Mục Lục
ToggleMột trong những nội dung quan trọng trong kế hoạch là xác định mục tiêu từng bước triển khai thí điểm giảng dạy một số môn học bằng tiếng Anh, tại các cơ sở giáo dục đủ điều kiện ở TP.HCM.
Đồng thời TP.HCM định hướng triển khai đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, phấn đấu đến năm 2030 có khoảng 10% trường phổ thông thực hiện.
TP.HCM đặt mục tiêu hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục, phấn đấu đạt tối thiểu 300 phòng học trên 10.000 dân trong độ tuổi 3 – 18 vào năm 2030. Có ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia, tăng cường trang thiết bị dạy học theo hướng hiện đại, đồng bộ.
Ở bậc tiểu học, TP.HCM phấn đấu nâng tỉ lệ học sinh học 2 buổi mỗi ngày đạt 90% vào năm 2030, định hướng đạt 100% vào năm 2045. Đặt mục tiêu hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 – 5 tuổi và giáo dục bắt buộc đến hết trung học cơ sở, định hướng phổ cập trung học phổ thông vào năm 2035.
Đồng thời định hướng đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục, phấn đấu đến năm 2030, 100% cơ sở giáo dục phổ thông triển khai các nền tảng trường học số phục vụ quản trị và dạy học, 100% trẻ mẫu giáo được làm quen với tiếng Anh.
TP.HCM cũng đặt mục tiêu với 100% trường đại học trực thuộc và 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia. Tỉ lệ lao động kỹ thuật có trình độ cao đẳng dự kiến đạt 24% vào năm 2030 và 30% vào năm 2035.
Tăng cường liên kết đào tạo và nghiên cứu, phấn đấu 20% chương trình liên kết với các trường thuộc top 500 thế giới, 20% chương trình đại học đạt kiểm định quốc tế. Đặt mục tiêu trở thành trung tâm giáo dục hàng đầu Đông Nam Á vào năm 2045.
UBND TP.HCM yêu cầu toàn ngành giáo dục đổi mới tư duy quản lý theo hướng phục vụ, tăng cường ứng dụng dữ liệu và nền tảng số trong điều hành, gắn trách nhiệm của từng cấp quản lý với chất lượng đầu ra và sự hài lòng của người dân.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Đến đầu tháng 4, hầu hết đại học đưa ra phương án tuyển sinh dự kiến năm 2026. Trong đó, 64 trường đã công bố bảng quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, phổ biến là IELTS, sang điểm môn Tiếng Anh. Điểm này thường được kết hợp với điểm thi tốt nghiệp THPT hoặc học bạ hai môn khác trong tổ hợp để xét tuyển.
11 trường quy đổi IELTS từ 4.0. Đây là mức điểm thấp nhất, cũng là mức giúp thí sinh được miễn thi tốt nghiệp môn Tiếng Anh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong đó, Đại học Sài Gòn và Yersin Đà Lạt tính 7,5 điểm với mốc này.
Quy đổi từ mốc 4.5 IELTS là Đại học Điện lực, Mở Hà Nội, Công nghệ Giao thông vận tải, Học viện Hàng không Việt Nam..., phổ biến bằng 7-8 điểm môn tiếng Anh.
Số còn lại hầu hết yêu cầu IELTS từ 5.0. Nếu có IELTS từ 7.0 trở lên, nhiều trường tính cho thí sinh thành 10 điểm Tiếng Anh, như Đại học Bách khoa Hà Nội, Công nghiệp Hà Nội, Thương mại...
Trong khi đó, 6 trường chỉ tính mức tối đa môn Tiếng Anh nếu có IELTS từ 8.0 trở lên, ví dụ Đại học Ngoại thương, Khoa học và Công nghệ Hà Nội, CMC, Khoa học Tự nhiên TP HCM, Bách khoa TP HCM, Nguyễn Tất Thành.
Danh sách đại học quy đổi điểm IELTS năm 2026 tính đến đầu tháng 4 như sau:
Theo quy chế tuyển sinh ban hành giữa tháng 2, bảng quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ phải có tối thiểu 5 mức điểm chênh lệch.
