Đây là yêu cầu được Ủy viên T.Ư Đảng, Phó trưởng Ban Tuyên giáo – Dân vận Trung ương Trần Thanh Lâm nêu rõ tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cho các cơ quan báo chí, xuất bản và đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức, sáng 8.4.
Hội nghị diễn ra theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối hơn 40 điểm cầu trên toàn quốc với khoảng 7.000 đại biểu tham dự.
Phát biểu tại hội nghị, Phó trưởng ban Tuyên giáo – Dân vận Trung ương Trần Thanh Lâm nhấn mạnh, để triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, ông Lâm đề nghị cần tránh hình thức, coi việc học tập nghị quyết không chỉ là nhiệm vụ của riêng năm 2026 mà là xuyên suốt cả nhiệm kỳ.
“Không đơn thuần là ban hành hướng dẫn, kế hoạch, xây dựng chương trình hành động, mà mỗi cấp ủy viên, mỗi lãnh đạo cần thấm nhuần tư tưởng, tinh thần đổi mới, mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá trong các nghị quyết để từ đó tổ chức triển khai quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả vào đặc thù của từng lĩnh vực”, ông Lâm nhấn mạnh.
Theo ông Trần Thanh Lâm, Nghị quyết Đại hội XIV đã xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm đối với báo chí, xuất bản, văn hóa văn nghệ và khoa học công nghệ. Trong đó, lực lượng báo chí, xuất bản cần quyết tâm xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại.
Với lĩnh vực văn hóa, Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị khẳng định văn hóa phải đặt ngang tầm với kinh tế và chính trị, con người là trung tâm. Đội ngũ văn nghệ sĩ được xác định là lực lượng xây dựng, bồi đắp tâm hồn dân tộc, thắp lửa khát vọng cho nhân dân, cần có cơ chế phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò này.
Đối với trí thức và nhà khoa học, Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị nhấn mạnh khoa học công nghệ là động lực chủ yếu của tăng trưởng, trong đó đội ngũ trí thức là nhân tố quan trọng nhất. Vì vậy, cần tháo gỡ các nút thắt về cơ chế, đầu tư, tự chủ để tạo môi trường sáng tạo và cống hiến.
Đặc biệt, yếu tố con người được xác định là khâu đột phá. Theo ông Lâm, mọi mục tiêu sẽ khó trở thành hiện thực nếu không có đội ngũ cán bộ báo chí, trí thức, nghệ sĩ đủ tâm và đủ tầm.
Ông cũng lưu ý, các nghị quyết chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được cụ thể hóa bằng chương trình hành động, dự án, đề án với địa chỉ rõ ràng, có thời hạn và thước đo hiệu quả cụ thể. Kết quả thực hiện chính là thước đo năng lực lãnh đạo, điều hành và trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân.
Làm rõ hơn quan điểm về báo chí, xuất bản trong văn kiện Đại hội XIV, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng biên tập Báo Nhân Dân Lê Quốc Minh cho rằng trong kỷ nguyên mới, báo chí, truyền thông phải đóng vai trò tiên phong trong định hướng, phản ánh và thúc đẩy hành động xã hội.
Theo Tổng biên tập Báo Nhân Dân, báo chí không chỉ là “người thư ký trung thành của thời đại” mà còn phải là lực lượng định hướng tư tưởng, cổ vũ tinh thần yêu nước, khơi dậy khát vọng xây dựng xã hội Việt Nam phát triển, văn minh và an toàn.
“Trong kỷ nguyên mới, yêu cầu “chuyên nghiệp” với báo chí, xuất bản, truyền thông không chỉ ở vai trò là “người thư ký trung thành của thời đại” mà đề cao tính định hướng tư tưởng, là “ngọn đuốc soi đường” cổ vũ tinh thần yêu nước, khơi dậy khát vọng xây dựng xã hội Việt Nam lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn và phát triển”, ông Minh lưu ý.
Cũng theo ông Minh, đội ngũ báo chí phải thực sự là những chiến sĩ tinh nhuệ trên mặt trận văn hóa, vững vàng bản lĩnh chính trị, tinh thông nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng.
