Mục Lục
ToggleĐây là thông tin được đưa ra tại buổi làm việc của Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Trần Anh Tuấn với các sở, ngành và địa phương chiều 20-4.
Theo báo cáo, năm học 2025 – 2026, Trường chuyên biệt Tương Lai có hơn 270 học sinh ở 3 bậc học mầm non, tiểu học và THCS. Những năm gần đây, số lượng học sinh tăng nhanh trong khi cơ sở vật chất hiện có chỉ đáp ứng ở mức cơ bản.
Hiện trường có 2 cơ sở tại đường Trần Bình Trọng (phường Hải Châu) và đường Huy Cận (phường Cẩm Lệ). Tuy nhiên do hạn chế về phòng học, nhiều lớp phải học ghép, ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học cũng như việc chăm sóc, hỗ trợ cá nhân cho học sinh.
Theo thống kê, học sinh đến từ các phường An Hải, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn chiếm khoảng 45% tổng số học sinh toàn trường, cho thấy nhu cầu học tập tại khu vực phía đông thành phố ngày càng lớn.
Từ thực tế trên, các sở, ngành và địa phương đề xuất sau khi cơ sở 1 Trường mầm non Họa My hoàn thành xây dựng mới, cơ sở 2 của trường này sẽ được bàn giao để thành lập cơ sở phụ của Trường chuyên biệt Tương Lai.
Tại cuộc họp, Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Trần Anh Tuấn cơ bản thống nhất chủ trương bàn giao cơ sở 2 của Trường mầm non Họa My để Trường chuyên biệt Tương Lai tiếp quản, quản lý và sử dụng.
Việc dịch chuyển học sinh phải phù hợp, ưu tiên con em khu vực Sơn Trà và các địa bàn lân cận. Đồng thời cần bảo đảm ổn định chất lượng dạy và học, tạo môi trường học tập tốt nhất cho học sinh.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Tại trụ sở chính của UNESCO ở Paris, Pháp, lễ công bố cấp cao của báo cáo GEM (báo cáo Giám sát giáo dục toàn cầu) mới đây đã quy tụ hơn 21 bộ trưởng, thứ trưởng bộ giáo dục và đào tạo cùng nhiều các chuyên gia, lãnh đạo giáo dục của nhiều quốc gia. vùng lãnh thổ.
Cùng với đó là sự tham gia của các thiết chế định hình chính sách và dòng chảy nguồn lực như Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Ủy ban châu Âu (European Commission), Liên minh toàn cầu vì giáo dục (Global Partnership for Education), Viện quốc tế về quy hoạch giáo dục của UNESCO (IIEP UNESCO)...
Tham dự lễ công bố báo cáo với tư cách học giả Chevening ngành lãnh đạo Giáo dục tại ĐH UCL (Vương quốc Anh), tôi cho rằng điều đáng chú ý không nằm ở quy mô hội nghị, mà ở cách các vấn đề được đặt lại một cách có hệ thống. Đặc biệt là câu chuyện về công bằng giáo dục. Điểm cốt lõi của báo cáo nằm ở 3 câu hỏi.
Một trao đổi với tiến sĩ Manos Antoninis, Giám đốc Báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu (GEM), đã gợi mở thêm cho tôi một điểm đáng suy nghĩ. Điều ông quan tâm không chỉ là tốc độ mở rộng hệ thống giáo dục, mà là cách một quốc gia lựa chọn ưu tiên khi nguồn lực luôn hữu hạn.
Nói cách khác, điều quan trọng không chỉ là mở rộng hệ thống giáo dục bao nhiêu, mà là sự mở rộng đó đang tạo khác biệt ở đâu và cho ai.
Mở rộng tiếp cận cơ hội được đi học cho mọi người, nhưng chưa chắc đồng nghĩa với thu hẹp bất bình đẳng. Một hệ thống có thể tăng nhanh về quy mô mà vẫn giữ nguyên, thậm chí làm sâu thêm, khoảng cách giữa những nhóm người học có xuất phát điểm khác nhau, khi việc mở rộng chủ yếu diễn ra ở điểm đầu vào, trong khi chất lượng học tập, các lộ trình học tiếp và cơ hội sau giáo dục lại phân bổ rất không đồng đều.
