Mục Lục
ToggleGần đây, tôi thấy có nhiều ý kiến bức xúc vì tình trạng mức lương doanh nghiệp đóng BHXH thấp hơn mức lương thực nhận của người lao động tại doanh nghiệp đó.
Nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp (DN) lách luật, thiệt hại cho người lao động (NLĐ) khi nhận lương hưu sẽ nhận được số tiền ít hơn rất nhiều so với khi còn làm việc, nên cần phải ra luật để siết bắt buộc đóng BHXH đúng với mức lương thực.
Tuy nhiên, bản chất của vấn đề không phải như vậy. Những người soạn luật và Cơ quan quản lý đều biết, nhưng không phải để lách luật, mà chính là để thêm lựa chọn cho doanh nghiệp và người lao động.
Theo tôi, các bạn cần nắm rõ 02 nguyên tắc:
1. Với BHXH: Đóng cao thì hưởng cao.
2. Với NLĐ, thường dùng khái niệm “tiền lương”, còn với DN thường dùng khái niệm “chi phí”: Tổng chi phí của doanh nghiệp cho vị trí nhân sự đó là không đổi.
Xét ví dụ như sau:
Hai Doanh nghiệp A và B đều trả chi phí cho vị trí nhân sự cần tuyển là 20 triệu đồng một tháng.
– Doanh nghiệp A dùng chính sách đóng BHXH đúng bằng thu nhập.
– Doanh nghiệp B chỉ đóng BHXH mức cơ bản 6 triệu đồng một tháng.
Áp dụng các công thức với quy định hiện tại:
– NLĐ tại DN A sẽ nhận mức lương net hàng tháng gần 15 triệu đồng một tháng tháng
– NLĐ tại DN B sẽ nhận mức lương net hàng tháng gần 18 triệu đồng một tháng
Khi ấy đặt ra câu hỏi: Nếu bạn là người lao động, bạn chọn phương án của DN A hay B? (Nhấn mạnh rằng tổng chi phí của DN cho vị trí nhân sự là không đổi = 20 triệu đồng một tháng).
Nếu cá nhân bạn vẫn muốn nhận ít lại mỗi tháng 3 triệu đồng theo ví dụ trên, thì cũng dễ thôi, hoàn toàn có thể thỏa thuận với doanh nghiệp, hoặc chuyển công việc từ doanh nghiệp B sang doanh nghiệp A.
Còn trường hợp vừa muốn nhận 18 triệu đồng, vừa muốn đóng đủ BHXH, thì khi đó chi phí doanh nghiệp cho vị trí đó lại ở một mức mới.
Tin Gốc: Vnexpress

Nếu ngồi đủ lâu ở một phòng chờ bệnh viện vào buổi sáng, bạn sẽ nhận ra không gian ấy đang già đi cùng xã hội. Những mái đầu bạc, có người mang theo một túi thuốc nhỏ, có người là cả một hồ sơ điều trị dày cộp.
Và đôi khi, người ta đùa với nhau rằng tuổi già không được đếm bằng năm sinh, mà bằng số loại thuốc phải uống mỗi ngày.
Đó là những chỉ dấu rất rõ của một xã hội đang già hóa nhanh. Có một thực tế trong y tế mà những người làm chính sách nhận ra là chúng ta đang sống lâu hơn, nhưng không phải lúc nào cũng sống khỏe hơn.
Thống kê cho thấy, người Việt có thể phải trải qua khoảng 10 năm cuối đời trong tình trạng mang bệnh hoặc sống chung với bệnh mạn tính. Quãng thời gian ấy không phải một vài đợt nằm viện ngắn ngủi, mà là một quãng đời kéo dài, nơi sức khỏe không còn là trạng thái ổn định mà trở thành một tiến trình cần theo dõi từng ngày.
Trong quãng thời gian đó, những cái tên quen thuộc như tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch hay thoái hóa xương khớp không chỉ xuất hiện đơn lẻ. Chúng thường đi cùng nhau, chồng lấn lên nhau, tạo thành những "tầng gánh nặng" sức khỏe mà người cao tuổi phải mang theo.
Không có bệnh nào quá ồn ào để báo động ngay lập tức, nhưng tất cả cùng góp phần bào mòn dần chất lượng sống - từng chút một, âm thầm nhưng bền bỉ.
Và khi nhiều bệnh cùng tồn tại trong một cơ thể, y học cũng buộc phải thay đổi cách tiếp cận.
