Vi khuẩn này lây truyền qua đường miệng – miệng là chủ yếu, trong khi người Việt Nam còn thói quen khá phổ biến dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung và gắp thức ăn cho người khác, chấm chung một chén nước chấm, uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…
Vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) dân gian gọi là HP, sống ở phần sâu lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, và ở các vùng nối giữa các tế bào này.
Trong các nghiên cứu được công bố gần đây, khoảng một nửa dân số trên thế giới bị nhiễm vi khuẩn H. pylori nhưng hầu hết không có biểu hiện triệu chứng, trong số này chỉ có khoảng 1-2% dân số bị nhiễm sẽ tiến triển thành ung thư dạ dày.
Tại Việt Nam, tỉ lệ người nhiễm H. pylori ở các lứa tuổi khác nhau còn rất cao, trên 80%. Nếu cha mẹ bị nhiễm H. pylori, các con có tỉ lệ nhiễm trên 90%, riêng trẻ < 8 tuổi là 98,6%.Những thói quen ăn uống chưa đúng của chúng ta làm tăng nguy cơ lây nhiễm như dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung, chấm chung một chén nước chấm, dùng đũa/muỗng đang ăn trong miệng của mình để gắp/lấy thức ăn cho người khác; uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…Các thói quen khác như nhai cơm nát đút cho con ăn, dùng nước bọt đếm tiền, lật xem tài liệu... cũng làm tăng nguy cơ nhiễm H. pylori.Nhiễm H. pylori được coi là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày, loét dạ dày, loét tá tràng và bệnh ác tính ở dạ dày bao gồm: ung thư dạ dày, và u lymphoma.Các yếu tố nguy cơ khác như tình trạng viêm teo niêm mạc dạ dày, viêm teo kèm dị sản ruột (chuyển sản ruột), loạn sản (nghịch sản) có thể được coi là thương tổn tiền ung thư dạ dày.Giả thuyết về nguyên nhân sinh bệnh ung thư dạ dày là sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của vi khuẩn H. pylori cùng với các thương tổn tiền ung thư, yếu tố môi trường, chế độ ăn có chứa các chất sinh ung, các đột biến gene…Các yếu tố nguy cơ được chia thành 4 nhóm khác nhau, bao gồm: môi trường, chế độ ăn uống - dinh dưỡng, tại chỗ và di truyền.Liên quan đến chế độ ăn uống và môi trường: thói quen ăn mặn, ăn nhiều thực phẩm như thịt, cá hun khói chứa hàm lượng nitrate cao, nguồn nước không sạch, hút thuốc lá... đều làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.Các yếu tố tại chỗ “đóng vai trò quan trọng”, đặc biệt là nhiễm vi khuẩn H. pylori, cùng với các tình trạng bệnh mạn tính như viêm, viêm teo niêm mạc dạ dày, dị sản ruột, loạn sản, polyp tuyến dạ dày kích thước lớn hơn 2cm, hoặc tiền sử cắt dạ dày trên 15-20 năm. Nam có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với nữ.Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn khoảng ba lần, và tỉ lệ ung thư dạ dày có tiền sử gia đình ở các nước châu Á cao hơn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bệnh viêm dạ dày phì đại, polyp tuyến dạ dày lớn hơn 2cm có nguy cơ ung thư từ 10 - 20%.
Liên quan giữa ung thư dạ dày và các gene bao gồm sự kích hoạt các gene sinh ung thư và đột biến gây bất hoạt các gene áp chế ung thư có vai trò quan trọng, và có liên quan đến việc biến đổi gene ở người.Vi khuẩn H. pylori gây nhiều bệnh ở dạ dày, lây chủ yếu qua đường ăn uống và hiện chưa có vắc xin phòng ngừa, nên phát hiện và điều trị sớm là cần thiết.Theo các đồng thuận thế giới và Việt Nam năm 2024, cũng như tại Hội nghị đồng thuận châu Á - Thái Bình Dương từ năm 2009 đưa ra ba chỉ định điều trị H. pylori liên quan đến ung thư dạ dày gồm: tầm soát và điều trị tiệt trừ H. pylori trong cộng đồng có tần suất ung thư dạ dày cao, tiền sử gia đình có người bị ung thư dạ dày, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Nhiễm H. pylori không triệu chứng hiện nay cũng cần điều trị do liên quan đến ung thư dạ dày, nhất là người sống ở vùng dịch tễ nhiễm H. pylori, tỉ lệ ung thư dạ dày cao hoặc gia đình có người ung thư dạ dày…Những người bệnh bắt buộc phải điều trị gồm: viêm dạ dày do nhiễm H. pylori, loét dạ dày - tá tràng do nhiễm H. pylori, sau điều trị các biến chứng của bệnh loét như thủng và chảy máu, u