Trong trường hợp đó, bất bình đẳng trong giáo dục không biến mất mà dịch chuyển qua các tầng của hệ thống. Việc người ta quan tâm không chỉ là ai được đi học. Mà là được đi học trong điều kiện nào, ai có nhiều lựa chọn hơn sau khi học, ai có thể chuyển hóa giáo dục thành cơ hội phát triển trong cuộc đời.
Trên giấy tờ, không ít quốc gia đã có những định hướng đúng về giáo dục, từ mở rộng tiếp cận, cải thiện chất lượng đến thúc đẩy công bằng giáo dục. Nhưng khi đi vào thực tế, khoảng cách giữa cam kết và kết quả lại xuất hiện, không phải vì thiếu chính sách, mà vì chính sách không đi trọn được đến lớp học.
Điểm nghẽn thường không nằm ở cấp chính sách quốc gia, mà ở cách chính sách được triển khai qua nhiều tầng nấc thang. Từ quy định chung, đến hướng dẫn cụ thể, rồi đến thực hành trong từng nhà trường, mỗi bước đều có thể làm "hao hụt" ý định ban đầu. Khi xuống đến lớp học, giáo viên thường phải đối diện với những tình huống rất khác với giả định trong chính sách, trong khi không phải lúc nào cũng có đủ điều kiện hoặc không gian để điều chỉnh.
Bên lề chương trình, khi chúng tôi trao đổi với ông Sobhi Tawil, Giám đốc Ban tương lai học tập và đổi mới của UNESCO, câu chuyện được mở rộng sang vai trò của giáo viên trong bối cảnh AI. Theo ông, điều cần quan tâm không chỉ là công nghệ đi vào nhà trường nhanh đến đâu, mà là giáo viên có được chuẩn bị để sử dụng công nghệ theo hướng hỗ trợ người học hay không. Trong một môi trường học tập ngày càng nhiều nguồn tri thức, vai trò của giáo viên không giảm đi, mà chuyển sang yêu cầu cao hơn về định hướng, lựa chọn và dẫn dắt việc học.
Công bằng giáo dục, trong nhiều trường hợp, không đến từ việc phân bổ đồng đều, mà từ khả năng hướng nguồn lực đến những điểm cần thiết nhất, đặc biệt với những nhóm người học có nguy cơ bị gián đoạn hành trình học tập.
Chúng tôi có một trao đổi ngắn với giáo sư Giuseppe Valditara, Bộ trưởng Giáo dục và Trọng dụng năng lực của Ý. Khi nói về công bằng trong giáo dục, ông không đặt trọng tâm vào việc mở rộng cơ hội theo nghĩa hình thức, mà vào cách hệ thống sử dụng các công cụ tài chính cụ thể, đặc biệt là học bổng và các chương trình hỗ trợ đi kèm, để giữ người học ở lại trong hành trình học tập.
Khi được thiết kế đúng, các công cụ này không chỉ giảm bớt rào cản tài chính trực tiếp, mà còn tạo ra điều kiện để người học có thể tiếp tục theo đuổi việc học một cách ổn định hơn.
Trong cách tiếp cận đó, công bằng không nằm ở việc tất cả đều nhận được như nhau, mà ở việc những học sinh có nguy cơ bị bỏ lại phía sau được hỗ trợ đủ để không rơi khỏi hệ thống.
Điều này đòi hỏi các chính sách tài chính không chỉ dừng ở mức phân bổ ngân sách, mà phải đi kèm với những chương trình cụ thể, có khả năng theo sát và hỗ trợ người học trong suốt quá trình.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển với những kỳ vọng rất lớn, từ tăng trưởng kinh tế đến chuyển dịch sang một nền kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ, công bằng giáo dục vì thế không còn là câu chuyện của riêng ngành giáo dục.
Trong một thời gian dài, mở rộng cơ hội đi học được xem là thước đo quan trọng nhất của giáo dục. Nhưng khi cánh cửa trường học đã mở rộng hơn bao giờ hết, câu hỏi đặt ra không còn dừng ở việc bao nhiêu người có thể bước vào, mà chuyển sang một điều khó hơn nhiều, ai có thể đi đến cùng, và đi đến cùng với chất lượng ra sao.