Không còn là câu chuyện "chữa một bệnh", mà là quản lý nhiều bệnh cùng lúc; không chỉ kê một đơn thuốc, mà phải tính đến hàng loạt tương tác; không chỉ kéo dài sự sống, mà quan trọng hơn là giữ được sự ổn định và tự chủ trong chính cuộc sống ấy.
Ở điểm này, chăm sóc sức khỏe không còn là phản ứng trước bệnh tật, mà trở thành một bài toán quản trị dài hạn cho cả một hệ sinh thái sức khỏe của con người.
Trong thực hành y tế, có một ngộ nhận khá phổ biến: bệnh mạn tính và bệnh truyền nhiễm là hai "đường thẳng" tách biệt, mỗi loại đi một hướng, không liên quan đến nhau. Nhưng càng quan sát thực tế lâm sàng, càng thấy ranh giới ấy mờ đi rất nhiều.
Một người đang sống chung với tăng huyết áp hay đái tháo đường không chỉ đối mặt với "con số đường huyết" hay "chỉ số huyết áp", mà còn đối mặt với một hệ miễn dịch đã suy giảm phần nào, một cơ thể ít khả năng chống đỡ hơn trước các tác nhân bên ngoài.
Vì vậy, những bệnh tưởng chừng đơn giản như cúm mùa hay nhiễm trùng đường hô hấp lại có thể trở thành điểm khởi đầu cho những diễn biến nặng hơn, kéo dài hơn, và khó lường hơn.
Chính từ thực tế đó, cách tiếp cận y tế truyền thống - chờ đến khi bệnh xuất hiện rồi mới điều trị - đang bộc lộ rõ giới hạn của nó. Với người cao tuổi, đặc biệt là người có bệnh nền, y học không thể chỉ đứng ở vị trí "xử lý sự cố", mà phải chuyển dần sang vai trò chủ động hơn: Nhận diện nguy cơ từ sớm, phòng ngừa từ trước, và can thiệp trước khi những "mắt xích nhỏ" kịp nối thành một biến cố lớn.
Trong nhiều năm làm y tế, có một thay đổi rất rõ mà bất kỳ ai quan sát đủ lâu đều nhận ra: chúng ta không thể tiếp tục coi "đi khám" là điểm bắt đầu của chăm sóc sức khỏe. Bởi khi bệnh đã xuất hiện, cơ thể thường không còn ở trạng thái cân bằng như trước đó nữa.
Chính vì vậy, y học hiện đại buộc phải dịch chuyển sang một cách tiếp cận khác: không chỉ điều trị khi bệnh xảy ra, mà quan trọng hơn là làm sao để bệnh không có cơ hội xuất hiện, hoặc xuất hiện muộn hơn, nhẹ hơn, ít biến chứng hơn.
Đó cũng là tinh thần cốt lõi của chăm sóc sức khỏe toàn diện: theo dõi sức khỏe một cách liên tục, quản lý tốt bệnh nền, chủ động phòng ngừa nguy cơ mới, và điều chỉnh can thiệp phù hợp với từng người thay vì áp dụng một công thức chung.
hăm sóc sức khỏe toàn diện không phải là điều bắt đầu từ bệnh viện, mà bắt đầu từ rất sớm từ những lựa chọn tưởng như nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày.
Trước khi có một ca khám bệnh, đã có những bữa ăn ta ăn mỗi ngày, những bước chân ta có chịu đi bộ hay không, những đêm ngủ có đủ sâu hay chỉ là chợp chờn, và cả việc có duy trì tiêm chủng đầy đủ theo khuyến nghị hay không.
Những điều ấy, nhìn riêng lẻ thì rất đơn giản. Nhưng khi cộng lại theo thời gian, chúng lại tạo nên nền tảng sức khỏe của cả một đời người - thứ quyết định rất nhiều đến việc tuổi già sẽ đến trong trạng thái chủ động hay bị động.
Điều đáng suy ngẫm là trong khi nhiều người chuẩn bị rất kỹ cho tuổi già về mặt tài chính, thì lại ít người chuẩn bị tương xứng cho "vốn sức khỏe" của chính mình. Trong khi đó, sức khỏe mới là thứ quyết định liệu số tiền tích lũy kia được dùng trong an nhàn, hay trong bệnh viện.
Chính vì vậy, chăm sóc sức khỏe toàn diện, xét đến cùng, không chỉ là một khái niệm y học. Đó là một cách sống - một cách sống chủ động hơn, sớm hơn, và bền bỉ hơn, để con người không bị động đi qua tuổi già, mà có thể đi cùng nó trong sự chuẩn bị và bình tĩnh.