limphoma (MALTs), ung thư dạ dày, gia đình cùng huyết thống có người bị ung thư dạ dày nhiễm H. pylori, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Về điều trị, các phương pháp tiệt trừ H. pylori được đánh giá có hiệu quả và được khuyến cáo chỉ khi đạt tỉ lệ tiệt trừ thành công tối thiểu là 80% (theo ý định điều trị). Để đảm bảo hiệu quả điều trị, cần tuân theo các phác đồ đã được khuyến cáo, uống đủ liều, bác sĩ giải thích tác dụng phụ của thuốc... Sau điều trị kiểm tra lại bằng hơi thở hoặc nội soi dạ dày.Trong trường hợp uống thuốc nhưng không tiệt trừ được vi khuẩn (có thể do uống không đủ liều, cách uống khó khăn, tác dụng phụ của thuốc...), trong đó nguy cơ kháng các thuốc kháng sinh là quan trọng nhất.Về tình trạng tái nhiễm sau khi điều trị sạch vi khuẩn, một thời gian sau người bệnh đau bụng, đầy hơi thì cần kiểm tra nhiễm lại H. pylori. Nguyên nhân thường do tiếp tục ăn uống chung, nhai cơm mớm cho con, dùng tay thấm nước bọt khi đếm tiền hoặc lật tài liệu…Ngoài ra, những người làm nghề đặc thù như bác sĩ nội soi, nha sĩ... cũng có nguy cơ nhiễm và tái nhiễm H. pylori cao hơn do thường xuyên tiếp xúc với mầm bệnh.Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Muốn hạn chế nguy cơ tăng đường huyết sau bữa cơm, người làm việc văn phòng có thể áp dụng những cách sau:
Không phải tất cả các loại gạo đều tác động giống nhau lên đường huyết. Gạo trắng thông thường có chỉ số đường huyết (GI) cao nên sau khi ăn, lượng đường glucose trong máu sẽ tăng nhanh. Ngược lại, một số loại gạo như gạo lứt có chỉ số GI thấp hơn nhờ giữ lại lớp cám giàu chất xơ, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Chất xơ giúp làm chậm quá trình tiêu hóa và hấp thu tinh bột, từ đó glucose được giải phóng từ từ vào máu. Ngoài ra, cấu trúc tinh bột trong gạo cũng quan trọng. Với người làm văn phòng, chuyển sang gạo lứt là thay đổi đơn giản giúp ổn định đường huyết tốt hơn.
Một sai lầm phổ biến là ăn cơm với ít món ăn kèm hoặc bữa ăn chủ yếu là tinh bột. Điều này khiến đường glucose được hấp thu nhanh hơn và dễ gây tăng đường huyết sau ăn.
Khi kết hợp cơm với protein, chẳng hạn như thịt, cá, trứng, đậu và chất béo lành mạnh, quá trình tiêu hóa sẽ diễn ra chậm lại. Protein giúp kích thích tiết hoóc môn insulin ổn định hơn, còn chất béo làm chậm tốc độ quá trình tiêu hóa ở dạ dày. Nếu ăn kèm rau xanh, lượng chất xơ cũng sẽ giúp giảm tốc độ hấp thu glucose. Vì vậy, thay vì ăn một phần nhiều cơm trắng, mọi người nên ăn cơm vừa phải cùng với rau, thịt hoặc đậu.
Đây là yếu tố quan trọng nhất. Dù chọn loại gạo tốt đến đâu nhưng nếu ăn quá nhiều thì đường huyết vẫn tăng cao. Cơm nấu từ gạo là nguồn tinh bột chính nên lượng ăn trực tiếp quyết định lượng glucose đưa vào máu.
Với người làm việc văn phòng vốn ít vận động, nhu cầu năng lượng thường thấp hơn. Nếu vẫn ăn khẩu phần cơm lớn như người lao động thể lực, lượng glucose dư thừa sẽ không được sử dụng hết và tích tụ trong máu.
Một cách đơn giản là giảm lượng cơm xuống còn khoảng một nửa hoặc 2/3 so với trước, đồng thời tăng rau và protein để tạo cảm giác no. Cách này giúp giảm lượng đường hấp thu mà vẫn đảm bảo đủ năng lượng.
Sau khi ăn cơm, nhiều người có thói quen ngồi ngay vào bàn làm việc hoặc lướt điện thoại. Tuy nhiên, điều này khiến lượng đường glucose trong máu khó được sử dụng, dẫn đến tăng đường huyết.
Khi vận động nhẹ, cơ bắp có thể hấp thu glucose trực tiếp mà không phụ thuộc hoàn toàn vào insulin. Vì vậy, chỉ cần đi bộ nhẹ 5 - 10 phút sau ăn cũng có thể giúp giảm đáng kể mức đường huyết.
Với dân văn phòng, một số cách đơn giản là đi lại trong phòng, đứng làm việc trong vài phút hoặc vận động nhẹ sau bữa ăn. Đây là thói quen nhỏ nhưng có tác động lớn đến hoạt động chuyển hóa của cơ thể, theo Healthline.
Ngày 6/4, ThS.BS Lê Hoàng Hùng, Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết bệnh nhi từ Phú Quốc nhập viện nửa đêm trong tình trạng sưng nề, đau nhiều ở mắt phải và đầu. Vết thương mi dưới mắt phải dài 6 mm, rách kết mạc, xuất huyết củng mạc, đồng tử phải dãn 4 mm và phản xạ ánh sáng yếu.