Chính ở điểm chuyển này, câu chuyện về giáo dục không còn là vấn đề của riêng ngành giáo dục, mà bắt đầu chạm trực tiếp đến năng lực tăng trưởng của mỗi quốc gia. Khi những khác biệt trong hành trình học tập không được giải quyết, chúng không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động, năng suất và khả năng cạnh tranh trong dài hạn.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mà công nghệ và AI đang định hình lại cách con người học và làm việc, những khác biệt về điều kiện học tập nếu không được xử lý sớm sẽ không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động và cơ hội phát triển sau này. Khi đó, bất bình đẳng trong giáo dục không còn là một vấn đề xã hội thuần túy, mà trở thành một giới hạn trực tiếp đối với năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Vì vậy, tiếp cận và công bằng không chỉ là những mục tiêu cần đạt được, mà là điều kiện để hệ thống giáo dục có thể thực hiện được vai trò của mình. Một hệ thống có thể mở rộng rất nhanh, nhưng nếu không giữ được sự cân bằng giữa các nhóm người học, thì chính tốc độ đó có thể tạo ra những khoảng cách mới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Video do nghệ sĩ hài Lee Soo-ji đăng tải trên kênh YouTube cá nhân ngày 7/4. Cô vào vai một giáo viên, bắt đầu làm việc từ 4 giờ sáng và đối mặt với loạt yêu cầu "quá đà" của phụ huynh như dùng đúng thương hiệu khăn ướt hay trả lời những câu hỏi về đời tư...
Sau một tuần, video thu hút gần 5 triệu lượt xem và hơn 20.000 bình luận. Thay vì những lời khen ngợi hài hước, đa số người xem bày tỏ sự chua xót.
"Tôi vừa xem vừa khóc", một người bình luận. "Ban đầu tôi xem để cười, nhưng cuối cùng lại khóc", người khác nói.
Không ít cho rằng thực tế thậm chí còn kinh khủng hơn video. Có cựu giáo viên chia sẻ đã phải từ bỏ công việc sau 7 năm vì xung đột với phụ huynh.
"Tôi đã cố chịu đựng vì tình yêu với lũ trẻ, nhưng những lời nhục mạ đã dập tắt cả ước mơ lẫn sự nghiệp của tôi. Nếu con của các bạn là bảo vật, hãy nhớ rằng con cái nhà người khác cũng đáng quý như vậy", cô viết.
Một giáo viên khác kể: "Chỉ vì một phụ huynh, mọi thứ tôi gây dựng suốt nhiều năm sụp đổ trong chốc lát". Người này cũng nghỉ việc vì không chịu được các hành vi lăng mạ và đe dọa.
Một số thậm chí nói họ suýt bị hành hung.
Vấn đề nhức nhối nhất mà nhiều người đề cập là việc bị phụ huynh đe dọa tố cáo bạo hành trẻ em nếu không đáp ứng yêu cầu. Đây là một "vũ khí" lợi hại, có thể khiến giáo viên bị điều tra trong thời gian dài.
Một giáo viên kể phải trải qua 8 tháng làm việc với cảnh sát dù người tố cáo không có bằng chứng. Cuối cùng, cô được minh oan, nhưng vẫn không thể vượt qua cú sốc tâm lý để quay lại công việc.
Bên cạnh đó là những nỗi khổ không tên, như bị yêu cầu kiểm tra camera liên tục, nhận cuộc gọi vào đêm muộn, hay bị các hội nhóm phụ huynh cùng "tẩy chay" cho đến khi phải nghỉ việc.
Dù có phần cường điệu, các tình tiết đã chạm đến cảm xúc của cộng đồng mạng, đặc biệt là những người quen thuộc với "mom café", là các diễn đàn phụ huynh có sức ảnh hưởng lớn đến dư luận và danh tiếng cá nhân.
Tại Hàn Quốc, không chỉ bậc mầm non, giáo viên ở bậc phổ thông cũng chịu áp lực khổng lồ từ phụ huynh. Mức lương thấp cũng khiến ngày càng nhiều sinh viên từ bỏ ngành Sư phạm.
Tin Gốc: Vnexpress

Sự việc xảy ra tại điểm thi Trường ĐH Nha Trang, và cả hai thí sinh đều học tại một trường THPT trên địa bàn. N.K và Q.V, hai thí sinh lớp 11 được nêu, cho biết các em đã bị mời ra khỏi phòng thi đánh giá năng lực (V-ACT) do chưa đủ tuổi. Cả hai thú nhận ngay từ khâu đăng ký dự thi đã thấy mục ngày sinh chỉ có lựa chọn từ năm 2008 trở đi chứ không có 2009 của mình. Song, cả hai đã quyết định khai báo sai năm sinh để có thể đăng ký thành công.
