Phát họa bức tranh tổng thể của ngành cà phê Việt Nam, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA) nói: Năm 2025, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, giá trị kim ngạch 9 tỉ USD nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn là chủ yếu. phân khúc cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt hơn 1,4 tỉ USD nhưng phần lớn nằm trong tay của các doanh nghiệp FDI.
Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu qua đó nâng cao giá trị cà phê nguyên liệu Việt Nam.
“Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam”, ông Tài nhận định.
Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam xác nhận, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam nhiều nhất nhiều người dân EU, kể cả một số cán bộ công chức cũng không biết gì về cà phê Việt Nam. Nguyên nhân vì Việt Nam chủ yếu xuất cà phê nhân vào thị trường nàynên sản phẩm không có thương hiệu dẫn đến người tiêu dùng thông thường không ai biết gì về cà phê Việt Nam.
Theo ông Công, EU hiện là một trong 2 trung tâm tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới quy mô thị trường trên 26 tỉ USD và sản lượng hàng năm khoảng 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân gần 20 kg/ người/ năm nhưng Việt Nam mới xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi – cung cấp nguyên liệu,nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị. “Những con số trên cho thấy tiềm năng, cơ hội và dư địa cho hạt cà phê Việt Nam còn rất lớn nếu biết cách đầu tư khai thác hiệu quả ở phân khúc chế biến sâu nhằm tạo ra giá trị gia tăng”, ông Công lưu ý.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli cho biết, tính chung cả nước, Việt Nam ước có khoảng 10.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê nhưng ít doanh nghiệp mạnh và đặc biệt không có doanh nghiệp mạnh trên thị trường quốc tế. Trong khi như cả Trung Quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp, nhưng có rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Tại Mỹ, số lượng doanh nghiệp cũng không nhiều nhưng đa số đều có năng lực cạnh tranh cao.
Ông Thái Anh Tuấn Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2.9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam hiện nay nói rằng: Để phát triển chế biến sâu, doanh nghiệp cần hội đủ ba yếu tố: vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, đồng thời có nguồn cung ổn định từ các HTX. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế, với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Người mua có thể truy xuất đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhưng vấn đề đầu tư vào công nghệ chế biến, xây dựng và phát triển thị trường gắn với thương hiệu sản phẩm riêng thì cần phải có vốn lớn và lộ trình phù hợp. Hiện doanh nghiệp đang lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu.
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê nhận định: Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng – lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính để giữ vững vị trí trong chuỗi.
TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cũng khẳng định: Nếu so với gạo hay thủy sản chính sách cho cà phê vẫn chưa tương xứng. “Một ngành đạt giá trị xuất khẩu đến 9 tỉ USD nhưng lại chưa có chính sách riêng để tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa là vấn đề cần lưu ý”, ông Hà trăn trở.
Nhà báo Tô Đình Tuân, Tổng biên tập Báo Người Lao Động, nhấn mạnh: Nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, theo hướng chuẩn mực và nghiêm túc, ngành cà phê Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức 8 – 9 tỉ USD mà trong vài năm tới hoàn toàn có thể hướng đến những cột mốc hàng chục tỉ USD. Để đạt được những kỷ lục mới, cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông. Bên cạnh đó, cần tạo cú hích về tài chính cho doanh nghiệp, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất. Muốn vậy, cần có chính sách miễn, giảm thuế; giảm thuế nhập khẩu máy móc. Ngoài ra cần phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa. Nếu không có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn thì không thể phát triển chế biến sâu.
Trao đổi với PV Thanh Niên, một lãnh đạo Công ty TNHH Nhiệt điện Vũng Áng II (VAPCO) xác nhận tổ máy số 2 (công suất hơn 600 MW) đã hoàn tất các quy trình thử nghiệm kỹ thuật khắt khe, đảm bảo vận hành ổn định trước khi chính thức hòa lưới điện thương mại.
Như vậy, sau gần 5 năm thi công (khởi công từ 2021), cả 2 tổ máy với tổng công suất hơn 1.300 MW đã hoàn thiện, sẵn sàng cung ứng nguồn điện cho hệ thống điện quốc gia.
Đáng chú ý, đây là dự án sử dụng công nghệ lò hơi "trên siêu tới hạn" (USC), công nghệ hiện đại bậc nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam hiện nay. Ưu điểm vượt trội của công nghệ này là tối ưu hóa hiệu suất, giảm thiểu tiêu hao nhiên liệu, từ đó cắt giảm đáng kể phát thải ra môi trường.
Ông Hoàng Trọng Bính, Phó tổng giám đốc VAPCO, cho hay sau thành công của tổ máy số 1 (vận hành từ tháng 7.2025), tổ máy số 2 tiếp tục đạt các thông số kỹ thuật và công suất tin cậy theo đúng hợp đồng mua bán điện.
Dự án Nhiệt điện Vũng Áng II được thực hiện theo hình thức BOT, là công trình năng lượng cấp quốc gia trọng điểm tại Khu kinh tế Vũng Áng (P.Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh). Khi đi vào vận hành toàn bộ, dự án không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng mà còn tạo việc làm cho hàng trăm lao động trình độ cao, thúc đẩy các dịch vụ vệ tinh và đóng góp lớn cho ngân sách tỉnh Hà Tĩnh.