Tin Gốc: Vnexpress

Khi tôi đi câu cá biển về và tổ chức nướng mọi, không nêm nếm bất cứ thứ gì, mời đứa em qua nhà, trong sân vườn chúng tôi vừa nướng cá vừa ăn. Mùi cá biển tươi trên than hồng bốc lên, đứa em bảo sao ngon quá. Một cảm giác tươi ngon như nghe mùi gió biển đâu đây.
Nhưng khi ăn, đứa em này lại chê nhạt nhẽo. Lẽ ra trước khi nướng phải ướp gia vị và cần làm một bát nước chấm thật đậm đà.
Chuyện này làm tôi thắc mắc rằng phải chăng nhiều người đã bị hỏng khẩu vị vì ngày thường ăn phải những món ăn nêm nếm đậm đà, sử dụng gia vị một cách vô tội vạ?
Các món ăn của gia đình tôi khi nấu chỉ cho thêm một chút muối, ngoài ra không nêm nếm những gia vị nào khác.
Trên thực tế, từ tô phở cho tới nấu ăn bếp nhà, nhiều người nấu ăn cứ phải nêm nếm cho thật đậm đà... Nhưng chính cái thói quen nêm nếm vô tội vạ ấy lại đang âm thầm làm hỏng khẩu vị và cả cách chúng ta cảm nhận món ăn.
Chúng ta vẫn thường nhầm lẫn giữa ngon và đậm. Một món ăn nhiều gia vị chưa chắc đã ngon, nhưng một món ăn giữ được vị tự nhiên thì gần như chắc chắn là dễ ăn.
Con cá tươi nướng chỉ cần chút muối vẫn khiến người ta xuýt xoa. Bát canh rau đơn giản, nếu nguyên liệu đủ tốt, khi húp một thìa nước canh thấy vị khoan khoái, người cũng nhẹ nhõm.
Nhưng trong nhịp sống hiện đại, nhiều người dường như không còn đủ kiên nhẫn để cảm nhận những điều đơn giản ấy. Gia vị trở thành lối tắt cho vị giác. Thiếu một chút mặn thì thêm nước mắm, thêm muối, thiếu ngọt thì cho đường, chưa đã miệng thì thêm bột nêm, mì chính..
Và cứ thế, món ăn dần bị phủ kín bởi các lớp vị nhân tạo, đến mức không còn nhận ra nguyên liệu ban đầu có vị gì.
Đáng nói hơn, việc nêm nếm quá tay không chỉ dừng lại ở thói quen cá nhân, mà còn tạo ra một vòng lặp khẩu vị. Ăn mặn quen thì sẽ thấy nhạt là dở. Ăn nhiều gia vị quen thì món tự nhiên lại bị cho là thiếu hấp dẫn.
Một hệ quả khác ít được nhắc đến là sự lãng phí. Như câu chuyện những chén nước mắm pha đầy ắp, thêm đủ thứ tỏi, ớt, sa tế... nhưng chỉ chấm vài lần rồi bỏ lại. Hay những bát phở bị vắt quá nhiều chanh, chan quá nhiều tương, để rồi chính người ăn cũng không thể ăn hết. Đó không chỉ là lãng phí vật chất, mà còn là sự thiếu tôn trọng công sức của người nấu.
Nấu ăn không phải là cuộc thi xem ai cho nhiều gia vị hơn, mà là cách để tôn trọng nguyên liệu và giữ gìn khẩu vị tự nhiên. Ăn uống cũng không chỉ để no hay đã miệng, mà còn là cách rèn luyện sự tiết chế.
Dương
Tin Gốc: https://vnexpress.net/vi-sao-ca-bien-nuong-moi-bi-nhieu-nguoi-che-nhat-nheo-5059978.html

Vụ việc giáo viên phạt 5 học sinh bằng cách bắt tự dùng kim tiêm chích vào tay gây phẫn nộ dư luận.
Nhân sự vụ này, tôi muốn bàn đôi chút về vấn đề âm thầm tồn tại từ lâu là: Làm thế nào khi giáo viên biến lớp học thành nơi trút giận, xả stress, nhưng lại gắn cho nó cái mác "nghiêm khắc".
Nhiều người vẫn nghĩ chỉ khi có hành vi gây tổn thương thân thể mới là "bạo lực học đường". Thực tế, những tổn thương tinh thần kéo dài còn nguy hiểm hơn vì âm thầm và khó nhận diện.
Tôi từng là học sinh trong một môi trường như vậy. Năm lớp 6, tôi học lớp chuyên Toán. Cô giáo chủ nhiệm, vì những vấn đề cá nhân, thường xuyên trút cảm xúc lên học sinh. Lớp có 25 bạn, chia thành 3 tổ, mỗi tổ phải chọn ra một người "có nhiều lỗi nhất" để viết kiểm điểm.