"Lúc đó em cứ nghĩ thôi chọn 2008 cũng được, không sao hết", K. bộc bạch. "Lúc đầu vào phòng thi thì không có vấn đề gì, nhưng khi các thầy cô kiểm tra giấy tờ tùy thân thấy năm sinh không khớp thì không cho thi nữa", em nói thêm.
Theo tin từ ĐH Quốc gia TP.HCM, đối tượng tham dự V-ACT bao gồm: học sinh đang học lớp 12 chương trình THPT hoặc chương trình giáo dục thường xuyên cấp THPT trong năm tổ chức kỳ thi; người học hết chương trình THPT nhưng chưa thi tốt nghiệp THPT hoặc đã thi song chưa tốt nghiệp THPT những năm trước.
Ngoài ra, đối tượng dự thi còn bao gồm những ai đã tốt nghiệp THPT, trình độ trung cấp và đã có bằng tốt nghiệp THPT, hoặc đã tốt nghiệp chương trình THPT của nước ngoài ở nước ngoài hoặc ở Việt Nam.
Như vậy, thí sinh đang học lớp 11 không thuộc diện được đăng ký thi V-ACT, theo quy chế thi đã công bố từ trước của ĐH Quốc gia TP.HCM.
PGS-TS Tô Văn Phương, Trưởng phòng Đào tạo của Trường ĐH Nha Trang, xác nhận với Thanh Niên rằng điểm thi có ghi nhận trường hợp thí sinh lớp 11 kể trên. Theo thầy Phương, đây là trường hợp hy hữu, tuy nhiên quy chế nhiều năm nay đã nêu rõ thí sinh lớp 11 không được dự thi V-ACT. "Trường hợp các bạn lớp 11 muốn dự thi thì phải có xác nhận từ chính ĐH Quốc gia TP.HCM gửi cho điểm thi", thầy Phương nói.
PGS Phương cho biết thêm, nhà trường đặc biệt chú trọng tới việc tập huấn cho các cán bộ coi thi, nhất là quá trình xử lý những trường hợp bất ngờ phát sinh như thí sinh không mang căn cước công dân hay khai sai thông tin trên giấy báo dự thi, trong đó có yếu tố năm sinh... "Cán bộ coi thi phải đảm bảo sàng lọc đúng đối tượng được dự thi", thầy Phương chia sẻ.
Dù bị mời ra khỏi phòng thi V-ACT trước giờ phát đề khoảng nửa tiếng, nhưng cả N.K lẫn Q.V cùng phụ huynh của hai em đều nán lại ở cổng trường cho tới tận giờ phát đề với hy vọng sẽ được cho phép vào thi lại. Cả hai cho biết, điều tiếc nuối nhất không phải là mất 300.000 đồng lệ phí thi, mà chính là mất đi cơ hội được cọ xát với bài thi đặc biệt quan trọng trên hành trình xét tuyển ĐH của các em vào năm tới.
"Em biết là điểm thi năm nay không bảo lưu cho năm sau nên cũng xác định đi thi để trải nghiệm là chính", V. nói.
Hai nam sinh kể thêm để chuẩn bị cho kỳ thi này, các em đã dành nhiều thời gian luyện đề để làm quen với cấu trúc và các dạng câu hỏi. Riêng V. tự học thêm trước kiến thức của lớp 12 để làm bài tốt hơn chứ không chờ thầy cô giảng dạy.
"Em chỉ không làm được những câu hỏi kiến thức nâng cao của lớp 12 ở môn toán còn các phần khác em làm khá ổn, nhất là ở mấy câu tiếng Anh. Em mong thời gian tới ban tổ chức kỳ thi có thể cho phép lớp 11 thi nữa để các bạn có kinh nghiệm, đến năm 12 thi chính thức sẽ có kết quả tốt hơn", V. bày tỏ.
Cả hai cho biết thêm, mong muốn dự thi V-ACT ngay từ lớp 11 không phải là ý tưởng nhất thời mà một phần do trường cũng khuyến khích. Thực tế, "có rất nhiều bạn lớp 11 muốn thi, nhưng khi thấy không chọn được đúng năm sinh 2009 thì không đăng ký nữa", theo V.
"Chỉ có em với K. là 'cố đấm ăn xôi'", V. chia sẻ.