Trả lời trực tiếp vào câu hỏi Nhà ở xã hội có được vay vốn đầy đủ hay không, ông Lê Hữu Nghĩa - Giám đốc Công ty Lê Thành nói thẳng: "Nhà ở xã hội là đối tượng vay khó nhất trong các phân khúc bất động sản". Ông Nghĩa giải thích, gói tín dụng 145.000 tỉ đồng của Chính phủ là chương trình ưu đãi phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân được giao cho 9 ngân hàng thương mại triển khai. Gói này có lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường, không tính vào room tín dụng, áp dụng cho cả chủ đầu tư và người mua nhà với thời hạn vay lên tới 20 năm.
"Cụ thể, lãi vay ưu đãi hiện nay dành cho nhà ở xã hội là 6,1% nhưng khi chúng tôi gõ cửa các ngân hàng thì họ đều từ chối cho vay. Lý do các ngân hàng đưa ra là lãi suất huy động hiện nay quá cao, nếu cho vay với mức 6,1% sẽ bị lỗ. Tuy nhiên, khi chúng tôi đề nghị được vay với lãi suất của nhà ở thương mại thì họ cũng không đồng ý, vì sau này, có thể bị truy cứu trách nhiệm khi cho vay không đúng theo đối tượng. Tình thế này khiến cho các đơn vị đầu tư nhà ở xã hội gặp khó khăn, không ai vay được vốn trong thời điểm hiện nay", ông Lê Hữu Nghĩa giải thích.
"Đối với Công ty Lê Thành, hiện nay chúng tôi có dự án 2.000 tỉ đồng đã làm móng xong, nhưng tình hình triển khai đang "đứng hình" vì không vay được. Chúng tôi kiến nghị cơ quan quản lý cần nhanh chóng có giải pháp tháo gỡ cho nhà đầu tư nhà ở xã hội, cụ thể là có thể linh hoạt điều chỉnh cho vay với lãi suất thị trường hiện nay. Chúng tôi chấp nhận vay với lãi suất của nhà ở thương mại. Chắc chắn, việc thay đổi lãi suất tăng lên sẽ đẩy giá thành sản phẩm nhà ở tăng lên, nhưng thà như vậy còn hơn là 'bó tay' vì không vay được tiền", ông Lê Hữu Nghĩa trăn trở.
Theo ông Nghĩa, hiện nay, lãi suất đang tăng, giá vật liệu xây dựng cũng tăng 10 - 30%, đầu vào "tăng kinh hoàng" trong khi giá bán nhà ở xã hội đã được chốt từ đầu. Đó là vấn đề nan giải nhất đối với các nhà đầu tư nhà ở xã hội. Với tình hình "đói vốn" hiện nay, nếu không kịp thời có biện pháp tháo gỡ thì tiến độ xây dựng chậm lại, mục tiêu đạt 28.000 căn nhà ở xã hội của TP.HCM trong năm nay và 30.000 căn trong năm sau sẽ khó hoàn thành được.
"Cách đây 15 năm, tín dụng dành cho bất động sản cũng từng bị siết chặt và kéo theo nhiều ngành nghề lĩnh vực khác đi xuống. Nhưng mỗi khi kinh tế khó khăn thì ngân hàng lại báo lãi khủng. Tôi hy vọng rằng tình hình khó khăn như 15 năm trước đừng quay trở lại, đồng thời cũng mong rằng các ngân hàng hãy chia sẻ với doanh nghiệp và với người dân", ông Lê Hữu Nghĩa kiến nghị.
Hôm nay, bản đồ nhiệt cả nước tiếp tục đỏ rực vì tình trạng nắng nóng đặc biệt gay gắt kéo dài sang ngày thứ 5 liên tiếp. Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia (NCHMF) cho biết: Có đến 10 trạm quan trắc ghi nhận mức nhiệt từ 40 độ C trở lên. Mức nhiệt cao nhất ghi nhận được là 41,2 độ C tại Con Cuông và Đô Lương (Nghệ An) 41,1 độ C; Hà Tĩnh nóng nhất 40,2 độ C còn Quảng Trị 40 độ C…; độ ẩm thấp nhất phổ biến 35 - 45%.
Khu vực tây Bắc bộ, Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 - 38 độ C, có nơi trên 38 độ C như: Phù Yên (Sơn La) 39,8 độ C, Mai Châu (Phú Thọ) 40,1 độ C, Trà My (Đà Nẵng) 38,7 độ C, Ba Tơ (Quảng Ngãi) 38,5 độ, Sơn Hòa (Đắk Lắk) 39,4 độ…; độ ẩm thấp nhất phổ biến 40 - 45%.
Khu vực Tây nguyên và Nam bộ có nắng nóng với nhiệt độ cao nhất ngày phổ biến từ 35 - 36 độ C, có nơi trên 36 độ C như: Ayunpa (Gia Lai) 37,8 độ C, Phước Long (Đồng Nai) 36,9 độ C…
Nhiệt độ thực đo hôm nay (10.4) và bản đồ dự báo nhiệt độ cao nhất trong 24 giờ tới
NGUỒN: NCHMF
Dự báo trong ngày 11 - 12.4, từ Thanh Hóa đến Huế tiếp tục có nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 38 - 40 độ C, có nơi trên 40 độ C, độ ẩm phổ biến từ 35 - 40%.
Khu vực tây Bắc bộ, Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36 - 38 độ C, có nơi trên 38 độ C, độ ẩm phổ biến từ 40 - 45%.
Khu vực Tây nguyên và Nam bộ có nắng nóng, có nơi nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 - 37 độ C, có nơi trên 37 độ C, độ ẩm phổ biến từ 45 - 50%.