Ngoài quy đổi, nhiều trường cộng điểm khuyến khích cho thí sinh có IELTS như Đại học Kiến trúc Hà Nội, Y tế công cộng, Luật TP HCM, Học viện Kỹ thuật mật mã, Tòa án... Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định thí sinh đã quy đổi điểm chứng chỉ ngoại ngữ thì không được cộng điểm khuyến khích.
Nhìn lại 10 năm xét tuyển IELTS vào đại học
Năm ngoái, hơn 70 đại học quy đổi IELTS thành điểm môn Tiếng Anh để xét kết hợp với điểm thi tốt nghiệp THPT hoặc học bạ, cũng với mức từ 4.0 trở lên.
Dương Tâm
Tin Gốc: https://vnexpress.net/danh-sach-dai-hoc-quy-doi-ielts-nam-2026-cap-nhat-nhat-5058995.html

Tại trụ sở chính của UNESCO ở Paris, Pháp, lễ công bố cấp cao của báo cáo GEM (báo cáo Giám sát giáo dục toàn cầu) mới đây đã quy tụ hơn 21 bộ trưởng, thứ trưởng bộ giáo dục và đào tạo cùng nhiều các chuyên gia, lãnh đạo giáo dục của nhiều quốc gia. vùng lãnh thổ.
Cùng với đó là sự tham gia của các thiết chế định hình chính sách và dòng chảy nguồn lực như Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Ủy ban châu Âu (European Commission), Liên minh toàn cầu vì giáo dục (Global Partnership for Education), Viện quốc tế về quy hoạch giáo dục của UNESCO (IIEP UNESCO)...
Tham dự lễ công bố báo cáo với tư cách học giả Chevening ngành lãnh đạo Giáo dục tại ĐH UCL (Vương quốc Anh), tôi cho rằng điều đáng chú ý không nằm ở quy mô hội nghị, mà ở cách các vấn đề được đặt lại một cách có hệ thống. Đặc biệt là câu chuyện về công bằng giáo dục. Điểm cốt lõi của báo cáo nằm ở 3 câu hỏi.
Một trao đổi với tiến sĩ Manos Antoninis, Giám đốc Báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu (GEM), đã gợi mở thêm cho tôi một điểm đáng suy nghĩ. Điều ông quan tâm không chỉ là tốc độ mở rộng hệ thống giáo dục, mà là cách một quốc gia lựa chọn ưu tiên khi nguồn lực luôn hữu hạn.
Nói cách khác, điều quan trọng không chỉ là mở rộng hệ thống giáo dục bao nhiêu, mà là sự mở rộng đó đang tạo khác biệt ở đâu và cho ai.
Mở rộng tiếp cận cơ hội được đi học cho mọi người, nhưng chưa chắc đồng nghĩa với thu hẹp bất bình đẳng. Một hệ thống có thể tăng nhanh về quy mô mà vẫn giữ nguyên, thậm chí làm sâu thêm, khoảng cách giữa những nhóm người học có xuất phát điểm khác nhau, khi việc mở rộng chủ yếu diễn ra ở điểm đầu vào, trong khi chất lượng học tập, các lộ trình học tiếp và cơ hội sau giáo dục lại phân bổ rất không đồng đều.
Trong trường hợp đó, bất bình đẳng trong giáo dục không biến mất mà dịch chuyển qua các tầng của hệ thống. Việc người ta quan tâm không chỉ là ai được đi học. Mà là được đi học trong điều kiện nào, ai có nhiều lựa chọn hơn sau khi học, ai có thể chuyển hóa giáo dục thành cơ hội phát triển trong cuộc đời.
Trên giấy tờ, không ít quốc gia đã có những định hướng đúng về giáo dục, từ mở rộng tiếp cận, cải thiện chất lượng đến thúc đẩy công bằng giáo dục. Nhưng khi đi vào thực tế, khoảng cách giữa cam kết và kết quả lại xuất hiện, không phải vì thiếu chính sách, mà vì chính sách không đi trọn được đến lớp học.
