Ngày 20/4, TAND tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ kiện tranh chấp đất đai giữa nguyên đơn là vợ chồng bà Hai, 64 tuổi và bị đơn là vợ chồng chị gái ruột, bà Cả, 68 tuổi do có kháng cáo của người em.
Bản án sơ thẩm tuyên hồi tháng 1 xác định, hai chị em sống cạnh nhau tại xã Đông Quan. Vợ chồng bà Hai có mảnh đất gần 70 m2 được cấp sổ đỏ năm 2016. Năm 2017, chị gái xây nhà. Em gái tin tưởng, không mời cán bộ địa chính đo lại. Em rể còn sang xây dựng giúp
Đến năm 2024, khi xây nhà cho con, bà Hai kiểm tra mới phát hiện công trình của chị gái lấn 15,6 m2. Các hạng mục nằm trên phần đất lấn gồm tường dài 5 m, bậc thềm, sân gạch và mái tôn.
Tranh chấp được chính quyền xã hòa giải nhưng không thành. Bà Hai khởi kiện, yêu cầu tháo dỡ phần xây dựng lấn chiếm, trả lại đất.
Phía bị đơn thừa nhận khi xây nhà có sai sót do nhầm mốc giới, vô ý. Thời điểm xây dựng, phía em gái không phản đối.
Do nhà và công trình phụ đã xây kiên cố, bà Cả đề nghị bồi thường toàn bộ phần đất lấn theo giá Hội đồng định giá, hoặc cao hơn, là 15 triệu đồng/m2.
Con trai, con dâu bà Cả – người trực tiếp xây nhà, chấp nhận tháo dỡ bức tường và phần mái tôn phía trên để trả lại đất và không gian, nhưng cho rằng nếu phá dỡ các hạng mục khác sẽ ảnh hưởng đến kết cấu công trình.
Tòa sơ thẩm xác định gia đình bà Cả đã lấn chiếm 15,6 m2 đất của em gái. Phần tường bao 1,1 m2 và mái tôn phía trên nếu tháo dỡ sẽ không ảnh hưởng kết cấu công trình. Bị đơn cũng đồng ý nên HĐXX buộc gia đình bà Cả phải tháo dỡ phần này để trả lại đất.
Với căn nhà hai tầng được xây dựng bằng bê tông cốt thép, mái hiên tầng 1 và công trình kiên cố của tầng 2 đua ra về phía sân chiếu theo phương thẳng đứng xuống chờm ra hết bậc thềm. Bậc thềm, sân gạch, mái tôn là công trình phụ trợ gắn liền có giá trị. Tất cả được xây dựng trên diện tích đất lấn chiếm nhà em gái.
HĐXX nhận định, nếu buộc tháo dỡ các hạng mục này sẽ ảnh hưởng đến kết cấu toàn bộ ngôi nhà, gây thiệt hại tài sản và làm giảm giá trị sử dụng. “Đặc biệt, việc này còn có thể khiến tình chị em khó gắn kết lại”, bản án nêu.
Tòa HĐXX không buộc tháo dỡ mà yêu cầu bồi thường bằng tiền, mức 15 triệu đồng/m2, tổng 217 triệu đồng.
Nguyên đơn: 52 m2 không phù hợp nhu cầu xây nhà nông thôn
Tại phiên tòa hôm nay, cả nguyên đơn, bị đơn đều không có mặt mà ủy quyền cho các con trình bày. Nguyên đơn vẫn kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu của mình, tức buộc nhà chị gái phải dỡ công trình trả lại đất.
Trước khi cho đôi bên hỏi nhau, HĐXX tiếp tục khuyến khích hòa giải, “mỗi người lùi lại một chút” vì xét đến tình cảm gia đình, “chị em trong nhà, lọt sàng xuống nia”. Chủ tọa khuyên nên ngồi lại một lần nữa với nhau để đưa ra con số thỏa đáng, sớm kết thúc tranh chấp để tập trung vào các việc khác quan trọng hơn và hàn gắn tình cảm. “Đừng nghĩ đến thắng thua hơn thiệt, hãy nghĩ đến tình nghĩa”, chủ tọa nói.
