Rừng Cấm, còn gọi rú Cấm rộng hơn 4 ha, nằm trên đồi cao khoảng 70 m, ở làng Thọ Linh. Rừng được bảo vệ bằng hương ước truyền đời và trở thành lá phổi của vùng đất bán sơn địa, giữa miền gió Lào khắc nghiệt.
Từ trên cao nhìn xuống, rừng Cấm cách làng Thọ Linh bởi con sông rộng hơn 100 m, là mảng xanh giáp với rừng trồng gỗ keo. Trong rừng có hàng trăm cây gỗ quý như lim, sến, dỗi, gõ, giẻ… Nhiều cây đường kính gốc hơn một mét, tầng tán xếp chồng nhau. Do gần khu dân cư, động vật không nhiều, chủ yếu là chim, sóc và ong.
Theo gia phả của 5 dòng họ chính và bia đá trước đình làng, Thọ Linh được hình thành từ cuối thời Trần, đầu thời Lê, khoảng thế kỷ XV. Thời điểm đó, vùng đất này thường xuyên bị quân Chiêm Thành quấy nhiễu. Triều đình cử một vị tướng đến vùng đất Ô Châu, nay thuộc Quảng Trị dẹp loạn, đồng thời chiêu dân khai khẩn, lập làng. Cánh rừng Cấm hình thành từ những ngày đầu ấy.
Trong 8 năm chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ, khu rừng từng che chở cho bộ đội, điểm ẩn náu của lực lượng Hải quân khi tàu từ sông Gianh ngược dòng tiến vào. Tàu trú ẩn hai bên sông được cây rừng che chắn. Ven rừng là trận địa pháo, tạo thành thế phòng thủ vững chắc.
Ông Phan Xuân Hải, trưởng làng Thọ Linh, cho biết để bảo vệ rừng Cấm, người xưa đã có hương ước miệng quy định mọi cư dân, từ già đến trẻ, đều có trách nhiệm giữ rừng. Người lớn phải dạy con cháu không chặt phá cây, không xâm hại hệ sinh thái. Những ai vi phạm sẽ bị xử phạt nghiêm khắc.
“Rừng là tài sản của làng, là di sản của tổ tiên để lại. Mất rừng là có tội với tiền nhân”, ông Hải nói. Quan niệm này đã ăn sâu vào nhận thức của người dân, trở thành quy ước bất thành văn nhưng có sức ràng buộc mạnh mẽ.
Sau ngày đất nước thống nhất, rừng xung quanh được người dân khai hoang, trồng trọt để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, rừng Cấm vẫn được giữ nguyên. Thời kỳ hợp tác xã, làng chỉ cho phép khai thác một số cây phục vụ công trình chung, còn lại tuyệt đối không đụng đến.
“Người dân ý thức rõ đây là rừng cấm. Dù cuộc sống còn khó khăn, không ai nghĩ đến chuyện phá rừng để lấy gỗ”, ông Trần Đình Trường, trưởng thôn Linh Cận Sơn, làng Thọ Linh, cho hay.
Hiện nay, để tăng cường bảo vệ và cải thiện cảnh quan, dân làng còn trồng thêm các hàng xà cừ ven rừng. Những hàng cây này vừa tạo ranh giới tự nhiên, vừa góp phần giữ đất, chống xói mòn. Sắp tới làng mua cây lim trồng quanh rừng.
“Rừng Cấm là niềm tự hào của làng Thọ Linh. Nếu không có quy ước gìn giữ thì sẽ bị phá lấy đất sản xuất”, trưởng làng Phan Xuân Hải nói, cho hay nhiều cây gỗ gõ thuộc nhóm 1, giá hàng chục triệu đồng một mét khối. Nhưng với người dân “đừng nói tiền triệu mà trăm tỷ đồng cũng không ai dám đụng đến cây”.
Thời buổi gì mà chỉ cần có chút mâu thuẫn, va chạm nho nhỏ là sẵn sàng sử dụng bạo lực ngôn từ, chửi cha mắng mẹ, xưng bố xưng ông, rút hung khí đánh người không gớm tay, thậm chí là truy sát kiểu đuổi cùng giết tận.
Những vụ việc bạo lực đời thường liên tục xảy ra gần đây đã đủ để chúng ta lo lắng về một thứ "hội chứng rối loạn" của xã hội chưa?. Hay chỉ nên đặt những chuyện như thế ở tầm mức "quan ngại"?