Các cơ quan báo chí cần xây dựng thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh với các nền tảng xuyên biên giới, giữ vững chủ quyền thông tin quốc gia và định hướng dòng chảy thông tin tích cực trong xã hội.
Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, báo chí cần liên tục đổi mới cách thức truyền tải thông tin, thu hút công chúng nhưng vẫn đảm bảo vai trò dẫn dắt dư luận, phản biện xã hội và không để các nền tảng không chính thống chiếm lĩnh vị trí này.
Nhấn mạnh báo chí Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt quan trọng, ông Minh cho rằng nếu tận dụng tốt cơ hội và đổi mới kịp thời, có thể xây dựng nền báo chí hiện đại, cạnh tranh cao, đóng góp tích cực cho sự phát triển đất nước. Ngược lại, nếu chậm đổi mới sẽ đối mặt nguy cơ tụt hậu và mất vai trò dẫn dắt.
“Việc quán triệt và triển khai hiệu quả các quan điểm của Đại hội XIV về báo chí, xuất bản là yêu cầu sống còn đối với mỗi cơ quan báo chí, xuất bản”, Tổng biên tập Báo Nhân Dân nêu rõ.
Sáng 21.4, Quốc hội tiếp tục thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030.
Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh (đoàn Cà Mau) trình bày những lo lắng về vấn đề già hóa dân số; tỷ suất sinh giảm xuống dưới mức thay thế.
Bà Linh dẫn chứng số liệu trong báo cáo cho thấy tổng tỷ suất sinh của Việt Nam hiện chỉ còn khoảng 1,91 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế là 2,1 con. Đây là dấu hiệu cho thấy quy mô gia đình ngày càng thu nhỏ, số trẻ em sinh ra không đủ để duy trì quy mô dân số ổn định trong dài hạn.
Năm 2022, mức sinh tương đối ổn định quanh mức thay thế gần 2,1 con. Đến năm 2023 khoảng 1,96 con trên phụ nữ. Đến năm 2024 giảm xuống còn 1,91 con trên phụ nữ. Những con số cho thấy xu hướng giảm nhanh trở lại trong 2 năm gần đây, trong đó tỷ lệ sinh ở thành thị thấp hơn ở vùng nông thôn.
Bên cạnh đó, theo bà Linh, Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn dân số vàng sang dân số già với tốc độ nhanh. Tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên ngày càng tăng trong khi lực lượng lao động trẻ có xu hướng giảm mạnh.
Từ thực trạng đó, bà Linh đề xuất cần tiếp tục điều chỉnh chính sách dân số theo hướng chuyển mạnh từ kế hoạch hóa gia đình sang duy trì mức sinh thay thế một cách bền vững.
Trong đó cần phân vùng chính sách rõ ràng, tập trung ưu tiên các địa phương có mức sinh thấp, đô thị lớn, khu công nghiệp, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con, coi đây là trách nhiệm xã hội gắn với phát triển bền vững của đất nước.
Kế đó, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ tài chính thiết thực dài hạn cho các gia đình sinh con và nuôi con nhỏ, như hỗ trợ chi phí sinh con, chăm sóc trẻ em, mở rộng chính sách miễn giảm chi phí y tế cho trẻ em, đồng thời cần có chính sách thuế ưu đãi đối với hộ gia đình nuôi con nhỏ.
Cùng đó, tập trung đầu tư phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc trẻ em đồng bộ, chất lượng, mở rộng mạng lưới nhà trẻ, trường mầm non, đặc biệt tại khu đô thị, khu công nghiệp, phát triển các dịch vụ trông trẻ ngoài giờ, dịch vụ chăm sóc trẻ linh hoạt. Có chính sách hỗ trợ nhà ở, tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho các cặp vợ chồng trẻ, giúp họ yên tâm lập gia đình và sinh con.
Bà Linh cũng đề nghị đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục, nhằm thay đổi nhận thức xã hội về hôn nhân, khuyến khích kết hôn và sinh con đúng độ tuổi, giảm xu hướng trì hoãn hôn nhân và sinh con trong giới trẻ hiện nay.
