phương tiện sử dụng năng lượng điện, nhiên liệu xanh.
Lộ trình cụ thể, từ năm 2027 - 2030, nghiên cứu sử dụng nhiên liệu thay thế để bổ sung một phần trong nhiên liệu hàng không. Đồng thời, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về sử dụng năng lượng và tiêu thụ nhiên liệu của các doanh nghiệp hàng không.
Từ năm 2035, Cục yêu cầu sử dụng tối thiểu 10% nhiên liệu bền vững cho một số chuyến bay ngắn; 100% phương tiện chở khách và phương tiện khác trong sân bay đầu tư mới sử dụng điện, năng lượng xanh.
Từ năm 2040, tất cả các phương tiện hoạt động trong khu bay sử dụng điện, năng lượng xanh (trừ các phương tiện đặc thù chưa sử dụng năng lượng điện).
Giai đoạn sau năm 2050, chuyển đổi sử dụng 100% năng lượng xanh, nhiên liệu hàng không bền vững cho tàu bay để giảm tối đa lượng phát thải khí nhà kính. Tùy thuộc điều kiện công nghệ, lượng phát thải còn lại được thực hiện bằng cách bù đắp carbon để đạt phát thải ròng bằng “0”.