Nguyên đơn cho rằng từ đầu luôn mong muốn hòa giải và hiện ở tòa cũng vậy. Họ sẵn sàng nhận tiền thay cho biện pháp tháo dỡ, nhưng với con số thỏa đáng. Theo trình bày, thửa đất sau khi bị lấn chiếm, diện tích còn lại chỉ hơn 52 m2. “Với diện tích 52 m2 thì không phù hợp điều kiện sinh hoạt ở địa phương, không ai ở quê muốn xây nhà để ở, ở trên Hà Nội thì có thể”, luật sư nguyên đơn trình bày.
Theo luật sư, mặt tiền của thửa đất ban đầu là 5 mét, hiện chỉ còn 4 mét. Giá trị của căn nhà bị thiệt hại không chỉ là phần diện tích mà mặt tiền, chiều ngang đất thu hẹp đã giảm toàn bộ giá trị mảnh đất. Do đó, mức bồi thường nên tính theo hướng đó, không chỉ là nhân đơn giá với số m2.
Khi được hỏi về con số thế nào là thỏa đáng, phía người em đề xuất thêm 170-180 triệu đồng so với 217 triệu đồng từ giai đoạn sơ thẩm, tức khoảng 400 triệu đồng.
Bị đơn cho rằng mức này quá cao. Họ dẫn chứng đất chỉ được định giá hơn 9 triệu đồng/m2 nhưng họ đã thiện chí nâng lên 15 triệu đồng ở giai đoạn sơ thẩm. Theo bị đơn, họ chỉ có thể lên một triệu đồng, lên 16 triệu đồng/m2, tức tổng bồi thường 232 triệu đồng.
HĐXX gợi mở rằng số này “có hơi thấp quá không?”, và dành 10 phút tạm nghỉ tại chỗ để đôi bên suy nghĩ.
Bị đơn sau đó nâng con số bồi thường lên 250, rồi 280 triệu đồng. Song đại diện nguyên đơn, sau khi hỏi ý kiến gia đình, đưa ra con số 330 triệu đồng. Nhận thấy không đạt kết quả, HĐXX chấm dứt hòa giải và tiếp tục xét xử.
VKS nêu quan điểm, cho rằng mức 280 triệu đồng đã phù hợp “đạo đức xã hội và tình hình thực tế các bên”. HĐXX chung quan điểm, đánh giá án sơ thẩm đã tuyên hợp lý, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người em. Song tòa chấp nhận sự tự nguyện bồi thường của gia đình chị gái trong giai đoạn phúc thẩm. Theo đó, gia đình bà Cả phải trả cho nhà em gái 280 triệu đồng, đồng thời, bà không phải dỡ bỏ các công trình kiên cố, sân gạch, thềm, mái tôn… trên phần đất lấn chiếm.
Ông Lê Ngọc Huân, người dân khu phố Phú Đa, cho biết giai đoạn 1995 - 1998, UBND xã Hòa Tân Đông, thị xã Đông Hòa, Phú Yên đã chia lô bán đất nhiều khu vực. Người dân mua đất ở thôn Phú Đa, xây nhà ở ổn định từ đó đến nay và đã nộp đủ tiền sử dụng đất cho UBND xã nhưng vẫn chưa được cấp sổ đỏ.
Năm 2013, UBND tỉnh Phú Yên đã ban hành quyết định về việc xử lý tồn tại đối với đất ở đã sử dụng trước ngày 1-7-2004 để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh.
Sau đó UBND xã Hòa Tân Đông đã họp xác nhận khu đất mà ông Huân và nhiều người dân mua được UBND xã quy hoạch khu dân cư.
Người dân nhiều lần kiến nghị đến các cấp, gần nhất vào tháng 7-2025 UBND tỉnh Đắk Lắk (sau sáp nhập) đã chuyển đơn yêu cầu xử lý đến UBND phường Đông Hòa.
Tuy nhiên đến nay UBND phường Đông Hòa vẫn chưa có văn bản trả lời cho người dân.
"Chúng tôi thắc mắc vì sao đến nay vẫn chưa được cấp sổ đỏ, trong khi một số hộ mua đất cùng khu vực, cùng thời điểm đã được cấp. Việc chậm cấp sổ đỏ khiến tài sản không thể thế chấp, chuyển nhượng, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, dù đất đã sử dụng ổn định và không có tranh chấp", ông Huân nói.
Ông Trương Ngọc Thạnh, Phó chủ tịch UBND phường Đông Hòa, cho biết trước thời điểm sáp nhập tỉnh, Thanh tra thị xã Đông Hòa đã kết luận UBND xã Hòa Tân Đông đã hoán đổi, giao đất không đúng thẩm quyền.
Trong số này có trường hợp ông Huân và nhiều hộ dân thuộc khu đất Trường cấp 2 Hoàng Hoa Thám cũ (gồm 20 hộ với 21 lô). Do sai phạm của chính quyền xã trước đây, các hộ dân đến nay chưa được cấp sổ đỏ.
Theo khoản 2 và khoản 6 Điều 140 Luật Đất đai 2024, đất giao trái thẩm quyền nhưng được sử dụng ổn định từ 15-10-1993 đến trước 1-7-2004 vẫn được cấp sổ đỏ nếu UBND cấp xã xác nhận không tranh chấp, phù hợp quy hoạch và người sử dụng đất thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định.
"Sau khi nộp tiền sử dụng đất, người dân chỉ cần hoàn tất các thủ tục theo quy định để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu; quy trình này đã được niêm yết công khai tại Trung tâm Hành chính công", ông Thạnh nói.
Nhưng theo ông Huân và nhiều hộ dân, trước đây đã nộp tiền cho UBND xã Hòa Tân Đông, có biên lai thu tiền. Ngoài ra theo Quyết định số 22/2013 của UBND tỉnh Phú Yên cho phép xử lý các trường hợp đất ở đã thu tiền sử dụng đất trước ngày 1-7-2004 theo hướng cấp giấy chứng nhận mà không thu thêm tiền sử dụng đất.
"Như nhà tôi khoảng hơn 200m², nếu thu thêm tiền giá trị sử dụng đất thì phải đóng hơn 500 triệu đồng mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không phù hợp" - ông Huân nói.
Theo biên bản kết luận của Thanh tra thị xã Đông Hòa ngày 27-6-2025, việc hoán đổi đất và giao đất không đúng thẩm quyền của UBND xã Hòa Tân Đông trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2004 cho 90 hộ dân/107 lô đất để xây dựng nhà ở, có thu tiền sử dụng đất của các hộ dân là không đúng quy định pháp luật về đất đai.
Trong số này có 35 lô đất công ích, 2 lô đất nghĩa địa, 19 lô diện tích tối thiểu 45m² không phù hợp quy hoạch đất chợ, 18 lô quy hoạch đất giao thông, còn lại 30 trường hợp là đất trường học, sân kho, đất chợ; đã có 3 trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đoàn thanh tra nhiều lần yêu cầu UBND xã Hòa Tân Đông cung cấp hồ sơ, chủ trương giao đất và căn cứ thu tiền sử dụng đất nhưng xã không cung cấp được. Kết quả cho thấy xã đã tự ý giao đất, thu tiền bằng nhiều phiếu thu với nội dung khác nhau, chưa có nghị quyết của Đảng ủy, HĐND xã và cũng chưa được cấp trên chấp thuận..
Ngoài ra, việc chậm tham mưu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân thuộc trách nhiệm cán bộ UBND xã Hòa Tân Đông, do địa phương chưa kịp thời xin ý kiến cấp trên để hoàn thiện quy hoạch khép kín khu dân cư làm cơ sở pháp lý cấp giấy chứng nhận.
Ông Châu cùng con trai Vũ Minh Tú và 2 nhân viên kế toán của Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu hôm 2/4 bị Cơ quan Cảnh sát để điều tra Công an Hà Nội khởi tố về tội Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.
Tại cơ quan điều tra, ông Châu khai trong quá trình hoạt động kinh doanh đã đồng ý và chỉ đạo vợ con dùng tài khoản cá nhân để nhận tiền bán hàng của Công ty Bảo Tín Minh Châu. Ông cho sử dụng hai hệ thống phần mềm để quản lý kinh doanh thực tế và báo cáo thuế.
Trong giai đoạn 2020-2023, doanh thu thực tế của Bảo Tín Minh Châu khoảng 13.700 tỷ đồng nên chênh lệch so với báo cáo thuế khoảng 9.700 tỷ đồng.
Ông nói đến khoảng tháng 6/2024 đã chỉ đạo xóa bỏ những dữ liệu cũ trên phần mềm Hivi Gold, Hivi Gold Pro để che giấu doanh thu.
"Tôi thấy đây là việc làm sai trái nên hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tôi xin được bồi thường, khắc phục mọi hậu quả gây ra và rất mong nhận được sự khoan hồng của Nhà nước", ông Châu trình bày.