Đừng tránh né nữa! Bạo lực đời thường phổ biến như thế chắc chắn là bằng chứng không thể bỏ qua của sự bất lực về văn hóa ứng xử và ngôn ngữ. Khi một cá nhân dùng bạo lực để giải quyết vấn đề, đó thường là dấu hiệu cho thấy họ thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và khả năng thương thuyết.
Khi xã hội coi bạo lực là phương thức hiệu quả để bắt người khác tuân phục, đó chính là sự thụt lùi về văn minh. Nhất là soi vào nếp truyền thống ứng xử "dĩ hòa vi quý" của người Việt thì sự phổ biến bạo lực đời thường phản ánh một sự tha hóa rõ ràng của chuẩn mực hành xử truyền thống.
Nhưng tại sao chuẩn mực hành xử truyền thống bền vững cả ngàn đời mà giờ lại dễ dàng bị giẫm qua như thế?. Phải chăng có điều gì đó hằng ngày, từng chút một, tưởng vô hại nhưng rất nguy hiểm, đã làm xói mòn những chuẩn mực này?
Sự xói mòn chuẩn mực hành xử có thể xảy ra bởi những kiểu ngôn từ thô bạo mà người Việt đang ngày càng dễ dãi sử dụng và chấp nhận. Chính sự tha hóa của ngôn từ là một trong những tiền đề cho sự băng hoại của hành vi. Chúng ta có bao giờ thật sự cân nhắc điều này chưa, dù ngay trong những câu nói đùa giỡn hay trong những ngữ cảnh cho phép sự suồng sã?
Khi những lời chửi thề, những từ ngữ mang tính nhục mạ hoặc hạ thấp người khác xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội và trong giao tiếp đời thường, chúng ta dần hình thành kiểu trạng thái trơ lì cảm xúc.
Ban đầu thì còn cảm thấy sốc và khó chịu. Rồi dần dần chấp nhận nó như một phần của cá tính hoặc ngôn ngữ mạng. Cuối cùng thì ta sử dụng nó như một phản xạ tự nhiên. Khi ngôn từ trở nên thô bạo, ranh giới giữa tranh luận và mạt sát bị xóa nhòa.
Một khi đã chấp nhận nhục mạ nhau bằng lời nói, việc chuyển sang dùng nắm đấm chỉ còn là một bước tiến rất ngắn về mặt tâm lý. Đó là kiểu hiệu ứng "con ếch bị luộc chín" (boiling frog syndrome) trong ngôn ngữ. Chúng ta đã không "canh giữ" nhau trong ngôn từ hằng ngày trên mạng, trong đời thường, để rồi thứ chúng ta nhận lại là sự tha hóa tồi tệ của hành xử bạo lực.
Rồi khi ngôi nhà có một ô cửa kính bị vỡ mà không được sửa, người ta sẽ sớm đập phá những ô cửa còn lại. Ngôn ngữ cũng vậy. Sự dễ dãi chấp nhận ngôn từ thô bạo chính là "ô cửa sổ vỡ" đầu tiên. Khi cái sai nhỏ được chấp nhận, cái sai lớn hơn (bạo lực thể xác) sẽ có mảnh đất màu mỡ để tồn tại.
Nguy hiểm nhất là khi bạo lực ngôn từ được khoác chiếc áo "thẳng thắn", "thật thà" hay "sống thật". Vì nhầm lẫn giữa sự thô lỗ và chân thành, nhiều người không còn động lực để tu dưỡng sự điềm tĩnh.
Điều chúng ta cần không chỉ là pháp luật nghiêm minh, mà còn cần một cuộc phục hưng về năng lực ngôn ngữ và sự thấu cảm, bắt đầu từ việc từ chối những ngôn từ độc hại hằng ngày.
Thông tin học 2 buổi/ngày được ông Nguyễn Lộc Hà, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó chủ tịch Thường trực UBND TP.HCM, cho biết tại hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ UBND TP.HCM diễn ra sáng 10.4.
Theo đó, TP.HCM sẽ tập trung đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm đủ trường, lớp; bổ sung đội ngũ giáo viên, nhằm phấn đấu đến năm học 2027 - 2028, toàn thành phố tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực.
Ông Nguyễn Lộc Hà đánh giá mục tiêu này rất khó, trong bối cảnh trung tâm TP.HCM còn rất ít khu đất trống để xây dựng trường học mới. "Đây là nhiệm vụ nặng nề, đòi hỏi sự đồng bộ của ngành giáo dục, các sở ngành và cả hệ thống chính trị quan tâm mới thực hiện được", Phó chủ tịch Thường trực UBND TP.HCM nói thêm.