CT scan đầu mặt thấy xuất huyết võng mạc mắt phải, dị vật là khối kim loại hình cầu đường kính 5 mm nằm sát màng não gần thùy thái dương bên phải. Nếu mổ chậm trễ, bệnh nhi dễ viêm xương, áp xe nội sọ, viêm màng não vi khuẩn với nguy cơ nhiễm trùng nặng, khiến quá trình điều trị khó khăn hơn và tỷ lệ tử vong cao.
Bác sĩ phẫu thuật khẩn, mở hộp sọ để gắp dị vật là viên bi sắt ngay trong đêm. Sau mổ, bé tỉnh táo, hết đau và sưng mắt, kiểm soát được nguy cơ nhiễm trùng. Dù vậy, do tổn thương nhãn cầu và xuất huyết võng mạc quá nghiêm trọng, bệnh nhi có nguy cơ cao bị mất thị lực hoàn toàn ở mắt phải.
BS.CK1 Nguyễn Thành Đô, Phó trưởng khoa Ngoại Thần kinh, cho biết mỗi năm bệnh viện tiếp nhận khoảng một đến hai trường hợp dị vật vùng đầu mặt do nghịch ná bắn chim hoặc súng tự chế khiến đạn găm vào đầu. Đây được xem là những tai nạn nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng.
Bác sĩ Đô khuyến cáo phụ huynh không sử dụng hoặc lưu trữ các loại vật dụng có tính sát thương trong nhà. Người lớn cần sát sao con trẻ, cất giữ các đồ vật nguy hiểm xa tầm tay các em. Nhà trường và gia đình nên thường xuyên giáo dục, nhắc nhở trẻ không được chơi đùa hoặc tự chế tạo các loại đồ chơi gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng, nhằm tránh những tai nạn thương tâm lặp lại.
Tránh những sai lầm sau khi tập thể dục buổi sáng có thể giúp giảm nguy cơ chấn thương và đau mạn tính.
Tư thế và kỹ thuật là yếu tố then chốt quyết định mức độ an toàn khi tập luyện. Khi thực hiện sai động tác, lực sẽ phân bố không đúng lên các khớp và cơ, từ đó làm tăng nguy cơ chấn thương. Chẳng hạn, khi squat sai kỹ thuật như để gối đổ vào trong hoặc cong lưng, áp lực sẽ dồn lên khớp gối và cột sống thay vì phân bổ đều, chuyên trang sức khỏe Verywellfit (Mỹ).
Nghiên cứu trên Journal of Strength and Conditioning Research cho thấy tập sai kỹ thuật có thể làm tăng đáng kể áp lực lên mô mềm và khớp, từ đó làm tăng nguy cơ chấn thương. Ngoài ra, không kiểm soát chuyển động, ví dụ thả tạ quá nhanh, cũng khiến cơ và dây chằng chịu lực đột ngột. Để hạn chế rủi ro, người tập nên học kỹ thuật và tập đúng ngay từ đầu.
Nhiều người có suy nghĩ rằng cơ càng đau thì tập càng hiệu quả. Tuy nhiên, điều này không hoàn toàn đúng. Cần phân biệt giữa đau cơ thông thường sau tập và đau cơ do chấn thương. Đau cơ thông thường sẽ lan tỏa và giảm dần sau vài ngày, trong khi đau do chấn thương thường tập trung ở một vị trí, kéo dài và tăng khi vận động.
Tổ chức y tế phi lợi nhuận Mayo Clinic (Mỹ) cho biết nếu cơn đau kéo dài hoặc đi kèm sưng, yếu cơ thì nên ngừng tập và kiểm tra sớm. Đau là tín hiệu cảnh báo của cơ thể khi mô bị tổn thương. Nếu tiếp tục tập luyện trong tình trạng này, tổn thương có thể trở nên nghiêm trọng hơn, làm tăng nguy cơ rách cơ hoặc chấn thương khớp.
Tập khi đang mệt, thiếu ngủ hoặc chưa ăn đủ có thể làm giảm khả năng kiểm soát vận động. Khi đó, phản xạ chậm hơn, cơ dễ mất ổn định và nguy cơ sai kỹ thuật tăng lên. Tình trạng này sẽ làm tăng nguy cơ chấn thương khi vận động.
Chỉ tập một số bài quen thuộc mỗi ngày, chẳng hạn chỉ chạy bộ hoặc chỉ tập chân, có thể gây quá tải lặp lại lên cùng một nhóm cơ và khớp. Nghiên cứu đăng trên chuyên san Sports Medicine cho thấy các chấn thương do lặp lại thường xảy ra khi một mô phải chịu áp lực liên tục mà không có thời gian phục hồi hoặc không có sự thay đổi chuyển động.
Đa dạng bài tập giúp phân bổ áp lực lên nhiều nhóm cơ khác nhau, nhờ đó giảm áp lực lên một vùng cụ thể và cải thiện sự cân bằng cơ thể, theo Verywellfit.