Đồng thời cần chuyển mạnh sang chính sách khuyến sinh chủ động, đồng bộ và dài hạn, lấy gia đình và phụ nữ làm trung tâm, tôn trọng quyền lựa chọn sinh con nhưng tạo môi trường thuận lợi để người dân muốn sinh con và có thể sinh con.
Cạnh đó, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến dân số, lao động, an sinh xã hội, bình đẳng giới theo hướng đồng bộ và thống nhất.
Sáng 10.4, HĐND tỉnh Đồng Nai khóa XI (nhiệm kỳ 2026 - 2031) tiến hành kỳ họp thứ 2. Tại kỳ họp, HĐND tỉnh đã bầu ông Nguyễn Tuấn Anh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường giữ chức Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai khóa XI với 100% số phiếu bầu đồng ý.
Ông Nguyễn Tuấn Anh (sinh năm 1977) quê xã Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Trình độ chuyên môn: thạc sĩ, kỹ sư quản lý đất đai.
Trước khi làm Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường rồi được bầu giữ chức Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, ông Nguyễn Tuấn Anh từng giữ các chức vụ Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh; Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Đồng Nai.
Như vậy, hiện tại lãnh đạo UBND tỉnh Đồng Nai gồm Chủ tịch là ông Nguyễn Văn Út, cùng 5 Phó chủ tịch gồm: ông Nguyễn Kim Long (Phó chủ tịch Thường trực), ông Lê Trường Sơn, ông Hồ Văn Hà, ông Nguyễn Tuấn Anh và bà Nguyễn Thị Hoàng.
Phát biểu trước Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội sáng 21/4, đại biểu Thạch Phước Bình, Phó đoàn đại biểu tỉnh Vĩnh Long, nhấn mạnh việc điều chỉnh mức lương cơ sở là yếu tố quyết định trực tiếp đến đời sống, động lực làm việc và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Những năm gần đây, Nhà nước đã nâng mức lương cơ sở từ 1,49 lên 1,8 rồi 2,34 triệu đồng/tháng và dự kiến tiếp tục tăng lên 2,53 triệu đồng từ 1/7/2026. Tuy nhiên theo ông, vấn đề hiện nay không còn là có tăng hay không mà là tăng ở mức nào để vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách, đồng thời tạo động lực phát triển khu vực công.
Đại biểu đánh giá mức tăng dự kiến từ 1/7 "hợp lý về mặt kỹ thuật nhưng chưa đủ mạnh để bảo đảm cuộc sống cho đa số người làm khu vực công". Mức này chỉ tăng khoảng 8,12% so với 2,34 triệu đồng hiện hành, tức là cao hơn lạm phát bình quân năm 2025 là 3,63% và cũng cao hơn mức CPI bình quân quý 1 năm 2026 là 3,51%.
"Tuy nhiên, nếu hỏi mức đó đã đủ để người khu vực công sống được bằng lương chưa thì theo tôi là chưa, nhất là đối với người mới vào nghề, người không có nguồn thu bổ sung và người làm việc ở các đô thị lớn", đại biểu tỉnh Vĩnh Long nói.
Ông dẫn chứng một công chức mới vào nghề với hệ số 1,86 chỉ đạt khoảng 4,7 triệu đồng/tháng trước khi trừ bảo hiểm, trong khi chi phí sinh hoạt tối thiểu tại đô thị phổ biến từ 6-7 triệu đồng/tháng. Điều này cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa thu nhập và nhu cầu sống cơ bản.
Hệ quả là người lao động khó sống độc lập bằng lương, phải phụ thuộc vào nguồn thu nhập bổ sung, làm giảm động lực và chất lượng cuộc sống. Vì vậy, theo ông, mức 2,53 triệu đồng mới chỉ đạt mục tiêu ổn định, chưa đạt mục tiêu bảo đảm đời sống.