Điểm nghẽn thường không nằm ở cấp chính sách quốc gia, mà ở cách chính sách được triển khai qua nhiều tầng nấc thang. Từ quy định chung, đến hướng dẫn cụ thể, rồi đến thực hành trong từng nhà trường, mỗi bước đều có thể làm "hao hụt" ý định ban đầu. Khi xuống đến lớp học, giáo viên thường phải đối diện với những tình huống rất khác với giả định trong chính sách, trong khi không phải lúc nào cũng có đủ điều kiện hoặc không gian để điều chỉnh.
Bên lề chương trình, khi chúng tôi trao đổi với ông Sobhi Tawil, Giám đốc Ban tương lai học tập và đổi mới của UNESCO, câu chuyện được mở rộng sang vai trò của giáo viên trong bối cảnh AI. Theo ông, điều cần quan tâm không chỉ là công nghệ đi vào nhà trường nhanh đến đâu, mà là giáo viên có được chuẩn bị để sử dụng công nghệ theo hướng hỗ trợ người học hay không. Trong một môi trường học tập ngày càng nhiều nguồn tri thức, vai trò của giáo viên không giảm đi, mà chuyển sang yêu cầu cao hơn về định hướng, lựa chọn và dẫn dắt việc học.
Công bằng giáo dục, trong nhiều trường hợp, không đến từ việc phân bổ đồng đều, mà từ khả năng hướng nguồn lực đến những điểm cần thiết nhất, đặc biệt với những nhóm người học có nguy cơ bị gián đoạn hành trình học tập.
Chúng tôi có một trao đổi ngắn với giáo sư Giuseppe Valditara, Bộ trưởng Giáo dục và Trọng dụng năng lực của Ý. Khi nói về công bằng trong giáo dục, ông không đặt trọng tâm vào việc mở rộng cơ hội theo nghĩa hình thức, mà vào cách hệ thống sử dụng các công cụ tài chính cụ thể, đặc biệt là học bổng và các chương trình hỗ trợ đi kèm, để giữ người học ở lại trong hành trình học tập.
Khi được thiết kế đúng, các công cụ này không chỉ giảm bớt rào cản tài chính trực tiếp, mà còn tạo ra điều kiện để người học có thể tiếp tục theo đuổi việc học một cách ổn định hơn.
Trong cách tiếp cận đó, công bằng không nằm ở việc tất cả đều nhận được như nhau, mà ở việc những học sinh có nguy cơ bị bỏ lại phía sau được hỗ trợ đủ để không rơi khỏi hệ thống.
Điều này đòi hỏi các chính sách tài chính không chỉ dừng ở mức phân bổ ngân sách, mà phải đi kèm với những chương trình cụ thể, có khả năng theo sát và hỗ trợ người học trong suốt quá trình.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển với những kỳ vọng rất lớn, từ tăng trưởng kinh tế đến chuyển dịch sang một nền kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ, công bằng giáo dục vì thế không còn là câu chuyện của riêng ngành giáo dục.
Trong một thời gian dài, mở rộng cơ hội đi học được xem là thước đo quan trọng nhất của giáo dục. Nhưng khi cánh cửa trường học đã mở rộng hơn bao giờ hết, câu hỏi đặt ra không còn dừng ở việc bao nhiêu người có thể bước vào, mà chuyển sang một điều khó hơn nhiều, ai có thể đi đến cùng, và đi đến cùng với chất lượng ra sao.
