Tại Iran, cuộc sống thường nhật của người dân bị đảo lộn khi họ vừa phải đối mặt với bom đạn, vừa lo ngại hệ thống hạ tầng thiết yếu có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, theo tờ Wall Street Journal ngày 7-4.
Trong nhiều khu dân cư, các gia đình dán kín cửa sổ, tránh ngủ gần kính và tụ lại trong những căn phòng an toàn hơn.
Động thái này nhằm đối phó với các vụ nổ xảy ra gần như mỗi đêm, trong bối cảnh Tehran hứng chịu các đợt oanh kích dữ dội nhất kể từ sau cuộc chiến Iran – Iraq.
Nỗi lo không chỉ dừng lại ở an toàn tính mạng, mà còn lan sang nguy cơ mất điện, nước và các dịch vụ thiết yếu, khiến nhiều người đổ xô mua máy phát điện và tích trữ nhu yếu phẩm.
“Ông Trump từng nói sự giúp đỡ đang đến với người dân Iran, nhưng việc chiến tranh kéo dài và các cơ sở hạ tầng, trường đại học, công ty dược bị phá hủy khiến chúng tôi rất lo lắng”, một phụ nữ 43 tuổi đang điều trị ung thư vú tại Tehran chia sẻ. Với bà, nguy cơ gián đoạn điều trị đáng sợ không kém tiếng bom mỗi đêm.
Trước đó, trong cuộc phỏng vấn với báo Wall Street Journal hôm 5-4, ông Trump cảnh báo Iran có thể mất tới 20 năm để phục hồi sau chiến tranh, đồng thời đe dọa phá hủy toàn bộ nhà máy điện và cầu đường nếu Tehran không mở lại eo biển Hormuz.
Tại cuộc họp báo ngày 6-4 ở Nhà Trắng, ông cũng cho rằng người dân Iran “sẵn sàng chịu đựng để có được tự do”.
Tuy nhiên thực tế lại cho thấy tâm lý hoàn toàn khác. “Chúng tôi đã bị trừng phạt quá đủ rồi”, nữ bệnh nhân ung thư nói thẳng.
Một người đàn ông 38 tuổi ở Tehran cho biết anh đã chuẩn bị sẵn bộ đồ sinh tồn gồm thực phẩm đóng hộp, nước, pin dự phòng và đèn khẩn cấp.
“Nếu cơ sở hạ tầng bị phá hủy, chúng tôi có thể cầm cự được bao lâu?”, anh băn khoăn, đồng thời cho biết đang cân nhắc rời khỏi nơi mình sinh sống.
Chiến sự diễn ra trong bối cảnh Iran vốn đã đối mặt với khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Đồng nội tệ mất giá, lạm phát tăng cao và các lệnh trừng phạt kéo dài đã bào mòn đời sống lẫn tinh thần người dân. Giờ đây, họ lại phải đối mặt với bom đạn và một tương lai mờ mịt khi không biết cuộc chiến sẽ đi về đâu.
Chính quyền Mỹ và Israel vẫn khẳng định các cuộc không kích chủ yếu nhắm vào mục tiêu quân sự và cơ quan nhà nước. Song rủi ro với dân thường vẫn rất lớn, do không ai biết chính xác vị trí các mục tiêu này.
Một phụ nữ sống gần khu phức hợp của lực lượng Vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) kể lại khoảnh khắc bị đánh thức bởi tiếng nổ lúc rạng sáng. Cô cho biết đã tận mắt chứng kiến một tòa nhà dân cư sụp đổ sau không kích.
“Hình ảnh trên Internet không thể truyền tải hết những gì chúng tôi phải chứng kiến. Những người ở bên ngoài không thể hiểu được thực tế chúng tôi đang sống – âm thanh, mùi, không khí, tất cả đều rất khác”, cô nói.
Theo Hãng tin Anadolu, dữ liệu theo dõi từ MarineTraffic ngày 17-4 cho thấy tàu Shalamar đã rời vịnh Ba Tư, tiến vào vịnh Oman sau khi tiếp nhận khoảng 450.000 thùng dầu thô từ UAE. Hiện con tàu đang phát tín hiệu hướng về cảng Karachi của Pakistan.
Đây được xem là chuyến tàu chở dầu thô đầu tiên rời khu vực vùng Vịnh qua eo biển Hormuz, kể từ khi lệnh phong tỏa của Mỹ có hiệu lực ngày 13-4.
Lưu lượng tàu thuyền qua eo biển Hormuz hiện vẫn ở mức rất thấp, với số lượt tàu qua lại mỗi ngày chỉ ở mức một chữ số, ngoại trừ một số đợt tăng nhẹ vào cuối tuần.
Dù ba siêu tàu chở dầu không phải của Iran đã rời đi vào tuần trước, nhưng vẫn rất ít chuyến hàng đi qua eo biển Hormuz trong suốt bảy tuần qua, ngay cả trước khi lệnh phong tỏa được áp đặt.
Các hạn chế hải quân mới của Mỹ yêu cầu các chủ tàu phải xin phép từ cả phía Iran và Mỹ để vận chuyển hàng hóa, làm gia tăng sự bất ổn đối với dòng chảy dầu mỏ toàn cầu.
Tàu Shalamar trước đó từng tìm cách tiến vào vùng Vịnh, nhưng buộc phải quay đầu sau khi các cuộc đàm phán Mỹ - Iran đổ vỡ. Con tàu sau đó đã hoàn tất hành trình, ghé đảo Das để nhận dầu trước khi rời đi theo hướng đông ngày 16-4.
Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) cho biết trong ba ngày gần đây đã có 14 tàu phải quay đầu, cho thấy nhiều chủ tàu vẫn dè dặt trước rủi ro khi đi qua eo biển này.
Theo các nguồn tin, phạm vi phong tỏa kéo dài từ khu vực ven biển Oman, gần Ras al Hadd, đến biên giới Iran - Pakistan.
Theo Hãng tin Reuters, ngày 18-4, Úc và Nhật Bản đã ký các hợp đồng, chính thức khởi động thỏa thuận mang tính bước ngoặt trị giá 10 tỉ AUD (khoảng 7 tỉ USD) nhằm cung cấp tàu chiến cho Úc.
Đây được xem là thương vụ bán vũ khí quan trọng nhất của Tokyo kể từ khi dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí ra nước ngoài năm 2014, và đồng thời là thương vụ xuất khẩu quốc phòng lớn nhất của nước này từ sau Thế chiến II.
Theo Bộ Quốc phòng Úc, hai Bộ trưởng Quốc phòng Richard Marles và Koizumi Shinjiro đã ký kết tại Melbourne, xác nhận cam kết chung trong việc triển khai chương trình đóng tàu hộ vệ đa năng cho Hải quân Hoàng gia Úc.
Theo kế hoạch, ba tàu đầu tiên sẽ do Tập đoàn Mitsubishi Heavy Industries đóng tại Nhật Bản và dự kiến bàn giao từ năm 2029, sau đó chuyển sang giai đoạn đóng tám tàu còn lại tại xưởng Henderson ở Tây Úc.
Thỏa thuận này nằm trong kế hoạch tăng cường năng lực quân sự quy mô lớn của Canberra, với mục tiêu mở rộng đội tàu chiến chủ lực từ 11 lên 26 chiếc trong thập kỷ tới.
Các tàu hộ vệ lớp Mogami cải tiến được thiết kế theo hướng tàng hình, có khả năng săn ngầm, tấn công tàu mặt nước và phòng không, phục vụ bảo vệ các tuyến hàng hải chiến lược và khu vực phía bắc của Úc tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Giới chức Úc cũng đánh giá đây là thương vụ mua sắm nhanh nhất của hải quân nước này trong thời bình, đồng thời nhấn mạnh các tàu mới thuộc nhóm hiện đại nhất thế giới trong phân khúc tàu hộ vệ đa năng.
Hợp đồng lần này cũng cho thấy sự hợp tác chặt chẽ giữa ngành công nghiệp quốc phòng hai nước.
Về phía Nhật Bản, thỏa thuận được xem là bước đi tiếp theo trong quá trình điều chỉnh chính sách an ninh, khi Tokyo ngày càng mở rộng hợp tác quốc phòng ngoài khuôn khổ liên minh với Mỹ. Việc xuất khẩu tàu chiến cho Úc cũng phản ánh nỗ lực tăng cường liên kết với các đối tác cùng chí hướng trong khu vực.
Hợp đồng này được Mitsubishi Heavy Industries giành được sau khi vượt qua đối thủ Đức Thyssenkrupp Marine Systems.
Úc và Nhật Bản đều là thành viên của cơ chế hợp tác an ninh "Bộ tứ" (Quad) cùng với Mỹ và Ấn Độ, trong bối cảnh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương chứng kiến cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng, đặc biệt khi sự hiện diện quân sự của Trung Quốc mở rộng.
Trang tin hải quân USNI News ngày 22.4 đưa tin một vụ cháy đã xảy ra trên tàu khu trục tàng hình USS Zumwalt (DDG-1000) của Hải quân Mỹ khi chiến hạm này neo đậu tại xưởng đóng tàu HII Ingalls ở Pascagoula, bang Mississippi ngày 19.4.
Một người phát ngôn Lực lượng Hải quân mặt nước xác nhận vụ cháy xảy ra vào khoảng 21 giờ 45 tối 19.4.
Một thủy thủ được đưa đến bệnh viện địa phương để điều trị vết thương và đang trong tình trạng ổn định. Hai người khác được điều trị tại hiện trường.
Ngọn lửa đã được thủy thủ đoàn dập tắt. Hải quân Mỹ đang điều tra nguyên nhân vụ cháy và xác định mức độ thiệt hại trên tàu, theo thông báo.
USS Zumwalt là chiếc đầu tiên thuộc lớp khu trục hạm tàng hình cùng tên của Hải quân Mỹ. Chiếc thứ hai là USS Michael Monsoor và chiếc thứ ba đang được thử nghiệm, mang tên USS Lyndon B. Johnson.
Theo một báo cáo của Văn phòng Trách nhiệm giải trình chính phủ Mỹ (GAO), cơ quan độc lập chịu trách nhiệm báo cáo cho quốc hội, chương trình Zumwalt đã tiêu tốn đến 24,5 tỉ USD cho 3 tàu.
Tàu USS Zumwalt được đưa đến cảng HII Ingalls từ tháng 8.2023 để nâng cấp, sau khi Hải quân Mỹ quyết định thay 2 hệ thống pháo hạm tầm xa 155 mm trên tàu bằng bệ phóng tên lửa để phóng tên lửa bội siêu thanh tầm xa. Đến tháng 12.2024, tàu rời khỏi ụ và tiến hành các bước chuẩn bị cho việc sẵn sàng hoạt động.
Hồi tháng 1, tàu chiến này ra biển thử nghiệm lần đầu tiên trong gần 3 năm sau khi bệ phóng tên lửa được lắp đặt.