Mặt khác, từ 1/7, lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp dự kiến là 5,31 triệu đồng ở vùng một, 4,73 triệu đồng ở vùng hai, 4,14 triệu đồng ở vùng ba và 3,96 triệu đồng ở vùng bốn. Bình quân bốn vùng khoảng 4,47 triệu đồng/tháng. Nếu lấy mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng nhân với hệ số khởi điểm phổ biến 1,86, tiền lương theo công thức hiện hành chỉ khoảng 4,7 triệu đồng/tháng; với hệ số 2,1 thì khoảng 5,3 triệu đồng/tháng.
"Nói cách khác, người ở nhóm thấp nhất chỉ vừa nhỉnh hơn mức lương tối thiểu vùng bình quân, còn người ở nhóm hệ số 2,1 thì chỉ vừa chạm ngưỡng vùng một", ông phân tích.
Với mặt bằng chi phí đô thị, theo đại biểu Bình, đó chỉ là mức cầm cự, chưa phải mức bảo đảm cuộc sống ổn định. Bên cạnh đó, áp lực chi tiêu cũng không nhỏ khi ngay trong năm 2025, nhiều nhóm chi phí thiết yếu tăng nhanh hơn CPI chung như nhà ở, điện, nước và vật liệu xây dựng tăng 8,3%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,92%. Đây đều là các khoản chi khó tránh của hộ gia đình công chức, viên chức.
Do đó, dù lương cơ sở tăng 8,12%, cảm nhận thực tế của nhiều người vẫn "chưa đạt mức an tâm", nhất là khi phải trang trải chi phí nuôi con, thuê nhà, đi lại, học hành và chăm sóc y tế.
Từ các phân tích trên, đại biểu đề xuất mức 2,65-2,7 triệu đồng/tháng, tương đương tăng khoảng 13-15% so với mức lương cơ sở hiện hành, là phương án hợp lý và khả thi hơn trong giai đoạn hiện nay. Với mức này, người có hệ số 1,86 có thể đạt khoảng 4,9-5 triệu đồng/tháng, người có hệ số 2,1 đạt trên 5,5 triệu đồng/tháng.
So với mức 2,53 triệu đồng, thu nhập tăng thêm khoảng 200.000-400.000 đồng/tháng, là mức tăng có ý nghĩa rõ rệt đối với nhóm có thu nhập thấp. Quan trọng hơn, mức này giúp thu hẹp khoảng cách với lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp, giảm áp lực thiếu hụt chi tiêu thiết yếu cả về đời sống và tâm lý.
Theo ông, mức tăng lên 2,65-2,7 triệu đồng tuy chưa thể bảo đảm hoàn toàn sống được bằng lương ở đô thị lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp người lao động giảm phụ thuộc vào nguồn thu nhập ngoài lương, tạo cảm nhận rõ ràng về sự cải thiện thu nhập thay vì chỉ tăng danh nghĩa, qua đó góp phần ổn định tâm lý và nâng cao động lực làm việc.
Đại biểu cũng cho rằng mức 2,65-2,7 triệu đồng/tháng "không tạo áp lực quá lớn" lên ngân sách nhà nước, có thể thực hiện nếu đi kèm với tinh giản biên chế, cơ cấu lại chi tiêu công và giảm các khoản chi kém hiệu quả. Điểm mấu chốt là đạt được sự cân bằng giữa khả năng chi trả và yêu cầu cải thiện đời sống.
Cuối tháng 3, Bộ Nội vụ trình Chính phủ dự thảo nâng lương cơ sở từ 2,34 lên 2,53 triệu đồng, tương đương tăng 8,1% từ ngày 1/7 theo lộ trình điều chỉnh tiền lương khu vực nhà nước.
Mức lương cơ sở là căn cứ tính lương trong bảng lương, phụ cấp và các chế độ khác theo công thức lương = lương cơ sở x hệ số lương. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để tính hoạt động phí, sinh hoạt phí và các khoản trích theo quy định. Cơ quan soạn thảo cho biết việc điều chỉnh là cần thiết nhằm tạo động lực làm việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, góp phần cải thiện đời sống người hưởng lương và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.