Song song với phát triển kinh tế, TP.HCM cũng tập trung công tác bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Địa phương phấn đấu từ năm 2026, 100% người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất 1 lần/năm và lập sổ sức khỏe điện tử.
Lãnh đạo TP.HCM cũng yêu cầu khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, trình HĐND TP.HCM ban hành nghị quyết về hỗ trợ cho người sử dụng xe buýt trên địa bàn, dự kiến triển khai từ tháng 5.2026.
Sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, năm học 2025 - 2026, toàn TP.HCM có hơn 2,5 triệu học sinh, trong đó mầm non có hơn 478.000 học sinh, tiểu học hơn 939.000 học sinh, trung học cơ sở hơn 759.000 học sinh và trung học phổ thông hơn 352.000 học sinh.
Liên quan đến đầu tư xây dựng mới trường học, UBND TP.HCM vừa có văn bản yêu cầu các địa phương đánh giá sát nhu cầu thực tế, chủ động đề xuất dự án đầu tư phù hợp với quy mô dân số, đồng thời khuyến khích sử dụng quỹ đất công hiện có thay vì chờ tạo lập quỹ đất mới.
Sở Quy hoạch - Kiến trúc được giao khẩn trương rà soát, điều chỉnh quy hoạch liên quan đến đất giáo dục, hướng dẫn các địa phương hoàn thiện thủ tục để kịp thời phê duyệt.
Song song đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp các đơn vị liên quan rà soát pháp lý các khu đất đã giao cho dự án giáo dục nhưng chậm triển khai, đề xuất chế tài cụ thể nhằm tránh lãng phí tài nguyên đất.
Lãnh đạo TP.HCM cũng giao Sở Giáo dục và Đào tạo làm việc với các chủ đầu tư thuộc danh mục 991 phòng học hoàn thành trong năm 2026 để thúc đẩy tiến độ đúng hạn hoặc trước hạn.
Ngày 15.4, thông tin từ Công an phường Gò Vấp (TP.HCM) cho biết đơn vị đã hoàn tất hồ sơ bàn giao Đỗ Trần Phú Thịnh (41 tuổi, ở phường An Hội Tây) cho Cơ quan CSĐT Công an TP.HCM để tiếp tục điều tra về hành vi cướp giật tài sản (cướp vé số).
Theo thông tin ban đầu, khoảng 14 giờ 30 ngày 6.4, Thịnh chạy xe máy trên đường Quang Trung (phường Gò Vấp). Tại đây, Thịnh tiếp cận một người đàn ông khuyết tật đang ngồi xe lăn bán vé số bên đường và hỏi mua 18 vé.
Sau khi chọn các vé ưng ý, lợi dụng thời điểm xung quanh ít người qua lại, nạn nhân không có khả năng di chuyển nhanh, Thịnh cầm toàn bộ số vé này rồi bất ngờ tăng ga bỏ chạy. Người bán vé số chỉ kịp tri hô trong sự bất lực.
Phát hiện vụ việc, một số người dân xung quanh đã hỗ trợ trấn an nạn nhân, đồng thời hướng dẫn đến Công an phường Gò Vấp trình báo. Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, Công an phường phối hợp với các tổ trinh sát thuộc Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP.HCM triển khai truy xét nóng.
Chưa đầy 24 giờ sau đó, công an đã xác định nơi lẩn trốn của Thịnh tại Đắk Lắk và nhanh chóng đưa về TP.HCM để làm rõ.
Thịnh khai với cơ quan điều tra, trước đây Thịnh có công việc ổn định, sống cùng vợ con tại một căn hộ chung cư ở phường An Hội Tây. Tuy nhiên, do ham muốn làm giàu nhanh, anh ta đã dồn tiền đầu tư chứng khoán nhưng bị thua lỗ nặng.
Không dừng lại, Thịnh vay mượn tiền để “gỡ gạc”, nhưng càng đầu tư càng thua, dẫn đến nợ nần chồng chất, mất khả năng chi trả.
Đầu tháng 4.2026, Thịnh trả phòng trọ, dự định rời TP.HCM về Đắk Lắk. Trên đường ra Bến xe Miền Đông để mua vé, khi đến đường Quang Trung, thấy người đàn ông khuyết tật bán vé số, Thịnh nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Sau khi thực hiện hành vi cướp giật, Thịnh mang số vé đi dò nhưng không trúng thưởng nên đã vứt bỏ, rồi lên xe khách rời TP.HCM ngay trong ngày.
Công an TP.HCM đang củng cố hồ sơ để xử lý vụ cướp vé số của người khuyết tật nói trên.