Việc này tưởng như rèn kỷ luật nhưng thực chất tạo áp lực và chia rẽ. Khi không có lỗi rõ ràng, các bạn buộc phải "tạo lỗi" cho nhau. Tôi đã phải viết tới 22 bản kiểm điểm trong một năm học.
Áp lực lặp lại khiến học sinh luôn căng thẳng, mất niềm tin và sợ hãi. Tôi từng nghĩ đến việc bỏ học. Cho đến giờ tôi vẫn ghét cô giáo và 7 bạn cùng tổ của mình thời đó.
Hậu quả không dừng lại ở đó. Có hai bạn khác trong lớp tôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì viết quá nhiều bản kiểm điểm: Một bạn rơi vào rối loạn tâm lý sau này lớn lên không bình thường được, một bạn học lực sa sút rồi bỏ học. Khi ấy, không có chế tài nào xử lý cô giáo đó.
30 năm trôi qua, tôi tưởng những điều đó đã là quá khứ. Nhưng khi theo dõi con, cháu mình đi học, tôi nhận ra vẫn có những giáo viên như vậy.
Thầy dạy môn toán lớp 9 của con trai tôi không hiệu quả nhưng thường xuyên chửi mắng học sinh, đồng thời gây áp lực để các cháu phải đến nhà học thêm. Điều đáng nói là dù học thêm vẫn không tiến bộ. May mắn là sau khi có quy định không cho giáo viên dạy thêm học sinh của mình, con tôi chuyển sang học thêm một thầy khác và khả năng Toán được cải thiện rõ rệt.
Câu chuyện đó cho thấy một thực tế khi giáo viên thiếu kiểm soát cảm xúc hoặc năng lực không đáp ứng, lớp học rất dễ trở thành nơi trút áp lực cá nhân. Và điều này thường được che đậy dưới danh nghĩa "kỷ luật" hay "nghiêm khắc".
Cần khẳng định rằng giáo dục luôn cần kỷ luật. Nhưng kỷ luật phải nhằm giúp học sinh tiến bộ, chứ không phải để người lớn giải tỏa cảm xúc. Một hình thức kỷ luật đúng sẽ có giới hạn, có mục tiêu rõ ràng và không gây tổn thương tinh thần kéo dài.
Vấn đề là những hành vi trút giận thường khó phát hiện sớm. Khi hậu quả xảy ra - học sinh sợ học, rối loạn tâm lý, hoặc sa sút thì đã quá muộn.
Vì vậy, tôi nghĩ rằng ngành giáo dục cần chuyển từ "xử lý sau sự việc" sang "phòng ngừa từ sớm". Theo tôi, hiệu trưởng các trường phổ thông cần nghiêm túc kiểm tra, đánh giá để phát hiện những giáo viên có dấu hiệu tâm lý thiếu ổn định hoặc hành vi sư phạm lệch chuẩn, từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Đồng thời, ngành Giáo dục cần coi trạng thái tâm lý của giáo viên là một tiêu chuẩn quan trọng trong chất lượng dạy học. Một người thầy khi bước vào lớp với tâm thế căng thẳng, bức xúc sẽ khó có thể truyền đạt kiến thức hiệu quả, thậm chí còn gây tổn hại cho học sinh.
Lớp học phải là nơi an toàn, nơi học sinh được học hỏi và phát triển, không phải nơi các em phải lo sợ mình sẽ trở thành mục tiêu của những cơn giận dữ.
Trong ký ức của mỗi người, những giáo viên yêu thương học sinh luôn được nhớ đến với sự kính trọng. Ngược lại, những người từng trút giận lên học trò thường để lại một vết đen khó xóa.
Tối 15/4, bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Hiệu trưởng trường Tiểu học Lương Thế Vinh, phường Bến Cát, cho biết sự việc xảy ra cách đây hai ngày, ở lớp 3.6.
Theo bà Hạnh, 5 học sinh nói chuyện riêng, nghịch ngợm trong lớp bị cô chủ nhiệm phạt bằng cách để các em tự dùng kim tiêm chích vào tay. Số kim tiêm này cô giáo mua cho con trai bị ốm nhưng chưa dùng. Giáo viên bị đình chỉ dạy từ ngày hôm nay.
"Cô giáo mới vào nghề được 3 năm. Tôi điếng người, không hiểu vì sao cô có suy nghĩ lệch lạc, hành vi sai trái như vậy", hiệu trưởng nói.
Tin Gốc: Vnexpress

