Ngày 7-4, Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ cho biết đơn vị vừa cấp cứu, điều trị thành công cho bé gái 3 tháng tuổi bị sốc phản vệ nặng do uống sữa công thức.
Trước đó, ngày 28-3, Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc tiếp nhận bệnh nhi là bé gái 3 tháng tuổi nhập viện trong tình trạng nổi ban đỏ toàn thân, môi tái, lơ mơ.
Thông tin từ gia đình cho biết: khoảng 1 giờ sau khi uống sữa công thức, trẻ bắt đầu nổi ban đỏ, sau đó lan nhanh toàn thân nên gia đình đã đưa trẻ vào viện.
Các bác sĩ đã nhanh chóng chẩn đoán trẻ bị sốc phản vệ nặng do sữa công thức và tiến hành xử trí cấp cứu theo phác đồ. Trẻ được tiêm bắp adrenalin, truyền dịch duy trì và theo dõi sát.
Trong quá trình cấp cứu, siêu âm tim tại giường phát hiện trẻ rơi vào tình trạng suy tim cấp với buồng tim trái giãn, hở van hai lá trung tâm, chức năng tim suy giảm nghiêm trọng. Các chỉ số xét nghiệm cho thấy tình trạng suy tim tiến triển nhanh.
Trước diễn biến nguy kịch, các bác sĩ đã khẩn trương đặt nội khí quản, cho trẻ thở máy và sử dụng phối hợp nhiều loại thuốc trợ tim, thuốc vận mạch để duy trì huyết áp. Các bác sĩ nhận định nếu trẻ được đưa đến viện muộn chỉ vài phút, nguy cơ tử vong là rất cao.
Sau hơn 2 ngày thở máy và điều trị tích cực, tình trạng bệnh nhi cải thiện rõ rệt, thoát sốc, chức năng tim dần hồi phục. Trẻ được cai máy thở thành công, ngừng hoàn toàn các thuốc trợ tim mạch và hồi phục tốt. Sau hơn 1 tuần điều trị, bệnh nhi đã đủ điều kiện xuất viện.
Theo các bác sĩ, sốc phản vệ là một dạng dị ứng cấp tính nguy hiểm, có thể đe dọa đến tính mạng nếu không được can thiệp kịp thời.
Nhiều trẻ bị dị ứng sữa với triệu chứng không điển hình, chỉ có nôn, trớ, đi ngoài phân lỏng, phân máu, dễ gây nhầm lẫn với những bệnh thường gặp như tiêu chảy, trào ngược dạ dày thực quản. Do vậy, cha mẹ cần cho trẻ đến bác sĩ khám và theo dõi thường xuyên các phản ứng của con sau khi uống sữa.
Khi nghi ngờ trẻ bị dị ứng protein sữa bò, cha mẹ cần dừng ngay sử dụng sữa công thức và chế phẩm của sữa thông thường. Khi trẻ đã được chẩn đoán bị dị ứng sữa, hãy ưu tiên cho trẻ uống sữa mẹ. Trường hợp không có sữa mẹ, phụ huynh nên cho con uống sữa đạm thủy phân trước.
Để phòng ngừa dị ứng sữa ở trẻ, các bác sĩ khuyến cáo nên cho bé bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu nhằm giảm nguy cơ dị ứng.
Thông thường, trẻ dị ứng protein có trong sữa bò cũng có thể dị ứng với đạm sữa dê, sữa cừu… Nếu phụ huynh cho trẻ thử các loại sữa này nên theo dõi cẩn thận. Sau 1 tuổi, khoảng 50% số trẻ dị ứng sữa bò có thể dung nạp lại, tỉ lệ này tăng dần theo tuổi.
Bác sĩ chuyên khoa 1 Đỗ Anh Tuấn, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện đa khoa Tâm Anh TP.HCM, cho biết thời điểm nhập viện, bà H. rơi vào trạng thái sốc mất máu, huyết áp chỉ còn 82/47 mmHg (bình thường khoảng 110/70 - 120/80 mmHg), da và niêm mạc nhợt nhạt.
Kết quả chụp CT bụng cho thấy một khối u mạch cơ mỡ (AML) ở thận phải vỡ, tạo thành khối máu tụ 40 x 90 mm trong khoang sau phúc mạc, chèn ép niệu quản và tĩnh mạch chủ dưới. Ngoài ra, thận trái của người bệnh cũng ghi nhận có khối u tương tự.