Sau khi ông Châu bị bắt, Bảo Tín Minh Châu vẫn hoạt động bình thường "để đảm bảo quyền lợi của người dân". Doanh nghiệp cam kết toàn bộ sản phẩm vàng bạc đá quý cung cấp ra thị trường đều đáp ứng các tiêu chuẩn về tuổi vàng, khối lượng và chất lượng.
Theo công an, việc mua bán vàng của Bảo Tín Minh Châu với khách hàng theo giấy hẹn là "giao dịch dân sự". Trường hợp, doanh nghiệp không trả được hàng và người mua có đơn tố giác, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ.
Bảo Tín Minh Châu là một trong những thương hiệu vàng lớn tại Hà Nội, được ông Vũ Minh Châu thành lập năm 1995, hiện nắm hơn 97% cổ phần. Thương hiệu có 4 cơ sở kinh doanh ở Hà Nội và hơn 200 đại lý trên toàn quốc.
Giá vàng miến ở Bảo Tín Minh Châu mấy hôm nay gần như không biến động. Hôm nay đang giao dịch ở mức 171,1 triệu đồng bán ra và 168,1 mua vào.
Thông tư 45/2023/TT-BCA ngày 29-9-2023 quy định về cung cấp thông tin của lực lượng Công an nhân dân trên môi trường mạng, việc cung cấp thông tin của cơ quan công an được thực hiện qua các kênh như:
Điều 4. Kênh cung cấp thông tin của Bộ Công an trên môi trường mạng
1. Cổng thông tin điện tử Bộ Công an.
2. Căn cứ điều kiện cụ thể, bộ trưởng Bộ Công an quyết định triển khai các kênh cung cấp thông tin sau đây trên môi trường mạng cho tổ chức, cá nhân:
a) Cổng dữ liệu cấp bộ.
b) Mạng xã hội.
c) Thư điện tử (email).
d) Ứng dụng trên thiết bị di động.
đ) Tổng đài điện thoại.
3. Các kênh cung cấp thông tin của Bộ Công an trên môi trường mạng phải bảo đảm cung cấp thông tin đồng bộ, thống nhất với thông tin trên cổng thông tin điện tử Bộ Công an.
4. Kênh cung cấp thông tin của Bộ Công an trên môi trường mạng phải đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 42/2022/NĐ-CP.
Điều 5. Thông tin của Bộ Công an cung cấp trên môi trường mạng
1. Thông tin của Bộ Công an cung cấp trên môi trường mạng bao gồm những nội dung quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 42/2022/NĐ-CP và các nội dung sau:
a) Thông tin chỉ đạo, điều hành, hoạt động của lãnh đạo Bộ Công an.
b) Tình hình, kết quả các mặt công tác công an. Nội dung phát ngôn và thông tin cung cấp cho báo chí của người phát ngôn Bộ Công an, người được ủy quyền phát ngôn của Bộ Công an về các vấn đề liên quan đến công tác công an mà dư luận xã hội quan tâm.
c) Thông tin về các vụ án, vụ việc đang được cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ Công an, công an cấp tỉnh điều tra, xác minh mà xét thấy việc cung cấp thông tin trên môi trường mạng là cần thiết cho quá trình điều tra, xác minh và công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự.
d) Nội dung Bộ Công an trả lời kiến nghị của cử tri.
đ) Lịch tiếp công dân của lãnh đạo Bộ Công an.
e) Thông tin đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin sai lệch về Đảng, nhà nước, ngành công an và công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật.
g) Điểm tin Interpol.
h) Thông tin về đối tượng truy nã, truy tìm.
i) Thông tin về các tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố.
k) Các thông tin chuyên đề: cảnh báo tội phạm; hướng dẫn tố giác tội phạm; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng pháp luật; các điển hình tiên tiến, hình ảnh đẹp, gương người tốt, việc tốt, gương dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ công an và các chuyên đề tuyên truyền khác phù hợp thực tiễn công tác.
l) Thông tin về các dịch vụ công trực tuyến Bộ Công an đang triển khai thực hiện.
m) Các thông tin khác do lãnh đạo Bộ Công an hoặc chánh Văn phòng Bộ Công an quyết định.
2. Thông tin của Bộ Công an cung cấp trên môi trường mạng phải được cập nhật kịp thời trong trường hợp có sự thay đổi.
Như vậy, ngoài việc theo dõi trên báo chí, anh/chị có thể theo dõi trên các kênh thông tin của Bộ Công an trên môi trường mạng như quy định đã dẫn trên.