Chính ở điểm chuyển này, câu chuyện về giáo dục không còn là vấn đề của riêng ngành giáo dục, mà bắt đầu chạm trực tiếp đến năng lực tăng trưởng của mỗi quốc gia. Khi những khác biệt trong hành trình học tập không được giải quyết, chúng không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động, năng suất và khả năng cạnh tranh trong dài hạn.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mà công nghệ và AI đang định hình lại cách con người học và làm việc, những khác biệt về điều kiện học tập nếu không được xử lý sớm sẽ không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động và cơ hội phát triển sau này. Khi đó, bất bình đẳng trong giáo dục không còn là một vấn đề xã hội thuần túy, mà trở thành một giới hạn trực tiếp đối với năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Vì vậy, tiếp cận và công bằng không chỉ là những mục tiêu cần đạt được, mà là điều kiện để hệ thống giáo dục có thể thực hiện được vai trò của mình. Một hệ thống có thể mở rộng rất nhanh, nhưng nếu không giữ được sự cân bằng giữa các nhóm người học, thì chính tốc độ đó có thể tạo ra những khoảng cách mới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Thí sinh có từ 2 chứng chỉ ngoại ngữ được ưu tiên xét tuyển ĐH ra sao?

Chia sẻ tại hội nghị tuyển sinh năm 2026 của Bộ GD-ĐT hôm 20.4, tiến sĩ Lê Văn Tường Lân, Trưởng ban Đào tạo và công tác sinh viên ĐH Huế, đặt vấn đề: Bộ đã có quy định về chính sách ưu tiên với thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh, tuy nhiên thực tế cho thấy có thí sinh dùng 2 loại chứng chỉ tiếng Anh khác nhau (IELTS và V-STEP) khi tham gia xét tuyển, 1 chứng chỉ cộng điểm và 1 chứng chỉ quy đổi, thì có được không?
Giải đáp băn khoăn này, GS-TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), khẳng định, thí sinh chỉ có thể áp dụng điều kiện vừa cộng điểm vừa quy đổi điểm nếu có 2 chứng chỉ của 2 ngoại ngữ khác nhau.
Với thí sinh có 2 chứng chỉ cùng một ngoại ngữ, như bảng quy đổi các trường ĐH đã công bố và trong quy chế cũng đã thể hiện, thí sinh chỉ được quyền lựa chọn chứng chỉ có mức ưu tiên cao nhất. Điều này theo ông Thảo là cần thiết để tránh tình trạng thí sinh thi nhiều loại chứng chỉ khác nhau trong cùng một ngoại ngữ không cần thiết.
Quy chế tuyển sinh quy định, trường hợp thí sinh sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ (để miễn thi tốt nghiệp THPT môn ngoại ngữ) đăng ký xét tuyển ĐH, cơ sở đào tạo xây dựng và công bố bảng quy đổi kết quả chứng chỉ ngoại ngữ và điểm xét môn ngoại ngữ. Bảng quy đổi kết quả chứng chỉ tiếng Anh và điểm xét môn ngoại ngữ xây dựng phải có tối thiểu 5 mức điểm chênh lệch ứng với thang điểm của chứng chỉ sử dụng. Bảng quy đổi kết quả chứng chỉ ngoại ngữ khác và điểm xét môn ngoại ngữ tương ứng do hiệu trưởng cơ sở đào tạo quy định. Chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được dùng cho quy đổi điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển hoặc sử dụng cho điểm khuyến khích.
Theo dự thảo hướng dẫn tuyển sinh ĐH 2026 của Bộ GD-ĐT, các chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh được dùng để miễn thi tốt nghiệp THPT theo quy định tại Quy chế thi tốt nghiệp THPT hiện hành, cơ sở đào tạo quy đổi thành tối thiểu 5 mức điểm chênh lệch ứng với các thang điểm khác nhau của chứng chỉ bảo đảm tính phân hóa về năng lực tiếng Anh của thí sinh (Ví dụ: IELTS 6.0, 6.5, 7.0, 7.5...). Chứng chỉ ngoại ngữ khác và điểm xét môn ngoại ngữ tương ứng do hiệu trưởng cơ sở đào tạo quy định. Chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được dùng cho quy đổi điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển hoặc sử dụng cho cộng điểm điểm khuyến khích.
Hiện trong thông tin tuyển sinh, nhiều trường ĐH đã công bố mức điểm cộng hoặc quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ thành điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển. Tuy nhiên, nhiều trường cho biết vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết của Bộ GD-ĐT mới công bố thông tin chi tiết.
Tin Gốc: Thanh Niên