Bà H. từng được bác sĩ chẩn đoán có khối u ở thận nửa năm trước. Tuy nhiên, vì là u lành nên được chỉ định điều trị nội khoa bằng thuốc và theo dõi định kỳ, chưa can thiệp. Dù vẫn đang tuân thủ lộ trình tái khám, khối u bất ngờ gặp biến chứng vỡ, khiến bà rơi vào tình trạng nguy kịch.
Cùng với đó, kết quả chụp mạch máu số hóa xóa nền (DSA) phát hiện một nhánh động mạch nuôi khối u ở thận phải có túi giả phình kích thước 9 x 7 mm (tình trạng rò rỉ máu ra ngoài thành động mạch và tạo khối máu tụ) được bao bọc bởi các mô xung quanh. “Đây là nguyên nhân chính gây tình trạng mất máu, tiềm ẩn nguy cơ vỡ mạch cao, cần phải can thiệp ngay lập tức”, bác sĩ Tuấn nhận định, và cho biết thêm rằng người bệnh có tiền sử mắc nhiều bệnh nền như: tim thiếu máu cục bộ mạn tính, tăng huyết áp, tiểu đường loại 2 và loét dạ dày, gây nhiều thách thức khi can thiệp.
Do sốc mất máu, người bệnh yếu không thể phẫu thuật ngay, bác sĩ quyết định can thiệp nút động mạch chọn lọc để cầm máu nhanh nhất. Một ống thông được luồn qua động mạch chủ đùi của người bệnh đến nhánh động mạch bị tổn thương, từ đó bơm chất gây tắc mạch để cầm máu và chặn nguồn máu nuôi u.
Sau 2 tiếng can thiệp (gấp rưỡi thời gian thông thường vì tổn thương phức tạp, người bệnh lớn tuổi), tình trạng chảy máu được kiểm soát mà không cần phải cắt bỏ thận, giúp bảo tồn tối đa chức năng thận cho người bệnh.
Do mất lượng máu lớn trước đó, sau can thiệp, bà H. phải truyền tổng cộng 4 đơn vị hồng cầu lắng để bổ sung. Ngoài ra, người bệnh còn gặp các biến chứng viêm phổi, thở khò khè, ho đàm xanh và nhiễm trùng tiết niệu. Các bác sĩ phối hợp sử dụng kháng sinh phổ rộng liều cao cùng các thuốc hỗ trợ tim mạch, ổn định đường huyết và huyết áp để kiểm soát.
Sau 2 tuần điều trị tích cực, sức khỏe bà H. hồi phục nhanh chóng. Kết quả siêu âm và chụp CT cho thấy khối máu tụ đã ổn định, không tăng kích thước, dự kiến tan hết sau 3 tháng. Tình trạng viêm phổi được kiểm soát, các chỉ số sinh hiệu trở về mức an toàn. Bà H. xuất viện trong trạng thái tỉnh táo, ăn uống tốt và không còn đau bụng.
Sau 1 tháng, bà H. tái khám tại bệnh viện và được chỉ định phẫu thuật u thận bằng robot Da Vinci Xi. Từ đường mổ nhỏ chỉ khoảng 1 cm, bác sĩ điều khiển cánh tay robot linh hoạt, dưới sự dẫn đường của hệ thống camera 3D tiếp cận tổn thương trong khoang bụng, tỉ mỉ bóc tách khối u khỏi thận và lấy sạch mô hoại tử, vừa cắt vừa cầm máu, sau đó khâu phục hồi nhu mô thận nhanh chóng chỉ trong 2 giờ đồng hồ.
Theo bác sĩ Tuấn, u mạch cơ mỡ thận thường là u lành tính, nhưng nếu kích thước u lớn (hơn 4 cm), hoặc có giả phình mạch máu bên trong sẽ rất dễ vỡ gây xuất huyết nội, người bệnh tử vong nhanh vì mất máu.
Bác sĩ khuyến cáo, những người có khối u thận nên đi thăm khám định kỳ mỗi 6 - 12 tháng để theo dõi u tiến triển, kịp thời phát hiện các tình trạng bất thường. Nếu có triệu chứng đau hông lưng đột ngột, tiểu ra máu hoặc chóng mặt, cần đến bệnh viện tầm soát và điều trị, tránh những biến chứng nguy hiểm.
Ngủ trưa có thể mang lại nhiều lợi ích, nhưng nếu không đúng cách lại dễ ảnh hưởng đến giấc ngủ ban đêm, theo báo Hindustan Times.
Bác sĩ Chakkera Priyanka, chuyên khoa thần kinh tại Bệnh viện Kauvery (Ấn Độ), cho biết ngủ trưa là “con dao hai lưỡi”. Nếu ngủ hợp lý, cơ thể được phục hồi năng lượng; ngược lại, ngủ sai cách có thể làm rối loạn nhịp sinh học và gây mất ngủ về đêm.
Theo đó, một giấc ngủ trưa lý tưởng chỉ nên kéo dài khoảng 20 - 30 phút. Khoảng thời gian này giúp cải thiện sự tập trung, tăng tỉnh táo, nâng cao khả năng nhận thức và cải thiện tâm trạng mà không gây ảnh hưởng tiêu cực.
Ngược lại, ngủ trưa quá dài hoặc ngủ vào cuối buổi chiều có thể khiến cơ thể khó đi vào giấc ngủ ban đêm. Tình trạng này kéo dài sẽ làm xáo trộn nhịp sinh học, khiến ban đêm trằn trọc, buổi sáng mệt mỏi và ban ngày lại phụ thuộc nhiều hơn vào giấc ngủ trưa - tạo thành một vòng lặp khó kiểm soát.
Một số dấu hiệu cho thấy ngủ trưa đang gây hại gồm khó ngủ vào ban đêm, ban ngày uể oải, thiếu tỉnh táo và phải ngủ trưa mới có thể hoạt động bình thường.
Theo bác sĩ Priyanka, buồn ngủ quá mức ban ngày cũng có thể liên quan đến các vấn đề nghiêm trọng hơn như ngưng thở khi ngủ hoặc thiếu ngủ kéo dài, cần được thăm khám.
Bà Priyanka khuyến nghị nên ngủ trưa trước 15 giờ và giữ thời gian ngủ ngắn. Thói quen đi ngủ và thức dậy cần duy trì đều đặn mỗi ngày để ổn định nhịp sinh học.
Buổi tối cần hạn chế tiếp xúc với thiết bị điện tử và đảm bảo ngủ đủ 7 - 9 giờ.
Ngủ trưa đúng cách giúp cơ thể phục hồi năng lượng. Thói quen này vẫn có lợi khi kiểm soát tốt thời gian và thời điểm ngủ.
Ngày 12-4, Hội Ung thư Việt Nam phối hợp với AstraZeneca Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch”.
Tại hội thảo, TS.BS Diệp Bảo Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM - cho biết ung thư phổi tiếp tục là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam cũng như toàn cầu.
Theo số liệu Globocan 2022 và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hằng năm nước ta ghi nhận hơn 24.000 ca ung thư phổi mới (đứng thứ 3 trong các loại ung thư) và gần 22.600 ca tử vong vì bệnh này (đứng thứ 2 về số ca tử vong do ung thư).
Mặc dù có nhiều tiến bộ, việc tiếp cận các phương pháp điều trị ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, với tỉ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn còn cao, tạo ra gánh nặng rất lớn. Theo thống kê, có tới 84% bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, chỉ khoảng 16% được phát hiện sớm.
TS.BS Phạm Xuân Dũng - Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM - cũng cho hay ung thư phổi đang có xu hướng gia tăng cả về số ca mắc mới lẫn tử vong, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, tiệm cận trình độ khu vực và thế giới trong các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. Tuy nhiên thách thức lớn vẫn nằm ở việc nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt với những trường hợp bệnh tiến xa, ít còn lựa chọn điều trị khả quan.
Từ cuối thế kỷ 20 và trong hai thập niên đầu thế kỷ 21, điều trị ung thư phổi đã có bước chuyển mình với sự xuất hiện của hai “vũ khí” quan trọng: liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch.
Khi được kết hợp với các phương pháp truyền thống như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, những tiến bộ này đã làm thay đổi đáng kể cách tiếp cận và tiên lượng bệnh.
“Trước đây, với ung thư phổi giai đoạn muộn đã di căn, thời gian sống thêm thường dưới 12 tháng. Tuy nhiên hiện nay, không hiếm trường hợp bệnh nhân có thể sống thêm 2 - 4 năm. Điều này cho thấy chúng ta đang tiến gần hơn đến mục tiêu cá thể hóa trong điều trị ung thư”, BS Dũng nói.
Tương tự, BS Tuấn cho biết các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
“Nếu chỉ điều trị bằng hóa trị, thời gian sống người mắc ung thư phổi ở giai đoạn 4 thường chỉ khoảng 8 - 9 tháng. Trong khi đó, với liệu pháp miễn dịch có thể tăng thời gian sống lên khoảng 33 tháng”, BS Tuấn so sánh.
Theo các chuyên gia, các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đẩy mạnh các xét nghiệm di truyền và sinh học phân tử, phát triển các liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn ngày, cũng như đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân.